intTypePromotion=1

Bài giảng Phân tích và Đầu tư chứng khoán - Bài 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán

Chia sẻ: Kim Cương KC | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
19
lượt xem
5
download

Bài giảng Phân tích và Đầu tư chứng khoán - Bài 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Bài giảng Phân tích và Đầu tư chứng khoán - Bài 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán" được biên soạn với các kiến thức đặc điểm và các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán; cấu trúc của thị trường chứng khoán; chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán; các khía cạnh tiêu cực trên thị trường chứng khoán...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Phân tích và Đầu tư chứng khoán - Bài 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán

  1. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Nội dung  Khái niệm, đặc điểm và các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán  Cấu trúc của thị trường chứng khoán  Thị trường tập trung - Sở giao dịch và Thị trường phi tập trung - OTC  Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp  Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán  Các khía cạnh tiêu cực trên thị trường chứng khoán Thời lượng học Mục tiêu  8 tiết  Hiểu được khái niệm, đặc điểm của thị trường chứng khoán và mỗi thị trường bộ phận cấu thành.  Nắm được các chức năng và vai trò của thị trường.  Nhận dạng được các khía cạnh tiêu cực, các hành vi vi phạm pháp luật thị trường chứng khoán. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 1
  2. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP Tình huống Ông Tiến là kế toán trưởng Công ty cổ phần than Bình Minh, ông vừa nhận được Báo cáo tài chính công ty do nhân viên gửi lên. Năm nay công ty ông làm ăn rất tốt do giá than tăng cao và công ty cũng ký được nhiều hợp đồng lớn xuất khẩu than lớn ra nước ngoài. Ông ước tính lợi nhuận năm nay tăng gấp 10 lần năm ngoái. Thông tin này mà được công bố ra ngoài thì cổ phiếu Bình Minh sẽ tăng giá vù vù. Vì thế ông quyết định chưa trình báo cáo tài chính cho Ban Giám đốc ngay mà lập tức gọi điện cho bà Hồng là vợ ông bảo mua ngay cổ phiếu Bình Minh (BMC). Nhận được điện từ chồng, bà Hồng vội vã ra công ty chứng khoán đặt ngay lệnh mua cổ phiếu BMC. Không những vậy bà Hồng còn thông tin cho một người bạn thân cùng mua cổ phiếu Bình Minh. Câu hỏi Theo anh (chị), hành vi của vợ chồng ông Tiến, bà Hồng là đúng hay sai? Giải thích? Nếu sai thì hành vi này bị xử lý như thế nào theo pháp luật TTCK Việt Nam? 2 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  3. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán 1.1. Khái niệm, đặc điểm và các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm của thị trường chứng khoán “Thị trường” là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa. Nếu hiểu “thị trường” một cách đơn giản là nơi mua bán hàng hoá thì không sai, nhưng không đầy đủ và không thấy được những loại thị trường không có “chợ” mua bán tập trung. Hơn nữa, nếu hiểu như vậy thì thật khó giải thích về những thị trường “vô hình” với những loại hàng hoá “vô hình” đã và đang ngày càng phát triển như thị trường vốn, thị trường dịch vụ,... Xét về bản chất, thị trường là mối quan hệ kinh tế tổng hợp của 5 thành tố: hàng hoá, cung cầu, giá cả, phương thức giao dịch và thanh toán. Như vậy, nơi nào, lúc nào có đủ 5 thành tố thì nơi đó, khi đó diễn ra hoạt động của thị trường. Có nhiều loại thị trường khác nhau như: thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ, thị trường chứng khoán... Thị trường chứng khoán (TTCK) là gì? Định nghĩa Thị trường chứng khoán là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ cấp. Như vậy, TTCK là thị trường thể hiện quan hệ giữa cung - cầu vốn và là nơi chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư. Giá chứng khoán chứa đựng các thông tin về chi phí vốn, hay còn gọi là giá của vốn đầu tư. TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình phát hành, mua bán các chứng khoán, đó là các chứng khoán nợ và chứng khoán vốn (còn gọi là công cụ sở hữu). TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa. Thị trường tài chính bao gồm nhiều bộ phận khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại. Theo thời gian chu chuyển vốn, thị trường tài chính bao gồm:  Thị trường tiền tệ: là thị trường diễn ra các giao dịch vốn ngắn hạn như thị trường ngoại hối, thị trường tín dụng ngắn hạn, thị trường chứng khoán ngắn hạn.  Thị trường vốn: là thị trường diễn ra các giao dịch vốn dài hạn như thị trường cho thuê tài chính, thị trường tín dụng trung và dài hạn, thị trường chứng khoán trung và dài hạn. Chứng khoán bao gồm nhiều loại khác nhau. Theo thời gian lưu hành, có chứng khoán ngắn hạn và chứng khoán dài hạn. Các chứng khoán ngắn hạn thường được mua bán trên thị trường tiền tệ. Các chứng khoán dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu thường được phát hành, mua bán trên TTCK. Vì vậy trên thực tế, đôi khi người ta đồng nhất giữa TTCK với thị trường vốn. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 3
  4. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Đặc điểm của TTCK  Thứ nhất, hàng hoá của TTCK là các loại chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Chứng khoán có những đặc điểm khác biệt so với các hàng hóa thông thường. Chúng không có những tính năng, tác dụng riêng như các hàng hóa khác, nó là những công cụ chuyển tải giá trị. Vì vậy, trong phát hành cũng như trong đầu tư mua bán chứng khoán người ta không cần quan tâm đến hình thức của chúng. Điều quan trọng cần nghiên cứu, phân tích, đó là: chứng khoán đó thật hay giả, khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm ẩn thế nào, khả năng thanh khoản ra sao.  