VĂN MẪU LỚP 11
CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN
BÀI MẪU SỐ 1:
Tràng Giang một trong những bài thơ tiêu biểu của tài năng Huy Cận và thể hiện
chất tâm hồn ông. Huy Cận cũng đã nhiều lần klại quá trình viết nó. Cảm hứng thơ
được gợi từ phong cảnh sông nước vùng Chèm Vẽ ngoại thành Nội. Bây giờ nơi này
đã nội thành đông đúc với nhiều nhà cao tầng, biệt thự nhưng vào thời Huy Cận viết
Tràng giang cho đến mấy chục năm sau, đìu hiu sông nước, vắng lặng, đẹp và buồn
đúng như trong bài thơ đã tả.
Huy Cận kể lại, ông đã thvào bài bằng nhiều thể thơ, nhưng cuối cùng chọn thơ
bảy chữ, đậm chất Đường thi. Ông còn cho biết Lớp lớp mây cao đùn núi bạc do ông
học bản dịch thơ Đỗ Phủ Mặt đất mây đùn cửa ải xa". Ý kết ông tựa vào thơ Thôi
Hiệu, qua bản dịch của Tản Đà Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” để tả nỗi buồn
của lòng mình: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Chính không gian Đường thi trong
hơi thơ bảy chữ tạo nên sự cộng hưởng cảm xúc đồng chiều ấy. Nếu viết thể thơ khác,
chưa chắc đã sự cộng hưởng ấy. Huy Cận buồn hơn Thôi Hiệu. Huy Cận thừa biết
mình đứng nhờ trên vai người ta, cao nhưng không chắc mình chiều cao hơn người
ta. Đọc Tràng giang thể thấy buồn Hoàng Hạc lâu nhưng nhiều chỗ khác chứ
không phải ở câu kết so đo ấy.
Bài thơ này có vẻ đẹp cổ điển, trang trọng mở vào cao rộng trời đất mà nỗi buồn lại
thấm thía sâu thẳm xuống một cõi lòng. Nỗi buồn bàng bạc hồ nhưng đụng vào đầu
cũng thấy. hồ vì buồn không rõ do cụ thể. Bàng bạc không sắc thái, không rát
bỏng nhưng ngân nga như một nỗi bâng khuâng, một tâm trạng nhớ không đối tượng: trời
rộng nhớ sông dài. Câu đề từ quả đã ôm đủ chủ đề bài thơ. Nỗi bâng khuâng buồn nhớ
đựng đầy không gian. Cảnh nào cũng gợi buồn, cảnh bị nhiễm vào ttrường nh cảm.
Huy Cận nói: Đây bài thơ của m hồn. Tâm hồn ông khi ấy thường trực một nỗi buồn
thế hệ, cái thế hệ vừa biết suy nghĩ thì chạm ngay vào nỗi buồn mất nước, vào thân phận
nhược tiểu, một linh hồn nho nhỏ/ mang mang thiêng cổ sầu. Chất tâm hồn bất thường
bắt rất nhạy cảm c không gian rộng xa, vắng lặng hắt hiu. Riêng với Huy Cận, người
đã từng nghiêng tai kì diệu” nửa nghe vũ trụ nửa nghe lòng mình. Nghe trời nặng nặng,
nghe ta buồn buồn thì không gian trời nước quãng sông Hồng nơi Chèm Vẽ cộng ng
với lòng ông mà thành thơ là điều không khó hiểu.
Chữ tràng trong Tràng giang đề bài trong câu đầu tiên vốn ít dùng trong ngôn
ngữ giao tiếp hơn trường nhưng Huy Cận lại chọn dùng... người giảng để khỏi
nhầm với sông Trường Giang bên Trung Quốc. Chả hiểu đúng thế không. Nhưng chỉ
căn cứ vào âm thanh (chứ không phải chỉ nghĩa chữ) thì giang hai âm vang đồng dạng
đứng liền nhau gợi được khoảng rộng, dàn theo chiều ngang, bát ngát bao la hơn
trường. Trường chcho thấy chiều dài, đa nghĩa chữ và hình âm trường thuôn lại trong
khi tràng mở ra. Mặt sông dài rộng, nên đầu sóng của sông, vốn thấp như càng thấp thêm,
chỉ như gợn nhẹ mặt sông phẳng. Đã rộng lại tĩnh nên gợi buồn, buồn điệp điệp. Chứ
sóng dào dạt hay réo sôi chắc dẫn tới cảm giác khác. Điệp điệp trạng thái của gợn
sóng trên tràng giang và cũng là của gợn buồn trong lòng ni. Câu vào này buồn thật.