Thứ hai, việc chuyển giao vốn từ người cung sang người cầu trên TTCK sơ cấp được thực hiện chủ yếu bởi cơ chế tài chính trực tiếp. Tài chính gián tiếp Người trung gian 1. Ngân hàng 2. Tổ chức KD tiền tệ Vốn Vốn 3. Công ty môi giới CK 4. Nhà môi giới độc lập 5. Tổ chức, cá nhân nước Vốn Người cung vốn Người cầu vốn 1. Hộ gia đình và cá nhân 1. Các tổ chức kinh doanh Thị 2. Các tổ chức CTXH 2. Nhà nước Vốn trường Vốn 3. Các tổ chức kinh doanh 3. Hộ gia đình và cá nhân tài 4. Nhà nước 4. Các tổ chức CTXH chính 5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài 5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài Tài chính trực tiếp Hình 1.1: Quá trình chu chuyển vốn trên thị trường tài chính Trên thị trường tài chính, các nguồn vốn có thể được chuyển từ người cung sang người cầu bằng một trong hai hình thức: gián tiếp hoặc trực tiếp. o Trong kênh tài chính gián tiếp, vốn được luân chuyển từ người cung vốn qua các trung gian tài chính (như ngân hàng thương mại, công ty tài chính…) rồi mới chuyển tới người cầu vốn. Trung gian tài chính đứng giữa người cung và người cầu vốn, tiến hành tập trung các nguồn tài chính từ những người cung vốn và trả cho họ một khoản tiền lãi nhất định; sau đó sử dụng các nguồn lực tài chính huy động được để cho những người cầu vốn vay và thu từ họ một khoản tiền lãi nhất định. Trung gian tài chính được hưởng một khoản thu nhập từ phần chênh lệch giữa thu từ cung ứng nguồn lực tài chính và chi cho huy động các nguồn lực tài chính. o Trong kênh tài chính trực tiếp, vốn hay các nguồn tài chính được chuyển trực tiếp từ người cung vốn sang người cầu vốn. Trong quá trình vận động này, 4 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  5. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán nguồn tài chính không dừng lại ở bất kỳ một tổ chức tài chính trung gian nào. Người có nhu cầu sử dụng vốn phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn. Tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp, nguồn vốn có thể chuyển tới người có nhu cầu theo 2 hình thức: tài trợ trực tiếp qua trung gian và tài trợ trực tiếp không qua trung gian.  Tài trợ trực tiếp qua trung gian: là một hình thức luân chuyển các nguồn tài chính, trong đó ngoài người cung vốn và người cầu vốn còn xuất hiện một trung gian đứng ra tổ chức, thu xếp việc thực hiện giao dịch tài chính giữa người cung và người cầu. Ở hình thức này, nguồn tài chính không dừng lại ở trung gian (như trong tài trợ gián tiếp) song người cầu vốn (tổ chức phát hành) phải trả một khoản phí nhất định cho người trung gian ngoài chi phí sử dụng vốn, ví dụ: hoa hồng đại lý, phí bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đây là loại hình luân chuyển các nguồn tài chính phát sinh khá phổ biến trên thị trường.  Tài trợ trực tiếp không qua trung gian: là hình thức luân chuyển trực tiếp các nguồn tài chính giữa người cung vốn và người cầu vốn mà không cần qua bất kỳ một trung gian nào. Người cung vốn và người cầu vốn trực tiếp thỏa thuận các điều kiện giao dịch. Trong hình thức này, người cầu vốn chỉ phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn để có quyền sử dụng vốn trong những khoảng thời gian nhất định. Hình thức này phát sinh phổ biến trong phát hành chứng khoán nội bộ, nhà đầu tư mua chứng khoán trực tiếp từ tổ chức phát hành. Thực tế phát triển TTCK cho thấy, hầu hết các hoạt động phát hành chứng khoán để huy động vốn của các tổ chức phát hành được thực hiện thông qua các hình thức tài trợ trực tiếp qua trung gian hoặc không qua trung gian.  Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới. TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung là bộ phận quan trọng. Do hàng hóa của thị trường này là các công cụ chuyển tải giá trị, nên bằng những giác quan thông thường nhà đầu tư khó có khả năng phân biệt được chứng khoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lý cũng như chất lượng của chúng. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhà đầu tư, đảm bảo TTCK hoạt động đúng pháp luật, công bằng, công khai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quy định hoạt động mua bán chứng khoán trên các thị trường có tổ chức phải thông qua các trung gian, đó là những nhà môi giới chứng khoán đã được cấp phép là thành viên giao dịch của thị trường đó. Các nhà đầu tư muốn mua hoặc bán chứng khoán không thể đến thị trường đàm phán để mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhà môi giới chứng khoán.  Thứ tư, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. TTCK bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, trong đó TTCK tập trung là bộ phận trung tâm. Ở thị trường này, mọi người đều được tự do mua và bán theo nguyên tắc hoạt động của thị trường, không có sự áp đặt giá trên TTCK. Giá chứng khoán được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 5
  6. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán  Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục. Sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp. TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán của họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn. Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của TTCK. Những đặc điểm này là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa TTCK với các thị trường khác; đồng thời đó cũng là những điểm nhấn tạo ra sự hấp dẫn của TTCK đối với các tổ chức phát hành, nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán. Đặc biệt đối với các tổ chức phát hành, TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn rất thuận lợi vì với đặc điểm “thị trường chứng khoán là thị trường liên tục” đã tạo điều kiện cho các nguồn vốn ngắn hạn của nhà đầu tư trở thành nguồn vốn dài hạn của tổ chức phát hành. 1.1.2. Các chủ thể tham gia TTCK Chủ thể tham gia TTCK thường bao gồm: tổ chức phát hành, nhà đầu tư, tổ chức kinh doanh chứng khoán, tổ chức quản lý TTCK và các tổ chức phụ trợ khác.  Tổ chức phát hành chứng khoán Tổ chức phát hành chứng khoán là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Tổ chức phát hành là người cung cấp hàng hóa cho thị trường và có trách nhiệm công bố các thông tin về chứng khoán. Các tổ chức được phát hành chứng khoán gồm: o Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương: phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa phương. o Doanh nghiệp (bao gồm cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng và phi tài chính): phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp. Theo luật lệ của hầu hết các quốc gia, cổ phiếu chỉ do một chủ thể duy nhất phát hành, đó là công ty cổ phần; còn trái phiếu có thể do nhiều loại hình doanh nghiệp phát hành như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước. o Công ty quản lý quỹ đầu tư: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.  Nhà đầu tư chứng khoán Nhà đầu tư chứng khoán là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thu lợi nhuận. Có thể chia nhà đầu tư thành nhiều nhóm như: nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Tùy theo chính sách quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài của mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ mà số lượng các ngành và tỷ lệ tham gia đầu tư cổ phiếu, trái phiếu của các tổ chức và cá nhân nước ngoài vào các doanh nghiệp thuộc các ngành có thể khác nhau. o Nhà đầu tư cá nhân Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK. Cũng giống như những hoạt động đầu tư khác, mục đích của đầu tư chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư có khả năng tài chính, tâm lý đầu tư và điều kiện nhân thân khác nhau, do vậy, họ sẽ có thái độ khác nhau đối với rủi ro. 6 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  7. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán  Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái thận trọng thường không thích rủi ro và rất bảo thủ trong các phương thức đầu tư. Họ tìm mọi cách để giảm rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận từ những chứng khoán có rủi ro thấp, đầu tư dài hạn vào một số chứng khoán nhất định.  Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái mạo hiểm thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được. Họ thường đầu tư vào các chứng khoán có tỷ lệ rủi ro cao nhưng có lợi nhuận kỳ vọng lớn, thường đầu tư ngắn hạn mà không đầu tư lâu dài vào bất cứ một loại chứng khoán nào. o Nhà đầu tư tổ chức (còn gọi nhà đầu tư chuyên nghiệp) Nhà đầu tư tổ chức là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn. Các tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Nhìn chung, có một số nhà đầu tư chuyên nghiệp sau:  Công ty đầu tư và quỹ tín thác đầu tư: được thành lập nhằm thu hút vốn của nhiều nhà đầu tư cá nhân để đầu tư trên TTCK. Ưu điểm nổi bật của hình thức đầu tư qua các quỹ tín thác là có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.  Công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm quản lý phí bảo hiểm của những người tham gia bảo hiểm và sử dụng số tiền đó để đầu tư dưới các hình thức như: gửi ngân hàng, đầu tư vào chứng khoán... Để đảm bảo khả năng thanh toán bảo hiểm của công ty bảo hiểm, pháp luật các nước thường có quy định khá chặt chẽ về tỷ trọng các khoản đầu tư.  Quỹ hưu trí và quỹ bảo hiểm xã hội khác. Các quỹ này thu phí đóng góp định kỳ của các cá nhân để sau này trả cho họ lương hưu hay các khoản trợ cấp khác. Phần phí thu được chưa phải chi trả có thể được nhà quản lý quỹ đầu tư vào các chứng khoán có độ an toàn cao như trái phiếu chính phủ.  Các công ty tài chính, các NHTM… cũng có thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua bán chứng khoán cho chính mình.  Người kinh doanh chứng khoán Tham gia kinh doanh chứng khoán bao gồm các tổ chức như: công ty chứng khoán (CTCK), công ty quản lý quỹ đầu tư (QLQĐT) và cá nhân hành nghề độc lập. o Công ty chứng khoán CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tùy theo điều kiện về năng lực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực, một CTCK có thể đảm nhận tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán hoặc chỉ đảm nhận một số nghiệp vụ nhất định theo giấy phép kinh doanh. Trên TTCK tập trung, nhà đầu tư không được trực tiếp mua bán mà phải đặt lệnh qua thành viên giao dịch của thị trường. Đó là những nhà môi giới đã được cấp phép thành viên giao dịch. Đây là một trong những điều kiện cơ bản FIN301_Bai 1_v1.0011101210 7
  8. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy, công bằng, có trật tự và hiệu quả. Vì vậy, các TTCK đều kiểm soát nghiêm ngặt việc đăng ký hành nghề môi giới, xét chọn vào thành viên TTCK, giám sát các hoạt động của nhà môi giới. Các pháp nhân và cá nhân đều có thể tham gia vào TTCK nếu hội đủ điều kiện và trải qua một cuộc sát hạch đạt những yêu cầu về năng lực chuyên môn. Số lượng thành viên được tuyển chọn vào TTCK nhiều hay ít phần lớn tuỳ thuộc vào quy mô của thị trường. Thông thường khi mới thành lập thị trường, do khối lượng chứng khoán niêm yết ít nên số thành viên thường cũng ít hơn. Về sau số thành viên sẽ gia tăng tuỳ theo số lượng, chủng loại chứng khoán niêm yết, khối lượng và giá trị chứng khoán giao dịch tăng lên. Nguyên tắc ấn định số thành viên cần đảm bảo phù hợp theo khối lượng chứng khoán, tránh quá ít dễ làm suy yếu tính cạnh tranh, khiến cho thị trường kém sôi động, nhưng cũng tránh quá nhiều gây rối loạn thị trường. TTCK Đài Loan, thời kỳ đầu - tháng 6/1988 chỉ có 28 công ty, đến tháng 9/1990 có 297 công ty, khiến cho thị trường nhân lực thiếu hụt trầm trọng và thời gian sau đó cũng đã phải giải thể, sáp nhập hàng loạt. TTCK Trung Quốc, có thời kỳ số lượng CTCK lên đến 2000, đến thời điểm sụt giảm còn 70 công ty, và hiện nay là 107 công ty. Bảng 1.1: Số lượng các CTCK, công ty QLQ ở một số nước Châu Á Quốc gia Số lượng Số lượng Mức vốn hóa thị Giao dịch bình CTCK Công ty QLQ trường (tỷ $) quân ngày (tỷ $) Trung Quốc 107 58 1.100 12,8 Singapore 71 437 1,27 Malaysia 37 79 288 0,8 Thái Lan 41 20 158 0,5 Việt Nam 91 34 25 0,2 Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước Trong suốt thời gian dài trước đây, hầu hết các nước đều chỉ cho phép người trong nước mới được hành nghề môi giới tại TTCK của họ. Những năm gần đây, với trào lưu quốc tế hoá TTCK, một số thị trường lớn mới mở rộng đón nhận những người nước ngoài. Đối với các TTCK mới thành lập, các thành viên nước ngoài chỉ được tham gia ở những mức độ hạn chế nhất định như tham gia hùn vốn hoặc liên doanh với các nhà môi giới trong nước mà hầu như không được hoạt động một cách độc lập. o Công ty quản lý quỹ đầu tư Công ty QLQ là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Công ty QLQ là tổ chức thành lập và quản lý quỹ tín thác bằng cách: (1) đứng ra xin phép thành lập quỹ, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng để tạo vốn cho quỹ; (2) lựa chọn và thực hiện đầu tư vốn của quỹ vào chứng khoán hoặc tài sản khác phù hợp với điều lệ của quỹ; 8 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  9. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán (3) xác định lợi nhuận của quỹ và tư vấn cho người lưu giữ tài sản của quỹ để phân phối lợi nhuận. Việc thành lập, hoạt động của quỹ được công ty QLQ thực hiện theo Luật tín thác đầu tư. Theo luật này, một hợp đồng tín thác được ký kết bởi tất cả các bên tham gia vào quỹ: công ty quản lý quỹ, tổ chức giám sát bảo quản (thường là ngân hàng giám sát hoặc ngân hàng tín thác) và những người đầu tư.  Người quản lý và giám sát thị trường Tùy theo chính sách phát triển thị trường và thực tế phát triển TTCK của mỗi quốc gia mà việc quản lý và giám sát TTCK được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Thông thường tham gia quản lý giám sát TTCK bao gồm: Nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng như Ủy ban chứng khoán nhà nước/ UBCKNN, Ngân hàng nhà nước/NHNN), các tổ chức tự quản (Sở giao dịch, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán). o Cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Sự quản lý của nhà nước đối với TTCK là nhân tố rất quan trọng để đảm bảo cho thị trường hoạt động trật tự, công bằng, khách quan, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mô hình quản lý nhà nước đối với TTCK ở mỗi nước đều có những điểm khác nhau. Nhìn nhận khái quát có thể thấy có hai loại mô hình về cơ quan quản lý nhà nước đối với TTCK:  Giao nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với TTCK cho một bộ của Chính phủ, thường là Bộ Tài chính (Nhật Bản, Hàn Quốc),  Thành lập cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ: Ủy ban chứng khoán (Mĩ). Bên cạnh Bộ Tài chính hoặc Ủy ban chứng khoán, một số bộ ngành khác cũng có chức năng tham gia quản lý TTCK ở một lĩnh vực thuộc thẩm quyền. Ví dụ: Ngân hàng Trung ương quản lý các ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện các hoạt động kinh doanh có liên quan đến chứng khoán như hoạt động thanh toán bù trừ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm xử lý các hành vi gian lận trên TTCK. o Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là nơi giao dịch các chứng khoán đã được niêm yết. Nhiệm vụ của SGDCK là tổ chức vận hành thị trường thông qua các bộ phận chức năng như: quản lý niêm yết, quản lý giao dịch, quản lý công bố thông tin, thanh tra giám sát… trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước và các quy định của Sở. SGDCK ở nhiều nước là tổ chức tự quản bao gồm các công ty chứng khoán thành viên, trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán. Khi phát hiện ra các hành vi vi phạm quy chế thị trường, SGDCK tiến hành xử lý, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp. Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của ngành chứng khoán, Sở có trách nhiệm báo cáo lên Ủy ban chứng khoán để giải quyết. Hoạt động điều hành và giám sát của SGDCK phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 9
  10. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán o Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán (KDCK) Hiệp hội các nhà KDCK là tổ chức của các CTCK và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung. Hiệp hội các nhà KDCK thường là tổ chức tự điều hành, tham gia quản lý giám sát thị trường theo một số nội dung chủ yếu sau:  Ban hành các quy định đối với thành viên và có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các quy định của các thành viên Hiệp hội.  Thu nhận các khiếu nại của khách hàng đối với các CTCK thành viên. Xử lý các vi phạm của thành viên theo quy chế của Hiệp hội.  Đề xuất các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước về các biện pháp phát triển thị trường.  Các tổ chức phụ trợ khác Để đảm bảo cho TTCK có thể vận hành một cách bình thường, bên cạnh các chủ thể nêu trên cần có các tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán như: tổ chức lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ, tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm, tổ chức tài trợ chứng khoán, tổ chức kiểm toán, tổ chức công nghệ thông tin TTCK… o Tổ chức lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ Tại hầu hết các TTCK trên thế giới, để nâng cao khả năng quản lý rủi ro trong các giao dịch mua bán chứng khoán và đảm bảo sự vận hành trơn tru của thị trường, chứng khoán thuộc sở hữu của các nhà đầu tư phải được lưu ký tại một trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK), thông qua các thành viên lưu ký nước sở tại, trước khi những chứng khoán này được giao dịch trên thị trường. Tùy theo thực tế phát triển của mỗi TTCK mà hoạt động lưu ký có thể thực hiện theo cơ chế phân tán, hoặc tập trung. Tổ chức lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ là tổ chức nhận lưu giữ, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng và thay mặt khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán (quyền nhận cổ tức, ghi chép theo dõi những thay đổi về tình hình đăng ký, lưu ký chứng khoán, quyền tham gia đại hội cổ đông...) và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ các giao dịch mua bán chứng khoán. Thông thường, thành viên lưu ký chủ yếu là các CTCK, NHTM được cấp phép hoạt động. Ngoài ra, tại thị trường của một số quốc gia, các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và một số tổ chức đầu tư lớn cũng có thể được chấp nhận làm thành viên lưu ký. Khách hàng không phải là thành viên của trung tâm lưu ký sẽ phải ký gửi và mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các thành viên lưu ký. Khi muốn trở thành thành viên lưu ký, tổ chức có nhu cầu là thành viên phải thoả mãn một số điều kiện nhất định như: lĩnh vực kinh doanh mà tổ chức đó tiến hành, khả năng tài chính... Sau khi được cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực chứng khoán chấp thuận và cấp phép hoạt động lưu ký, mọi hoạt động cung cấp các dịch vụ về lưu ký chứng khoán của thành viên lưu ký phải tuân thủ những quy định cụ thể của từng thị trường. 10 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  11. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Ở Việt Nam, trước năm 2006, các chức năng đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán do Trung tâm giao dịch chứng khoán TPHCM (nay là SGDCK TP.HCM) và Hà Nội thực hiện độc lập. Từ năm 2006, theo Quyết định ngày 27/7/2005 của Thủ tướng chính phủ, TTLKCK được thành lập với mục đích thống nhất các hoạt động lưu ký, thanh toán và đăng ký chứng khoán của toàn TTCK vào một đầu mối duy nhất đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình hoàn thiện cấu trúc của TTCK Việt Nam. o Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là tổ chức chuyên thực hiện việc đánh giá về tình hình hiện tại và triển vọng hoạt động của các doanh nghiệp dưới dạng các hệ số tín nhiệm. Ở các nước có TTCK phát triển, tổ chức xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò cực kỳ quan trọng, vì tổ chức này vừa có vai trò thúc đẩy hoạt động thị trường, vừa giúp nhà đầu tư đánh giá, xếp hạng chứng khoán làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư, bảo vệ nhà đầu tư tránh rủi ro. Đánh giá và xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng với cả chính doanh nghiệp phát hành chứng khoán, bởi vì nó là cơ sở đánh giá khả năng rủi ro vỡ nợ, xác định chi phí sử dụng vốn (lãi suất trái phiếu) và khả năng phân phối, tiêu thụ chứng khoán... Một số tổ chức xếp hạng tín nhiệm nổi tiếng trên thế giới không thể không nhắc đến Mood và S&P. Việc sắp xếp thứ hạng của tổ chức phát hành dựa trên cơ sở một số yếu tố như các tỷ số tài chính (hệ số thanh toán, cơ cấu vốn...), vật thế chấp, thời gian đáo hạn của trái phiếu, tính ổn định của doanh thu và thu nhập, các hoạt động kinh doanh, chính sách tài chính, môi trường kinh doanh... Bảng 1.2: Bảng xếp hạng trái phiếu của Mood và S&P Xếp hạng Xếp hạng Mô tả chất lượng tổ chức phát hành CK của MOOD của S&P Aaa AAA Chất lượng cao nhất (rủi ro vỡ nợ thấp nhất), có khả năng để trả gốc và lãi ở mức độ cao. Aa AA Chất lượng cao, có khả năng trả nợ gốc và lãi A A Cấp trên trung bình, có khả năng trả nợ gốc và lãi Baa BBB Cấp trung bình Ba BB Cấp dưới trung bình B B Đầu cơ Caa CCC-CC Tồi, nhiều rủi ro vỡ nợ Ca C Đầu cơ cao, khả năng thanh toán nợ thấp C D Cấp thấp nhất, việc thanh toán nợ gốc và lãi luôn bị khất lại Với ý nghĩa quan trọng nêu trên, sự ra đời và hoạt động của các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm là điều kiện đảm bảo cho sự hoạt động hiệu quả của TTCK. Tuy nhiên, tùy theo mức độ phát triển của mỗi thị trường mà cần xác định số lượng và quy mô hoạt động của các tổ chức này một cách thích hợp. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 11
  12. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán o Tổ chức tài trợ chứng khoán Tổ chức tài trợ chứng khoán là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng và tăng trưởng TTCK thông qua các hoạt động cho vay bảo lãnh, cho vay để mua cổ phiếu, cho vay chứng khoán cho các giao dịch chênh lệch… Các tổ chức tài trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, có nước không có loại hình tổ chức này, nhưng mô hình tổ chức phổ biến nhất là sự kết hợp giữa các CTCK và NHTM trong cung cấp dịch vụ tín dụng chứng khoán. Ở Việt Nam, TTCK tập trung đầu tiên - Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là SGDCK TPHCM) đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000. Tiếp đó là Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (nay là SGDCK HN) được thành lập và vận hành từ tháng 3/2005. Để thu hẹp thị trường tự do, tháng 6/2009 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đã đưa vào vận hành hệ thống giao dịch UpCom - tổ chức theo định hướng mô hình thị trường OTC, nhằm tạo ra một thị trường giao dịch cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết. Qua hơn 9 năm hoạt động, số lượng chủ thể tham gia thị trường, số lượng chứng khoán niêm yết và mức vốn hóa của thị trường không ngừng tăng lên (xem số liệu bảng 1.3). Bảng 1.3: Các chủ thể tham gia thị trường và hàng hóa niêm yết trên TTCK Việt Nam 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 9/2009 Công ty CK 7 8 9 13 13 15 55 78 102 105 Cty QLQ 2 5 18 25 46 47 Số TK nhà 2.997 8.774 13.607 16.442 21.409 31.316 106.393 311.713 538.498 676.568 đầu tư Công ty 10 13 28 38 kiểm toán CK niêm yết 5 11 20 22 26 41 654 796 937 964 - CP 5 11 20 22 26 41 193 250 338 380 - CCQ 2 3 4 4 - TP 459 543 595 571 Vốn hóa 0,28 0,34 0,48 0,39 0,63 1,11 22,7 43,23 18,08 48,73 TT/GDP(%) Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước 1.2. Phân loại thị trường chứng khoán 1.2.1. Theo đối tượng giao dịch  Thị trường cổ phiếu (Stock Market) Thị trường cổ phiếu, còn gọi là TTCK vốn, là thị trường mà đối tượng giao dịch là các loại cổ phiếu của các công ty cổ phần. Thị trường cổ phiếu được coi là bộ phận 12 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  13. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán cơ bản và giữ vị trí quan trọng nhất của hệ thống TTCK. Nói đến TTCK, người ta thường đồng nghĩa với thị trường cổ phiếu. Thị trường cổ phiếu có một số đặc điểm sau: o Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu (còn gọi là các chứng khoán vốn) như: cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông), cổ phiếu ưu đãi. o Người sở hữu cổ phiếu giữ vai trò là cổ đông, là đồng sở hữu một phần công ty cổ phần – tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó. o Do cổ phiếu không có thời hạn nên để thu hồi vốn đầu tư, nhà đầu tư không thể yêu cầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường cổ phiếu.  Thị trường trái phiếu (Bond Market) Thị trường trái phiếu, còn gọi là thị trường nợ, là nơi giao dịch các loại trái phiếu. Thị trường trái phiếu có một số đặc điểm sau: o Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại trái phiếu (còn gọi là các chứng khoán nợ) như: trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương, trái phiếu công ty, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng… o Người sở hữu trái phiếu giữ vai trò là chủ nợ của tổ chức phát hành. o Do trái phiếu có kỳ hạn nên việc thu hồi vốn đầu tư có thể thực hiện trực tiếp tại tổ chức phát hành (nếu trái phiếu đã đến ngày đáo hạn). Trường hợp ngược lại, nhà đầu tư phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường trái phiếu.  Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư (Fund Certificate Market/ Fund Stock Market) Thị trường chứng chỉ quỹ là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ. Thị trường chứng chỉ quỹ có một số đặc điểm sau: o Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại chứng chỉ quỹ do các công ty quản lý quỹ đầu tư phát hành. o Người sở hữu chứng chỉ quỹ là người ủy thác cho công ty quản lý quỹ thực hiện hoạt động đầu tư tập thể theo điều lệ của quỹ. Nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với hoạt động đầu tư của quỹ. o Tùy theo đặc điểm của từng loại quỹ đầu tư, người sở hữu chứng chỉ quỹ có thể thu hồi vốn đầu tư trực tiếp tại quỹ, hoặc đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường chứng chỉ quỹ.  Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market) TTCK phái sinh là nơi giao dịch các loại chứng khoán phái sinh như quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai. TTCK phái sinh là thị trường mà sự ra đời và phát triển của nó bắt nguồn từ chính việc phát hành, giao dịch các loại chứng khoán gốc. Sự tồn tại và phát triển của thị trường này có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu hoạt động sôi động và hiệu quả hơn. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 13
  14. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Tiêu thức phân chia này giúp chúng ta có thể đánh trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như sự phát triển của TTCK nói riêng. Với những nước phát triển, sự phát triển của thị trường cổ phiếu là biểu trưng cho sự phát triển của nền kinh tế. Song hành cùng với sự phát triển và hoàn thiện của thị trường, các loại chứng khoán phái sinh cũng ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu đa dạng, đồng thời cung cấp các công cụ phòng chống rủi ro cho các nhà đầu tư, kinh doanh chứng khoán. 1.2.2. Theo quá trình lưu thông chứng khoán  Thị trường sơ cấp (Primary Market) Là thị trường phát hành chứng khoán mới. TTCK sơ cấp có vai trò tạo vốn cho tổ chức phát hành và chuyển hoá các nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng vào công cuộc đầu tư. Đặc điểm của thị trường sơ cấp: o Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán là phương tiện huy động vốn của tổ chức phát hành, là công cụ đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư. o Chủ thể giao dịch: trên thị trường sơ cấp, người bán chứng khoán là các tổ chức phát hành, người mua là các nhà đầu tư . o Kết quả giao dịch trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư cho tổ chức phát hành. o Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục.  Thị trường thứ cấp (Secondary Market) Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Vai trò của TTCK thứ cấp là thực hiện việc chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính thực hiện chức năng điều tiết vốn đầu tư giữa các ngành, các lĩnh vực, tạo ra một sự cân đối mới cho nền kinh tế. Đặc điểm của TTCK thứ cấp: o Trên thị trường thứ cấp, chứng khoán chỉ thuần túy là công cụ đầu tư mà không tồn tại với tư cách là phương tiện huy động vốn cho tổ chức phát hành. o Chủ thể giao dịch trên thị trường thứ cấp chủ yếu là các nhà đầu tư, kinh doanh chứng khoán. o Kết quả hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế mà chỉ làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư. o Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường thứ cấp là thị trường liên tục. Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau, làm tiền đề cho sự phát triển của TTCK. Thị trường sơ cấp có vai trò tạo hàng hóa cho TTCK, thị trường thứ cấp làm gia tăng tính thanh khoản của chứng khoán, đảm bảo cho sự phát triển của thị trường sơ cấp. 14 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  15. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Phân chia và nghiên cứu TTCK theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiện trạng nền kinh tế cũng như vị thế, uy tín của tổ chức phát hành thông qua sự biến động giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp. 1.2.3. Theo hình thức tổ chức và cơ chế hoạt động  Thị trường chứng khoán chính thức TTCK chính thức (còn gọi là thị trường có tổ chức) là thị trường mà sự ra đời và hoạt động được thừa nhận, bảo hộ về mặt pháp lý. Các hoạt động giao dịch của thị trường này nằm dưới sự kiểm soát và chịu sự ảnh hưởng bởi cơ chế quản lý của Nhà nước thông qua các pháp luật chuyên ngành. Thị trường có tổ chức bao gồm: o Thị trường tập trung – Sở giao dịch TTCK tập trung là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch. Đặc điểm của TTCK tập trung:  TTCK tập trung có địa điểm giao dịch cố định.  Các chứng khoán được giao dịch tại TTCK tập trung phải thoả mãn những điều kiện nhất định và hoàn tất thủ tục niêm yết, thường là chứng khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường.  Phương thức giao dịch chủ yếu là đấu giá hoặc ghép lệnh để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất trong các phiên giao dịch.  Thành viên giao dịch có giới hạn, thường chỉ bao gồm những tổ chức và/ hoặc cá nhân có đủ điều kiện, đã được cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng khoán và TTCK cấp phép thành viên.  Nhà nước quản lý thị trường thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK & TTCK. o Thị trường phi tập trung (còn gọi là thị trường OTC - Over The Counter) Thị trường OTC là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống máy vi tính và điện thoại kết nối giữa các thành viên của thị trường. Đặc điểm của TTCK OTC:  TTCK OTC không có địa điểm giao dịch cố định. Các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các CTCK phân tán trên khắp quốc gia.  Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC là những chứng khoán chưa được niêm yết trên bất kỳ thị trường tập trung nào và thường bao gồm các chứng khoán có tiêu chuẩn thấp hơn chứng khoán được niêm yết trên thị trường tập trung – chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ.  Giá chứng khoán trên thị trường OTC được xác định chủ yếu theo phương thức thoả thuận.  Nhà nước quản lý đối với thị trường OTC thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK & TTCK. FIN301_Bai 1_v1.0011101210 15
  16. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Bảng 1.4: So sánh thị trường OTC với thị trường tập trung Thị trường OTC Thị trường tập trung  Địa điểm giao dịch phi tập trung.  Địa điểm giao dịch tập trung.  Giao dịch qua mạng máy tính điện tử.  Giao dịch qua mạng hoặc không qua mạng  Thỏa thuận giá, hoặc mua bán theo giá  Giá cả được hình thành theo phương thức niêm yết. đấu giá tập trung hoặc khớp lệnh.  Giao dịch chứng khoán loại 2 (có tiêu chuẩn  Giao dịch chứng khoán loại 1 (có tiêu chuẩn thấp hơn). cao hơn).  Tại một thời điểm có thể có nhiều mức giá  Tại một thời điểm chỉ có một mức giá đối đối với một loại chứng khoán. với một loại chứng khoán.  Sử dụng các nhà tạo lập thị trường hoạt  Không sử dụng các nhà tạo lập thị trường động theo pháp luật. (đối với các thị trường đấu giá theo lệnh).  Được tổ chức quản lý chặt chẽ bởi các cơ  Được tổ chức quản lý chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tự quản. quan quản lý nhà nước và tổ chức tự quản.  Quản lý nhà nước đối với thị trường thông  Quản lý nhà nước đối với thị trường thông qua hệ thống các văn bản pháp luật chuyên qua hệ thống các văn bản pháp luật chuyên ngành (luật chứng khoán) và các văn bản ngành (luật chứng khoán) và các văn bản pháp luật có liên quan. pháp luật có liên quan.  Tổ chức tự quản là hiệp hội các nhà KDCK  Tổ chức tự quản là sở giao dịch. hoặc sở giao dịch.  Cơ chế thanh toán đa dạng.  Một cơ chế thanh toán bù trừ đa phương.  Thị trường chứng khoán không chính thức - TTCK tự do (The free market) Thị trường chứng khoán tự do, (còn gọi là thị trường ngầm, thị trường chợ đen) là thị trường ở đó các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không được thực hiện qua hệ thống giao dịch của thị trường tập trung và thị trường OTC, nó ra đời và hoạt động một cách tự phát theo nhu cầu của thị trường. TTCK tự do là thị trường mà hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng chứng khoán có thể diễn ra ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, có thể thông qua các nhà môi giới hoặc do chính những người có nhu cầu đầu tư, mua bán chứng khoán thực hiện. Dưới góc độ pháp lý, TTCK tự do là thị trường mà sự ra đời, tồn tại và hoạt động không được thừa nhận và bảo hộ bởi các pháp luật chuyên ngành về chứng khoán và TTCK. Nó ra đời và hoạt động bởi các nhu cầu tự phát của thị trường. Do không được bảo hộ về mặt pháp lý nên việc mua bán chứng khoán trên thị trường tự do chứa đựng nhiều rủi ro như lừa đảo, hàng giả, hàng không có thật… Bảng 1.5: So sánh thị trường OTC và thị trường tự do Thị trường OTC Thị trường tự do  Có tổ chức chặt chẽ.  Không có tổ chức.  Giao dịch phi tập trung.  Giao dịch phi tập trung.  Thỏa thuận giá qua mạng, hoặc mua bán  Thỏa thuận giá trực tiếp và thủ công. theo giá niêm yết.  Chứng khoán chưa niêm yết tại TTCK tập  Chứng khoán loại 2. trung và thị trường OTC.  Có quản lý nhà nước và tự quản.  Không có sự quản lý nhà nước bởi các luật chuyên ngành về CK & TTCK. 16 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  17. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Thị trường có tổ chức và thị trường tự do là hai bộ phận cùng song song tồn tại và phát triển. Xét về lịch sử, thị trường tự do ra đời sớm hơn rất nhiều so với thị trường có tổ chức. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như sự gia tăng vai trò kiểm soát của Nhà nước thì quy mô và phạm vi hoạt động của thị trường tự do ngày càng giảm đi rõ rệt, ngược lại với sự phát triển nhanh chóng của thị trường có tổ chức. Xem xét TTCK theo tiêu thức này giúp chúng ta có thể đánh giá được vai trò cũng như mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của TTCK nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung. Ngoài cách phân chia nêu trên, theo hình thức tổ chức và cơ chế hoạt động, người ta còn chia TTCK thành thị trường tập trung, thị trường phi tập trung, thị trường Private thị trường riêng và thị trường thứ ba. Thị trường Private là thị trường cổ phiếu của các công ty cổ phần nội bộ. Cổ phiếu của các công ty này có tính thanh khoản kém, giao dịch chủ yếu diễn ra giữa các cổ đông cũ của công ty. Do tính thanh khoản kém, giá cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của công ty và rủi ro thanh khoản cao, song công ty gần như không phải đối mặt với các xung đột lợi ích giữa các nhóm cổ đông nên hoạt động khá ổn định. Thị trường thứ ba là thị trường dành cho các chứng khoán đích danh và giao dịch khối. Các chứng khoán đích danh thường có điều kiện đặc biệt trong điều kiện chuyển nhượng, vì vậy thường không được đăng ký giao dịch tại các thị trường chính thức. Đối với các giao dịch khối, sở giao dịch thường giới hạn khối lượng giao dịch, chẳng hạn tại Sở giao dịch chứng khoán New York, những giao dịch có khối lượng chứng khoán lớn hơn 10.000 đơn vị thuộc giao dịch khối. 1.2.4. Theo thời hạn thanh toán  Thị trường giao ngay Thị trường giao ngay là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được diễn ra ngay trong ngày giao dịch hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định. Đặc điểm của TTCK giao ngay: o Việc ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại. o Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện ngay trong ngày giao dịch, hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định của thị trường mỗi nước (T+1 hoặc T+2 hoặc T+3).  Thị trường kỳ hạn Thị trường kỳ hạn là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được diễn ra sau ngày giao dịch một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm của TTCK kỳ hạn: o Việc ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại. o Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng đã ký kết. Tùy theo cơ chế FIN301_Bai 1_v1.0011101210 17
  18. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán hoạt động của thị trường theo kiểu Âu hay kiểu Mĩ mà ngày thực hiện hợp đồng (chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán) được thực hiện sau ngày giao ngay một khoảng thời gian đã ký hay bất cứ ngày nào trong thời hạn của hợp đồng. 1.3. Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán 1.3.1. Chức năng của thị trường chứng khoán Là một định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế thị trường, TTCK được nhìn nhận với hai chức năng cơ bản, đó là: tập trung huy động vốn đầu tư và điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế.  Tập trung huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Thông qua các giao dịch trên được thực hiện trên TTCK sơ cấp, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội… được huy động và tập trung để tạo vốn cho tổ chức phát hành. o Thông qua phát hành trái phiếu, Nhà nước huy động vốn để thực hiện các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. o Các doanh nghiệp sử dụng vốn huy động được qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển thị trường, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, củng cố và nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thương trường.  Điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế Thị trường chứng khoán nói chung, TTCK thứ cấp nói riêng là nơi tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Thông qua thị trường này nhà đầu tư có thể thu hồi vốn hoặc chuyển vốn đầu tư một cách dễ dàng thông qua hoạt động bán và mua các loại chứng khoán. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những doanh nghiệp thành đạt, không ít doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp kém, thậm chí có nguy cơ phá sản. Những doanh nghiệp này có thể phải chấp nhận giải pháp thu hẹp phạm vi kinh doanh ở một lĩnh vực nào đó bằng cách rút bớt vốn đầu tư khỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đầu tư vào một lĩnh vực khác thông qua việc mua các chứng khoán đang được giao dịch trên TTCK. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vốn đầu tư tự phát điều tiết từ các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng thấp sang các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng cao hơn. 1.3.2. Vai trò của thị trường chứng khoán Việc tạo lập và phát triển TTCK có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì TTCK cũng có thể gây nên những tác hại khôn lường đối với nền kinh tế – xã hội. Chính vì thế, nhận thức được đầy đủ vai trò tích cực cũng như những bất lợi của TTCK có một ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng thị trường và xây dựng chính sách quản lý thị trường một cách hữu hiệu. 18 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
  19. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều tồn tại TTCK với các vai trò chủ yếu sau:  TTCK là kênh huy động, tập trung và luân chuyển vốn linh hoạt của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, TTCK được xem như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cư, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính và từ nước ngoài... tạo thành một nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế, mà các kênh tài chính khác không làm được. Qua phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, Nhà nước có được những nguồn vốn lớn để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, các ngành kinh tế mũi nhọn...  Thị trường chứng khoán góp phần kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Thông qua TTCK, các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi để đầu tư chứng khoán như là một tài sản kinh doanh và ngược lại, các chứng khoán đó sẽ được chuyển thành tiền khi cần thiết. Hơn nữa, TTCK còn giúp các doanh nghiệp xâm nhập lẫn nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu. Thậm chí khi một doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, có nguy cơ đi đến bờ vực phá sản, nó cũng có thể không mất đi, mà được bán cho những nhà đầu tư khác và các cổ đông mới này sẽ tiếp tục duy trì, phát triển sự hoạt động của doanh nghiệp. Quy định của TTCK bắt buộc các doanh nghiệp tham gia thị trường phải công bố công khai, minh bạch tình hình tài chính, kết quả kinh doanh hàng quý, hàng năm trước công chúng, để công chúng có thể nhận định, đánh giá được công ty. Bên cạnh đó, việc mua bán cổ phiếu của công ty một cách tự do, khiến người có cổ phiếu trở thành chủ sở hữu của công ty. Nhờ đó, họ có thể kiểm soát công ty và nhận biết được khả năng hoạt động của công ty qua sự chấp nhận của TTCK. Chính những điều này buộc các doanh nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng trong việc huy động và sử dụng vốn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  Thị trường chứng khoán góp phần đa dạng hóa các hình thức đầu tư và huy động vốn trong nền kinh tế TTCK đưa đến cho công chúng những công cụ đầu tư mới, đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng có tâm lý và chiến lược riêng. Với một hệ thống các loại chứng khoán khác nhau của nhiều ngành kinh tế và các chủ thể khác nhau, người tiết kiệm có thể tự mình lựa chọn, hoặc thông qua những nhà tài chính chuyên môn lựa chọn những hình thức đầu tư thích hợp nhất. Nhờ vậy, vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào công cuộc đầu tư. Vốn đầu tư sinh lời, càng kích thích ý thức tiết kiệm và đầu tư trong dân chúng. Nếu không có TTCK thì FIN301_Bai 1_v1.0011101210 19
  20. Bai 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán nguồn tiết kiệm trong dân chúng có thể vẫn tiếp tục nằm dưới dạng cất trữ, không sinh lời cho bản thân người tiết kiệm và cũng chẳng đóng góp gì cho quá trình phát triển kinh tế. Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, từ đó nâng cao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Đồng thời, nhờ sự phát triển của TTCK, các chủ thể thiếu vốn có thêm một sự lựa chọn kênh huy động vốn: hoặc là phát hành chứng khoán qua TTCK, hoặc huy động vốn từ các tổ chức tín dụng - một kênh huy động vốn truyền thống và tương đối phổ biến. Về mặt lý thuyết, huy động vốn qua phát hành chứng khoán là một phương pháp hiệu quả vì người cầu vốn sẽ nhận được vốn trực tiếp từ người cung vốn, nên có thể giảm được chi phí huy động. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này còn tùy thuộc vào tính hiệu quả, sự phát triển của TTCK và điều kiện thực tế của tổ chức phát hành...  Thị trường chứng khoán là tấm gương phản ánh thực trạng và tương lai phát triển của doanh nghiệp Thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đang giao dịch trên TTCK được coi là cơ sở quan trọng đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp đó trong hiện tại cũng như trong tương lai. Thị giá cổ phiếu cao hay thấp biểu hiện trạng thái kinh tế của doanh nghiệp. Đặc biệt, mức độ cổ tức và giá thặng dư của cổ phiếu (chênh lệch giữa giá thị trường và mệnh giá) thể hiện khả năng mang lại lợi tức và thu nhập cho các cổ đông. Triển vọng tương lai của mỗi doanh nghiệp cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ phiếu và sự diễn biến quá trình biến động thị giá cổ phiếu của công ty. Như vậy thông qua sự biến động về giá cả chứng khoán và các chỉ số trên TTCK, người ta có thể đánh giá được tình trạng "sức khoẻ" của một doanh nghiệp nói riêng cũng như của nền kinh tế nói chung cả trong hiện tại và tương lai.  Thị trường chứng khoán là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế đang tăng trưởng và ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu suy thoái của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thiếu hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số biện pháp, chính sách tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế… 20 FIN301_Bai 1_v1.0011101210
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2