Nhưng câu thứ hai: “Con thuyền xuôi mái nước song song" có người cũng cho câu thơ
buồn, buồn lắm, lấy rằng: song song là chẳng bao giờ gặp nhau, không gắn với
nhau. Đấy vận dụng định đường song song trong hình học cấp vào hình tượng
văn chương. E kthuyết phục. Thuyền nước trong câu thơ này là đang gắn bó, thậm chí
hài hoà xuôi chèo mát mái. Câu thơ này không buồn. Hơn nữa, vui. Đang vui. (Chữ nước
song song chỉ một dụng ý để đối với buồn điệp điệp). đang vui mới dẫn đến cái
buồn ở câu sau. Mới tạo nên mối tương quan: vui chỉ khoảnh khắc mà buồn thì tất yếu, ấy
là lúc thuyền về tới bến, nước vẫn tiếp tục đi, đi một mình, phiêu bạt hai ngả rẽ vô thường
nên mới kinh hãi vi cái sầu trăm ngả. Hình ảnh sông ớc đến đây đã nhập vào thân
phận con người. Thuyền vnước lại, sầu trăm ngả. Một chữ lại (trạng từ), lại sầu... cho
thấy cách nhìn đời hồi ấy của Huy Cận kgiống Xuân Diệu (hoa nở để mà tàn - Trăng
trong để khuyết - Bèo hợp để chia tan - Ngưi gần để li biệt). Thuyền nước song
song xuôi mái chỉ khoảnh khắc rồi lẻ loi vi bao nhiêu ngã ba sông nước, sầu trăm ngả.
Từ hình ảnh trăm ngả dẫn đến câu cuối đoạn như mội tổng kết:
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Trên sông Hồng, nhất mùa thể thấy cả cây trôi, thân gtrôi, vật vã nổi
chìm trong sóng đục phù sa. Cảnh gi tang thương. Nhưng không phải mạd cảm xúc Huy
Cận ở bài này. Ông nói ông phải lựa chọn hình ảnh sao cho ra cai thân phận nổi nênh của
kiếp người. Chọn củi hơn gỗ, chọn một cành không hơn những cây tươi. Củi một
cành mà lạc mấy dòng thì đắt quá, chưa kể nó còn ứng với sầu trăm ngả ở ưên.
Đoạn một nhìn vào mặt sông tả. Chi tiết tung hứng, ngôn ngữ đăng đổi
ngay trung tâm của chủ đề. Đoạn hai nhìn ra xa xung quanh: cồn nhỏ, làng xa, trời sâu,
bến rộng... không gian mở ra rộng - cao để hồn ngấm vào thưa vắng. Thưa vắng yên
tịnh. Chỉ một âm thanh xa, vng tự đâu không rõ, hồ như nghe trong hoài niệm mt
phiên chợ quê lúc vãn người. Âm thanh mơ hcách đặc tả cái tĩnh lặng. Đoạn thơ này
mở không gian. Chiều thẳng đứng thì như đang dãn dần ra theo nắng, theo trời: “Nắng
xuống, trời lên sâu chót vót”. Sâu chkhông cao một sáng tạo, gây ấn tượng. Chiều
năm ngang thì Sông dài, trời rộng, bến liêu"... Không màu sắc, không âm thanh,
không hoạt động. Tất cả bất động, lặng đi, ngấm vào nỗi cô liêu.
Cõi rộng không giới hạn, tả dễ miên man. Huy Cận tỉnh táo chuyển lại ánh vmặt
sông, về chỗ bắt đầu bài thơ “Bèo dạt vđâu, hàng nối hàng”. Đẩy mức vắng lặng tới chỗ
bặt dấu người. Hai đoạn trên còn thuyền, chợ. Giờ đây, trên sông chỉ còn bèo,
duy nhất bèo, hàng nối hàng. Không đò ngang, không cầu bắc, không thấy một công trình
nào mang dấu người, chỉ lặng lẽ thiên nhiên vi thiên nhiên. Buồn lan theo cảnh. Buồn
trải ra xa “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Rồi lại dựng lên cao “Lớp lớp mây cao đùn
núi bạc". Trút qua đôi cánh chim nhỏ rơi xuống một lòng người, chỗ cảnh bặt dấu
người, nên lòng mới trội lên nỗi nhớ quê, lòng quê. Tình thế trôi dạt nổi nênh của ngoại
cảnh làm con nời ngậm ngùi thân phận, thèm tình cảm ấm áp gia đình quần tụ. Bài thơ
khép lại trong nỗi nhớ nhà. Tính lôgíc trong những bước chuyển của tâm hồn rất được coi
trọng trong bài thơ này. lẽ thế Huy Cận tự giới thiệu: “Tràng giang bài thơ tình,
và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn
BÀI MẪU SỐ 2:
Nhắc tới Huy Cận chúng ta không thể bỏ qua được một nhà thơ vi những sáng tác
mang cảm hứng buồn trước khi bước vào phong trào thơ mới. Những sáng tác của ông
mang đậm tâm hồn và tài năng của ông xuyên suốt thời gian sáng tác. Tràng giang một
trong snhững sáng tác tiêu biểu, thể hiện nỗi buồn sâu thẳm sự xao xuyến bâng khuâng
của cái tôi Huy Cận trưc cuộc sống, nhưng cảnh vật hiện ra trước mắt của thi nhân vẫn
mang một vẻ đẹp ẩn chứa những bất ng trong sáng tác.
Cảm hứng để sáng tác bài thơ khi tác giả đứng trước sông Hồng mênh mông bao
la, khi nhìn thấy sự kì của thiên nhiên , khiến tác giả lại ngm lại chính cuộc sống
của mình hiện tại, cũng thật nhỏ bé, không biết sẽ như thế nào trước cuộc đời rộng lớn
này. Tràng Giang mang một vẻ đẹp cổ điện, như được chấm phá bằng các nét vẽ linh hoạt
của các nghệ trước bức tranh thủy mc sơn nước hữu tình. Hai chtràng Giang vốn là
hai từ hán việt ghép vào nhau mà tạo thành. Tràng nghĩa mênh mông, trải rộng còn
giang chính sông. Đây lại một âm m,cthế nếu cứ ngân dài hai chữ này thì mãi
mãi không kết thúc. Mọi thứ cứ trải dài, trải dài khơi gợi cho độc giả nhiều liên tưởng
thú vị. Đầu đề chỉ là 2 chữ đó thôi mà toàn bài thơ lại lấy được cảm xúc của độc giả nhiều
đến như vậy. Quthật sự tài nh của ngòi t Huy Cận trong miêu tả và thể hiện trong
suốt những câu từ của bài thơ. Đứng trước cảnh tượng thiên nhiên hùng như thế, lòng
ông lại dấy lên một nỗi buồn mơ hồ, không hiểu rõ là gì và bắt nguồn từ đâu. Nhưng có lẽ
trước sự nhỏ của con ngưi trước trời đất, cảnh khiến ta ngẫm nghĩ và chiêm nghiệm
về những gì đã xảy ra những gì đang tới.một nỗi buồn cớ, nhưng cái cớ đó lại cho
chúng ta những phút giây trải nghiệm và tìm ra câu trả lời cho chính bản thân mình.
Hai câu thơ đầu trong bài thơ lại càng gi ra vmênh mông một nỗi trống vắng
mênh mang của dòng sông trong chính m hồn thi sĩ. Cái hay của bài thơ chỗ,
mặc những tngữ được sử dụng rất đơn giản nhưng chính lại được sdụng đúng
chỗ nên càng tăng thêm vđẹp và chiều sâu ý nghĩa cho bài thơ. điệp điệp” từ láy
dùng để miêu tả những gợn sóng trên sông, nhưng nó lại kết hợp vi từ buồn khiến chúng
ta liên tưởng đến nỗi buồn điệp điệp,đến từng đợt trong lòng thi sĩ. hình ảnh tiếp theo
cũng được cho một câu tmang sắc thái buồn. Xuất hiện giữa dòng sông hình ảnh
con thuyền,nhưng dường như cũng con thuyền độc, hai từ song song” được
Huy Cận sử dụng như nói tới cảnh không điểm chúng. Nhưng lẽ câu thơ hay nhất
phải kể đến câu “Củi một cành klạc mấy dòng”. Hình ảnh củi khô chứ không phải
hình ảnh của một chiếc xanh hay một svật khác đầy sức sống. đã trở thành một
thứ trên dòng nước ấy, bị trôi dập không biết về nơi đâu.lại với cọm từ” lạc my
dòng” càng tỏ ra sự đời trôi nổi, không sự lựa chọn hay không biết phải chọn cái gì.
Đứng trước cuộc đời bao nhiêu ngã rẽ, biết đâu nơi mình thể đi tiếp, cũng như
hình ảnh củi khô, mặc cho gió tấp sóng dập mà vẫn cuộn tròn giữa dòng xoáy cuộc đời.
Những hình ảnh của đoạn thơ tiếp theo cũng không vui hơn, những chi tiết mà
ngay khi chúng ta đọc lên đã một cảm giác ảm đạm thiếu sức sống. Phải chăng
cảnh tượng của một buổi chiều tà. Hình ảnh cồn nhỏ, ng xa, trời sâu, bến rộng”..như
tác giả đang vẽ khiến không gian mra rộng cao để hồn ngấm vào thưa vắng. Mọi thứ
trở nên “thưa vắng và yên tịnh” . sự nh lặng đó lại càng nổi bật làm nền cho âm thanh,
chỉ một âm thanh xa vang vọng về nhưng lại khiến cho bài thơ, càng chìm vào trong
không khí cổ kính, nhuốm màu quá khứ và hoài niệm. Âm thanh đó hồ cách đặc tả
cái tĩnh lặng. Đoạn thơ này mkhông gian. Chiều thẳng đứng thì như đang giãn dần ra
theo nắng, theo trời: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”. Từ sâu được sử dụng miêu
tả độ cao của trời khiến cho hình ảnh miêu tả này rất đắt. Sâu chứ không cao một sáng
tạo, gây ấn tượng cho người đọc.tất cả như chòm vào bến liêu. Mỗi chữ mỗi hình
ảnh của bài thơ đều ngấm cái buồn, cái trống vắng độc, ngay cả bến chờ cũng
Bến liêu. Hình ảnh bèo dạt mây trôi khiến chúng ta liên tưởng về những bài thơ, bài
ca dao vsự trôi nổi bấu víu. Không biết từ bao giờ bèo trôi vmặt sông, vchỗ bắt đầu
bài thơ “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng”. Giờ đây, trên sông chỉ còn có bèo, duy nhất bèo,
hàng nối hàng. Không đò ngang, không cầu bắc, không thấy một hình ảnh hay công trình
nào mang dáng dấp con nời, chỉ lặng lẽ thiên nhiên với thiên nhiên. Nỗi buồn mn
man theo cảnh.mọi thứ đều nhuốm một nỗi buồn trải ra xa “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi
vàng” dựng lên cao “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Qua đôi cánh chim nhỏ rơi
xuống một lòng người, ở chỗ cảnh bặt dấu người, nên lòng càng dội lên nỗi nhớ quê, lòng
quê. Tình thế trôi dạt thiên nhiên khiến chính con người chúng ta càng thêm ngậm ngùi
thân phận, thèm tình cảm ấm áp gia đình quần tụ.Tính logic trong những bước chuyển
của tâm hồn rất được coi trọng trongi thơ này. Kết thúc của bài thơ là nỗi nhớ nhà, mọi
thứ trong bài thơ được đẩy đến cao điểm và do đó nỗi buồn đó có lí do của nó
Huy Cận đã mang tới cho người đọc những phút chới với trong cảnh sắc của thiên
nhiên với vẻ buồn bã cô độc, mọi thứ trỉa dài theo chiều sâu và chiều rộng nhưng nó càng
làm cho sự mênh mang thêm sâu sắc. Cảnh khiến lòng xao động, cảnh khiến người ngậm
ngùi và cũng chính là lúc khiến con người nhận ra bản thân mình nghĩ gì.Có lẽ vì thế Huy
Cận tự giới thiệu: “Tràng giang là bài thơ tình, và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn.