intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH

Chia sẻ: Dao Hung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
97
lượt xem
33
download

CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự cần thiết, tối cần thiết của luật pháp là điều hiển nhiên. Nhưng còn những yếu tố hỗ trợ khác nữa cũng không kém phần hữu hiệu trong việc điều chỉnh hành vi con người, cộng đồng và quản lý đất nước. Quốc hội đang giành phần lớn thời gian để xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp của Việt Nam. Đó là quá trình tất yếu của một đất nước đang tiến lên văn minh và hiện đại, đang vươn tới một trình độ cao hơn trong lịch sử phát triển của dân tộc. Nhưng sẽ là không đầy đủ, nếu quên...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH

  1. TÀI LIỆU ĐỌC THÊM CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Th.s Nguyễn Thu Ngà (sưu tầm) Luật pháp: cần, rất cần... nhưng chưa đủ (VietNamNet) - Sự cần thiết, tối cần thiết của lu ật pháp là đi ều hi ển nhiên. Nhưng còn những yếu tố hỗ trợ khác nữa cũng không kém phần hữu hiệu trong việc điều chỉnh hành vi con người, cộng đồng và quản lý đất nước. Quốc hội đang giành phần lớn thời gian để xây dựng và hoàn ch ỉnh h ệ th ống lu ật pháp của Việt Nam. Đó là quá trình tất yếu của một đất n ước đang ti ến lên văn minh và hiện đại, đang vươn tới một trình độ cao h ơn trong l ịch s ử phát tri ển c ủa dân t ộc. Nhưng sẽ là không đầy đủ, nếu quên đi sự hỗ trợ của những yếu tố khác. Những yếu tố này cũng không kém phần quan trọng. Pháp luật - Ba điểm mạnh Có lẽ sẽ không cần bàn cãi nữa về tầm quan trọng của pháp luật đối với sự duy trì và phát triển của một xã hội, một đất nước. Vai trò đó dựa vào ba điểm mạnh sau đây của bản thân pháp luật: Đó là tính bắt buộc chung. Bất kì ai khi đặt vào tình huống, hoàn cảnh pháp luật qui định không thể xử sự khác được. Đó là tính minh bạch. Pháp luật được xác định chặt chẽ, ổn định, có th ể tiên li ệu, d ự đoán trước. Đó là tính được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước. Nhờ có cơ quan công quyền tiến hành tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống và xử lí vi phạm, nên pháp luật đã x ứng đáng xếp vào vị trí là công cụ hiệu năng nhất để nhà nước quản lí xã hội. Song lâu nay có lẽ cũng vì quá đề cao, nh ấn mạnh, thậm chí tuy ệt đ ối hoá pháp lu ật, đôi khi người ta quên mất rằng pháp luật tự thân nó cũng hàm chứa không ít nh ững điểm yếu và cần thiết phải được bổ khuyết. Pháp luật – Ba điểm yếu Chúng tôi muốn đi sâu hơn những điểm yếu cố h ữu của pháp luật, đó là tính ch ủ quan, sự khái quát hoá quá cao, và tính dễ bị lạc hậu so với sự đổi thay nhanh chóng của cuộc sống. Tính chủ quan. Ai cũng thấy các quy định của pháp luật rất đa dạng và khác nhau. Chẳng hạn, ở nước ta quy định cho mọi phương tiện giao thông đi phía tay ph ải, trong khi ở Ấn độ lại đi bên tay trái. Hay việc ăn thịt lợn là chuy ện hàng ngày và rất bình thường ở nhiều quốc gia, thì có một số nước theo đạo Hồi lại có qui định cấm ăn thịt lợn. Một dẫn chứng nữa: cùng là vấn đề độ tuổi kết hôn, nh ưng mỗi nước có qui đ ịnh đ ộ tuổi khác nhau. Chẳng hạn như ở Việt Nam độ tuổi kết hôn ở nữ là từ 18 tu ổi, nam
  2. từ 20 tuổi trở lên. Trong quá trình thực hiện, lại xuất hiện sự khác biệt: ở nh ững đô thị lớn nơi có trình độ dân trí cao, nếu vi ph ạm vi ệc x ử lí s ẽ khác, còn ở nh ững vùng sâu, vùng xa xử lí cũng sẽ khác. Cũng dễ hiểu thôi. Bản thân con người, xã hội loài người là một th ực thể đầy mâu thuẫn và không hoàn thiện, thì làm sao luật pháp, sản phẩm do con người làm ra, có thể tuyệt đối hoàn thiện được, do vậy pháp luật không phải bao giờ cũng đúng, cũng là chân lí. Hơn nữa, pháp luật phần nào thể hiện ý chí, mang trong nó nh ững toan tính và l ợi ích trước hết của chủ thể ban hành, và vì thế, ai cũng hiểu, không ph ải lúc nào pháp lu ật cũng đáp ứng mong mỏi của tất cả các thành viên của toàn xã hội. Sự khái quát hoá quá cao. Ai cũng biết pháp luật là những qui tắc xử sự ph ổ biến do vậy nó cần phải mang tính khái quát hoá cao, sự khái quát hoá cao đó gi ữ cho lu ật pháp vừa ổn định lại vừa đảm bảo được một sự công bằng và thống nhất. Song nếu sự khái quát hoá quá cao, lại có những qui đ ịnh quá chung chung, pháp lu ật dễ dàng bộc lộ điểm yếu nhất - khó đi vào cuộc sống. Th ực tế cho th ấy m ọi tình huống pháp luật xảy ra thường ở những không gian, thời gian và hoàn cảnh s ống cụ thể cũng rất khác nhau. Bởi vậy nếu chỉ chú ý đến qui định của điều luật mà không quan tâm đến hoàn cảnh kinh tế, trình độ nhận th ức, khả năng giáo dục và nhi ều y ếu tố khác, việc áp dụng luật pháp không những có thể sai lầm mà còn dễ trở thành sự ám ảnh về tính trừng phạt, gây đau khổ hơn là giáo d ục hay c ần thi ết đ ể duy trì tr ật tự chung. Tính dễ bị lạc hậu so với cuộc sống. Pháp luật suy cho cùng chỉ là sự phản ứng của con người trước những đổi thay của tự nhiên và xã h ội, do v ậy pháp lu ật luôn đi sau cuộc sống, dù có hoàn thiện đến đâu pháp luật cũng không thể điều ch ỉnh h ết được các quan hệ xã hội. Như vậy xem ra sự điều chỉnh của pháp luật thường là sự điều chỉnh sau, và sự trừng phạt của luật pháp đôi khi chỉ làm cho người ta sợ mà không vi ph ạm ch ứ ch ưa ch ắc đã phải là liệu pháp hoàn toàn hiệu năng trong mọi trường hợp. Các yếu tố ngoài pháp luật Chính những điểm yếu nói trên làm cho pháp luật, dù là cần thiết, thậm chí tối c ần thiết, bản thân nó vẫn chưa hoàn toàn đủ để điều chỉnh toàn bộ hành vi con người, sự hài hoà của cộng đồng, để điều hành một xã hội, một đất nước. Trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật cần phải kết hợp và đặt pháp lu ật trong m ối liên h ệ v ới những qui phạm xã hội khác như đạo đức; phong tục, tập quán; điều lệ của các tổ chức xã hội… Trong thực tế, những dạng qui phạm này đều ra đời trước pháp luật, tuy không có được tính minh bạch và rõ ràng như luật pháp, không có một cơ quan công quy ền là nhà nước đứng ra đảm bảo thực hiện, và thường là những chuẩn mực định tính khó
  3. đo đếm, nhưng nó lại có nhiều ưu điểm và nhiều mặt tích cực mà luật pháp không thể có được. Luật pháp có thể yêu cầu mọi người phải làm điều này không đ ược làm đi ều kia nhưng khi kêu gọi hướng đến cái đẹp, cái thiện thì luật pháp bỗng trở nên b ất lực. Chính đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp, điều lệ của các tổ chức xã hội...lại có khả năng làm được và làm tốt điều này. Ngay cả văn h ọc ngh ệ thu ật, đ ức tin v.v...cũng có vai trò không thể phủ nhận được. Chẳng hạn, trong th ời chi ến tranh, noi theo gương ông cha đi trước hoặc nghe một bản nhạc, đọc một bài th ơ, m ột cu ốn sách, nhiều thanh niên sẵn sàng rời ghế nhà trường ra đi ch ẳng ti ếc tuổi xanh, đ ể quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.... Lời kết Nhà nước pháp quyền là nhà nước vị pháp luật, một nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật. Nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn ch ỉnh một nhà nước nh ư vậy. Nhưng điều chỉnh hành vi con người bằng pháp luật, dù đóng vai trò ch ủ y ếu, vẫn là một sự điều chỉnh rất công phu. Trong khi đó các qui phạm xã h ội và nh ững hình thức không mang tính qui phạm khác nói ở trên cũng có kh ả năng đi ều ch ỉnh hành vi con người một cách nhẹ nhàng hơn mà vẫn hướng con người tới được những giá trị cao cả. Tóm lại, về mặt lý luận và cả về thực tiễn, không bao giờ quên rằng: lu ật pháp c ần, rất cần thiết, nhưng chỉ dựa vào chỉ luật pháp là chưa đủ, nói cách khác, s ẽ khó khăn nhiều hơn trong sự nghiệp lớn “trị quốc bình thiên hạ”. Nguyễn Minh Tuấn Đạo đức kinh doanh Chẳng phải vô cớ mà khoảng 15 năm nay một ngạn ngữ Ấn Độ được lưu truyền trong giới doanh nghiệp ở các nước phát triển: “ Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận ”. Điều này hàm ý: Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các s ản ph ẩm - d ịch v ụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghi ệp. Tóm gọn: Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính t ư cách ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức! Đạo đức kinh doanh, trong chiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp. Muốn “vị lợi” phải “vị nhân” Điều này trái với cách tiếp cận của kinh tế học “cổ điển” vốn cho rằng mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, vì th ế v ấn đ ề đ ạo đ ức - theo nghĩa “vị nhân bất vị lợi” - không thể đặt ra trong kinh doanh: Bản thân ho ạt đ ộng doanh nghiệp là “phi đạo đức”, trong nghĩa đạo đức không ph ải là ph ạm trù quan tâm của doanh nghiệp (vì nó không mang ích lợi thiết thực cho doanh nghiệp, chứ không phải có ý rằng doanh nghiệp là thực thể “vô đạo đức”).
  4. Luận điểm trên hiển lộ giới hạn của nó khi nhiều nhà kinh t ế h ọc đã xác minh rõ bản thân doanh nghiệp là một thiết chế xã hội mang tính tổ ch ức cộng đồng vận hành bởi các động cơ thoát thai từ những quy ền lợi thuộc nhi ều lĩnh v ực c ủa các thành viên liên quan. Và cộng đồng ấy, muốn đáp ứng một cách hiệu quả lý do tồn tại của nó - nghĩa là sản sinh lợi nhuận cần thi ết cho vi ệc tái t ạo m ở r ộng doanh nghiệp - lại phải nhìn nhận là thành ph ần nội b ộ cũng nh ư các đ ối tác bên ngoài c ủa nó không chỉ đơn thuần là những tác nhân kinh tế mà còn đồng th ời là nh ững thành viên của một hợp quần xã hội. Nói gọn, theo nhiều lý thuyết mới trong kinh tế học, doanh nghiệp muốn đạt đến mức tối đa mục tiêu của nó là “v ị l ợi” thì chí ít ph ải bi ết thế nào là “vị nhân”! Hoạt động của doanh nghiệp, theo đó, muốn có hiệu năng tối ưu, ph ải được chu toàn trong sự tổng hòa những hành vi chiến lược bao gồm ch ủ y ếu ba c ấp đ ộ trách nhiệm mà giới chuyên ngành gọi là bổn phận kinh tế, luân lý và đạo đức. Bổn phận kinh tế của doanh nghiệp là sản xuất và cung ứng hàng hóa - dịch vụ để có được lợi nhuận cần thiết. Nhưng bổn phận ấy chỉ thật sự hoàn thành khi lợi nhuận được phân bổ đúng đắn cho việc phát triển doanh nghiệp và phân phối đồng thời cho tất cả các thành viên liên quan nhằm không chỉ góp phần trực tiếp vào việc mở rộng sự tái tạo vĩ mô của các thành viên ấy mà còn gián tiếp vào sự tái sinh mở rộng xã hội. Vì thế, bổn phận kinh tế phải đi liền với bổn ph ận luân lý c ủa doanh nghiệp, hiểu theo “nghĩa tối thiểu” là doanh nghiệp phải tuân th ủ nền luân lý xã h ội được thiết chế trong những quy định pháp lý của Nhà nước. Theo “nghĩa t ối đa”, b ổn phận trên chỉ được cáng đáng hoàn chỉnh khi doanh nghiệp không chỉ tôn trọng pháp chế mà còn góp phần vào việc pháp điển hóa những quy tắc kinh doanh thu ận l ợi cho việc phát triển môi trường sống của xã hội (nôm na là góp sức vào việc xây dựng một “môi trường kinh tế rộng mở cho xã hội” chứ không phải là thủ thế độc quy ền trục lợi hay/và thừa cơ “luật hở thì lách”!). Bổn phận đạo đức của doanh nghi ệp đ ược minh chứng thông qua những hành vi mang tính ch ất “tự nguy ện”, nghĩa là nh ững hoạt động “vị nhân” không nằm trong khuôn khổ các đòi hỏi thu ộc b ổn ph ận kinh t ế và luân lý. Tính chất vừa nói cũng không nằm trong các “ch ương trình đóng góp từ thiện của doanh nghiệp” - thực chất vốn chỉ là nh ững “hành x ử quan h ệ công cộng/PR” - mà khởi nguyên được thể hiện bởi sự ràng buộc giữa doanh nghiệp với chính lương tâm của nó trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh đ ối v ới t ất c ả mọi đối tác. Thí dụ: dựa vào sự bất đối xứng thông tin trong m ột c ơ ch ế kinh t ế t ập quyền nhằm huyễn hoặc người tiêu dùng thì doanh nghiệp có thể không vi phạm luân lý xã hội - vì pháp chế không ngăn cấm - nh ưng lại là một hành vi vô đ ạo đ ức trong kinh doanh vì mang tính chất “phỉ báng lương tâm nghề nghiệp”! “Mô hình 3c” Chính là dựa vào đường hướng trên mà “mô hình 3C” được định hình đ ể xét v ề “mức độ đạo đức” trong hành vi của doanh nghiệp. Đó là “Conformity”, nghĩa là có đúng theo những chuẩn mực và quy tắc được định ch ế hóa trong các lĩnh v ực kinh t ế và luân lý xã hội hay không. “Contribution” có mức độ cao hơn theo nghĩa có đóng góp
  5. gì trong việc tái tạo môi trường sinh thái của xã hội nói chung và của cá nhân con người nói riêng. “Consequence” nêu vấn đề theo hướng biện ch ứng, nghĩa là xem xét hệ quả của việc thực hiện hai “C” đầu tiên. Nếu ở phương diện vĩ mô các phương cách tiếp cận trên đã mở h ướng cho việc kết hợp tính nhân văn trong hoạt động kinh tế (và minh ch ứng rằng kinh tế không phải là một hành vi thuần túy tính toán “tiền vào ti ền ra”), thì ở lĩnh v ực vi mô, còn phải thuyết phục các nhà quản trị doanh nghiệp về lợi ích cụ th ể của việc ứng dụng đạo đức trong kinh doanh. Đó là công dụng của luận cứ “Ethics Pays” (“Đạo đức đ ược trả công”) c ơ b ản như sau: thực hiện những hành vi mang tính đạo đức kinh doanh không nh ất thi ết luôn luôn phải có những chi phí kèm theo. Ngược lại, mọi hành vi vô đạo đức trong kinh doanh đều luôn luôn, không chóng thì chầy, chịu cái giá phải trả, và giá ấy thường là rất đắt so với cái lợi đã thu được. Hai giải Nobel về kinh tế học năm 1994 và 2005 đánh dấu cho việc triển khai quan niệm trên: “Trạng thái cân bằng của Nash” minh chứng là trong một th ị trường cạnh tranh, điểm “cân bằng tối ưu” chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết hoặc/và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không th ể trên nền tảng c ủa s ự lừa dối l ẫn nhau. “Lý thuyết trò chơi”, của Schelling và Aumann, xác nh ận là trong c ạnh tranh kinh tế nếu mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quy ền l ợi riêng tư c ủa mình thì r ốt cuộc tất cả đều bị thua thiệt nặng nề. Hơn nữa, tôn trọng luân lý xã h ội và th ực hi ện đạo đức trong kinh doanh chính là những hành vi đầu tư vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Ngược lại, vô luân và vô đạo trong kinh doanh là nh ững hành vi triệt tiêu niềm tin và chỉ có thể là loại “đánh quả” của những tác nhân trông mong duy nhất vào việc “hạ cánh an toàn”. Trong thời buổi mà “thương hiệu mạnh” được nhìn nhận như một công cụ t ạo lợi thế cạnh tranh đặc thù cho doanh nghiệp, “niềm tin” càng trở nên cần thi ết. Trong quản trị kinh doanh, khái niệm ấy có nghĩa chính xác: đó là sự “suy đoán rằng trong những sự cố, tình huống bất ngờ và đột xuất, đối tác giao dịch sẽ hành xử theo những nguyên tắc có thể chấp nhận được, nghĩa là không ngược lại với nh ững tiên li ệu trong lĩnh vực luân lý xã hội và đạo đức nhân quần”. Nói gọn, th ương hi ệu là hình thái thiết lập quan hệ doanh thương dựa trên một mức độ tin cậy, và c ơ s ở c ủa s ự tin cậy lại chính là “niềm tin vào tính luân lý và đạo đ ức” c ủa doanh nghi ệp. Do đó đ ạo đức kinh doanh trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu “thật sự mạnh”, nghĩa là có được sự sâu đậm trong việc “chia sẻ tâm trí” với người tiêu dùng song hành với sự “chiếm lĩnh thị phần”! Vấn đề cuối: theo xã hội học kinh tế, khi nhân viên c ủa công ty sai ph ạm trong ứng xử, khuynh hướng chung vẫn cho đấy là thiếu sót thuộc về “văn hóa doanh nghiệp”. Nhưng khi lãnh đạo công ty phạm sai lầm, nhất là sai lầm có ch ủ đích, xu hướng đa số lại thường nhận định đấy là khiếm khuyết về “đạo đức kinh doanh”: thành quả của tổ chức phụ thuộc vào các giá trị của văn hóa công ty, trong khi thành tích của lãnh đạo lại nằm ở diện đạo đức kinh doanh. Vì th ế mà trong ngành qu ản tr ị
  6. kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp thuộc vào loại “cơ ch ế phòng ng ự” c ủng c ố t ổ chức nội bộ và đạo đức kinh doanh lại nằm ở lĩnh vực “mô thức ti ến công” trong việc đối ngoại của công ty. Hiểu được điều này tất sẽ rõ vì sao chi ều h ướng ph ổ biến lại đề cao “văn hóa doanh nghiệp” mà ít nói về “đạo đức kinh doanh”: khái niệm đầu liên quan đến “thuộc hạ”, khái niệm sau chú trọng đến vai trò c ủa “s ếp”, và khi bản thân “sếp” vốn đã không “tử tế, đàng hoàng” lắm thì chẳng ai dại mà luận bàn về “đạo đức kinh doanh”! Chiều hướng phổ biến lại đề cao “văn hóa doanh nghiệp” mà ít nói về “đạo đức kinh doanh”: khái niệm đầu liên quan đến “thuộc hạ”, khái ni ệm sau chú tr ọng đến vai trò của “sếp”, và khi bản thân “sếp” vốn đã không “t ử t ế, đàng hoàng” l ắm thì chẳng ai dại mà luận bàn về “đạo đức kinh doanh”! Doanh nghiệp nên tổ chức cho tất cả nhân viên cùng đóng góp xây dựng các quy tắc, tự đề ra trách nhiệm và hướng giải quyết khi xảy ra các vấn đề liên quan đến đạo đức. Tôn Thất Nguyễn Thiêm Thực hiện trách nhiệm xã hội, DN lợi hay thiệt? Khách hàng nước ngoài khi mua hàng của DN Vi ệt Nam, v ẫn đ ặt yêu c ầu v ề trách nhiệm xã hội, nhưng rất nhiều DN băn khoăn vì đầu tư tốn kém. DN còn lơ mơ Trách nhiệm xã hội trong quan lý DN, gọi chung là trách nhiệm xã hội (TNXH), được hiểu là việc DN thực hiện các quyền lợi dành cho cán bộ công nhân viên, người lao động nói chung. Đó là sự chăm sóc đến quyền lợi người lao động, từ điều kiện làm việc, đến chăm sóc sức khỏe, sự tôn trọng, công bằng về tiền l ương, ti ền công, chăm sóc đời sống tinh thần… Chứng chỉ SA8000 tập trung đề cao các nội dung này. Hiện nay trên thế giới, TNXH là một yêu cầu khá khắt khe trong ho ạt đ ộng s ản xu ất kinh doanh. Mặc dù đây là hoạt động tự nguyện, nhưng do sự đề cao nên có những nước đưa ra thành những quy định pháp luật. Liên hiệp quốc đã có 9 nguyên tắc quy định về vấn đề này. Ủy ban châu Âu đã đưa ra “Văn bản xanh”, trong đó TNXH đ ược hiểu như là việc DN đưa các vấn đề xã hội và môi trường vào các hoạt đ ộng một cách tự nguyện. Australia đã đề xuất bộ Luật về TNXH, Anh quốc hàng năm đ ưa ra kết quả nghiên cứu và kèm theo đó là khuyến nghị của các Bộ ngành. Tuy nhiên hiện tại, hoạt động này ở Việt Nam chưa được nhiều DN quan tâm. Trước đây, các DN Việt Nam có thực hiện TNXH là do yêu cầu của đối tác là khách hàng nước ngoài, khi khách hàng có yêu cầu. Ông Trần Ngọc Trung, giám đốc Trung tâm huấn luyện và chuyển giao công nghệ quản lý của Hiệp hội Doanh nghi ệp có v ốn đầu tư nước ngoài, cho biết: khái niệm TNXH manh nha du nhập vào Việt Nam khoảng từ năm 1995, khi Việt Nam tổ chức một Hội nghị quản lý ở Hà N ội. T ừ vi ệc “chữa cháy” là gặp đâu làm đó, sai đâu sửa đó, chuyển dần sang xu thế “phòng ngừa”,
  7. khái niệm này bắt đầu được DN chú ý tìm hiểu để th ực hi ện. Tuy nhiên đ ến nay, cũng chỉ có 1991 chứng chỉ phù hợp với ISO 14000, một con số rất ít ỏi. Việt Nam vẫn chưa có một quyết định nào của Nhà nước và giao vấn đề này cho cơ quan nào chịu trách nhiệm. Ông Trung cho rằng, sức cạnh tranh của hàng Vi ệt Nam b ị y ếu, cũng có một nguyên nhân từ đây. Vì vậy, hiện tại ở Việt Nam nếu kể đến DN áp dụng t ự giác và đã thành công trong lĩnh vực này rất ít ỏi. Một số đã thực hiện tốt là các công ty nước ngoài đầu t ư vào Việt Nam, như NIKE, Adidas, Columbia Sport, JC Penny. DN trong nước áp dụng thành công được nêu làm ví dụ tiêu biểu như Coart Phong Phú, (sản xuất phụ liệu cho ngành dệt và may mặc), Dệt Thành công, Giày Thái Bình... không có nhi ều. Giày Thái Bình đã xây dựng chỗ ở cho 1.000 lao động, trong đó xây 500 căn h ộ chung c ư cho gia định người lao động. Hay như Dệt Thành Công là đơn vị đã đạt chứng ch ỉ SA8000, ấn tượng nhất ở DN này là trong các cơ sở sản xuất của công ty đều được trang bị một hệ thống quạt hơi nước đã làm lạnh, tạo không khí mát mẻ dễ chịu. Lợi hay thiệt? Đó là câu hỏi mà các DN băn khoăn nhiều nhất khi đả động đến vấn đ ề này. Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Tổng Giám đốc công ty Dệt Thành Công, cho bi ết, khi khách hàng nước ngoài đến công ty đặt hàng, vấn đề đầu tiên khách hàng quan sát là điều kiện làm việc, sức khỏe công nhân, xử lý chất thải, nhà ăn, nhà vệ sinh… ch ứ không phải kiểm tra chất lượng sản phẩm. Khách hàng Mỹ đặc biệt chú trọng điều này. Trong một khảo sát của gần 100 DN ở Hà Nội và TP.HCM, nhiều DN đã nh ận ra, khi thực hiện TNXH, sẽ thu lại phần lợi trên một số điểm: thêm đ ối tác khách hàng, tăng đơn hàng, thu hút được lao động; lợi ích lâu dài là người lao động gắn bó, giúp DN cải tiến tốt hơn về phương pháp quản lý; sức khỏe ng ười lao đ ộng b ảo đ ảm s ẽ cho hiệu quả công việc cao hơn, chất lượng sản phẩm tăng, giảm sản phẩm hư, làm h ạ giá thành sản phẩm, nhờ đó nâng cao khả năng cạnh tranh về năng suất và chất lượng, tạo lợi thế cạnh tranh, phát triển bền vững. Tuy nhiên, theo các DN, việc thực hiện TNXH cũng là một thách th ức không nh ỏ. Cũng trong đợt khảo sát nêu trên, các băn khoăn của DN đưa ra tập trung ở một số điểm, trong đó hầu hết đều nêu ý kiến DN Việt Nam hầu hết ít vốn, th ực hi ện TNXH sẽ làm tăng thêm chi phí đầu tư, tức tăng giá thành sản ph ẩm. Các y ếu t ố nh ư: thiếu người thực hiện, tốn thời gian, cộng với nhận th ức của người lao đ ộng ch ưa thấu đáo, luật pháp chưa có quy định… được xem như là thách th ức, khi ến DN e ngại. Ông Trần Ngọc Tuệ, chuyên viên tổ chức phi chính phủ Action Aids Việt Nam, cho biết, vì vậy, hầu hết các DN cho rằng TNXH như hoạt động từ thiện, hoặc thực hiện một bộ quy tắc ứng xử (CoC) nào đó, một gánh nặng tốn kém, chứ không ph ải là trách nhiệm của DN.
  8. Phân tích về việc bỏ ra chi phí này, là chi phí hiển nhiên hay phải bỏ thêm tiền túi của DN, bà Phan Thị Hải Yến, chuyên viên tổ chức TNXH quốc tế (SAI), một t ổ ch ức phi chính phủ tại Việt Nam, cũng là cơ quan chấp bút SA8000, cho rằng: Đây là quyền lợi của người lao động, người lao động xứng đáng được h ưởng. Vì v ậy, th ực hiện TNXH là nghĩa vụ của DN phải thực hiện, nên không th ể cho r ằng DN ph ải b ỏ tiền túi. Đó là chưa kể, khi đầu tư vào đây, về trước m ắt nh ư lâu dài, DN thu l ại nhiều lợi ích đặc biệt khác. Theo ông Trần Ngọc Trung, trong xu thế cạnh tranh và hội nh ập hiện nay, việc thực hiện TNXH là vấn đề không thể không thực hiện, vì vậy DN ph ải nghĩ đ ến ngay t ừ bây giờ. Ông Trung cho biết, kinh nghiệm khi ít tiền các DN nên đầu t ư tr ước vào việc nâng cao nhận thức cán bộ công nhân, sắp xếp cải tạo điều kiện lao đ ộng, là những việc làm chi phí thấp, nhưng có hiệu quả trong th ời gian ng ắn. Còn v ề lâu dài, việc đầu tư đầy đủ để tiến tới nhận chứng chỉ SA8000 là việc cũng rất cần làm. - Tại một nhà máy của công ty dệt may đã cải tạo hệ thống ánh sáng, thông gió, nhà vệ sinh… khoảng 1 tỷ đồng, trong vòng 3 năm năng suất lao động tăng 18%. - Một công ty giày đầu tư vào trang thiết bị và cải tạo điều kiện lao động trong th ời gian qua đã giúp đạt sản lượng kỷ lục 5,5 triệu đôi giày / năm 2004, xuất kh ẩu được 50%. - Công ty Coast Phong Phú tập trung vào chăm sóc đ ời s ống v ật ch ất và tinh th ần, xây dựng điều kiện làm việc, nhờ đó năng suất lao động tăng lên. (Nguồn: Trung tâm huấn luyện và chuyển giao công nghệ quản lý của Hiệp hội DN có vốn đầu tư nước ngoài). Đặng Vỹ ̉ baó đaọ đức nghề kế toan Canh ́ taị Viêṭ Nam Việc hành xử thiếu đạo đức trong nghề kế toán là hiện t ượng c ực kỳ ph ổ bi ến tại Việt Nam - Bà Nguyễn Phương Mai, Trưởng đ ại diện Hi ệp h ội K ế toán công chứng Anh (ACCA) tại Việt Nam, nhâṇ đinh. ̣ Bà Phương Mai kể trong đợt kiểm tra các công ty kế toán gần đây, người ta thấy có nhiều nhân viên không biết đọc báo cáo kiểm toán, không biết lập báo cáo tài chính. Nhân viên kế toán vẫn nhận hợp đồng của khách hàng d ẫu không có chuyên môn. Điều này là một trong những biểu hiện của việc thiếu đạo đức kế toán. Mặt khác, sinh viên hiện nay chưa có tính tự giác, ch ưa đặt nặng tính chuyên nghi ệp mà chỉ chú trọng đến kỹ năng chuyên môn. Trong một lần thực hiện ph ỏng vấn, có sinh viên quá tự tin hỏi rằng: “Nếu em vào làm trong công ty chị thì bao lâu em sẽ thay thế được chị?”. Bà Phương Mai cho rằng ý thức vươn lên là tốt nhưng ph ải bi ết trình bày một cách tế nhị vì “có công bằng tới đâu thì cũng là con người”.
  9. Giải thích về điều này, Trưởng đại diện ACCA tại Việt Nam cho rằng hiện nay thị trường đang thiếu hụt lao động kế toán nên chỉ cần một ít chuyên môn là đa ̃ đ ược các công ty tuyển dụng ngay lập tức. Điều này về lâu dài sẽ có hại cho th ương hiệu công ty và ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngh ề kế toán - ki ểm toán Vi ệt Nam. Vì sau nhiều vụ bê bối về tài chính, các công ty trên thế giới đang rất chú ý đ ến đ ạo đ ức nghề nghiệp. Chuyên môn có thể đào tạo được còn đạo đức thì sẽ rất khó khăn. Trả lời câu hỏi: “ACCA có những hỗ trợ nào để thay đổi quan niệm trên ở sinh viên hay không?”, bà Nguyễn Phương Mai cho biết: Trước mắt trong cuộc thi dành cho sinh viên ngành kế toán, kiểm toán, tài chính, ngân hàng mang tên “ACCA t ương lai”, lần đầu tiên sẽ xuất hiện câu hỏi về cách hành xử trong nghề. Câu hỏi được trình bày dưới dạng một clip ngắn. Đây cũng là cách mà ACCA dạy cho các học viên qua mạng. Người học xử lý những trường hợp như trong đời thường. Nếu trả lời sai, clip gợi ý người học nên xem lại tài liệu để biết cách hành xử như th ế nào là chuẩn. Vì theo đại diện ACCA, nếu chỉ đưa ra lí thuyết suông thì sinh viên có thể quên ngay. Hiếu Hiền Đạo đức trong quảng cáo. Cậu bé độ tuổi cấp 1, đang tung tăng nh ảy chân sáo đ ến tr ường. Trên tay c ậu là m ột mẩu bánh mì con con, phần ăn sáng mẹ đã chu đáo chu ẩn b ị. M ột c ậu bé khác to con hơn, “bặm trợn” hơn, tiến tới chìa tay ra đòi mẫu bánh, nét mặt đầy vẻ hăm doạ. Cậu bé nhỏ con đành “chia tay“ phần ăn sáng của mình trong uất ức. Đó là một phần nội dung đoạn phim quảng cáo sữa N được trình chi ếu cách đây không lâu. Dù đoạn phim kết thúc có hậu, khi công ty quảng cáo – đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng ý tưởng kịch bản quảng cáo, đã có cậu nhỏ con uống sữa N, khiến trong một thời gian ngắn, cậu đã lớn nhanh như thổi. Để rồi khi tên bắt nạt đường phố xuất hiện, cậu bé không còn sợ sệt mà đã tươi cười chia hai ph ần bánh cho b ạn. Thế nhưng, đoạn phim trên vẫn gây một làn sóng phản đối từ các bậc phụ huynh. Họ không hài lòng với conpect (thông điệp quảng cáo) đề cao “sức mạnh quy ền l ực“ mà nhãn hiệu sữa N đã truyền tải, họ không muốn con cháu mình nhiễm đ ộc t ư tưởng “tôn thờ cơ bắp“. Quảng cáo là một lãnh vực có ảnh hưởng nhất định đến nhận thức xã hội Có phải các quý vị phụ huynh kia đã quá lo xa khi cho r ằng suy nghĩ c ủa con cháu h ọ sẽ bị nội dung quảng cáo trên làm ảnh hưởng? Tầm ảnh hưởng của quảng cáo đối với xã hội Quảng cáo là một lĩnh vực nhất định có ảnh hưởng đến nhận th ức xã h ội. M ỗi ngày, bước ra đường, bạn thấy nhan nhản poster, billboard giăng đ ầy đ ường ph ố. Vào đ ến công ty, mở internet ra là đụng ngay hàng loạt thư quảng cáo mời chào. Sau m ột ngày làm việc vất vả, về nhà bật tivi lên xem giải trí, bạn cũng không thoát kh ỏi m ột s ố phim quảng cáo “nhảy vào“ giữa chương trình yêu thích. Rồi quảng cáo trên báo chí,
  10. trên radio… Với tuần suất xuất hiện như vậy, quảng cáo không tác động đến nh ận thức của bạn mới lạ! Quảng cáo đã và đang thay đổi từ thói quen mua s ắm, đ ộng thái tiêu dùng, đ ến c ả suy nghĩ, quan điểm xã hội. Nói thế để thấy rằng nh ững quan đi ểm quy tắc chung v ề chuẩn mực đạo đức trong quảng cáo, để “kiểm duyệt“ một mẫu quảng cáo trước khi nó “dội bom“ vào nhận thức của công chúng là hết sức quan trọng. Theo Laczniak & Murphy, quảng cáo gây ra những điều hết sức nguy hiểm sau cho xã hội: - Lôi cuốn con người chạy theo những động cơ thuộc bản năng. - Gây nên nhiều tác động khác nhau nhưng lại hoàn toàn không ph ải ch ịu trách nhi ệm về mặt xã hội. - Có tác động mạnh đến quá trình xây dựng tính cách của trẻ con. - Tạo ra những ham muốn và thèm khát không thích hợp. - Làm thay đổi các chuẩn mực đạo đức của xã hội. Đó là lý do tại sao khi một mẫu quảng cáo chuẩn bị tung ra, cần ph ải được xem xét thật kỹ lưỡng dưới những tiêu chuẩn đạo đức nhất định. Qui tắc trong đạo đức quảng cáo Rất khó để xây dựng những căn cứ nhất định một mẫu quảng cáo đủ ch ất l ượng đ ể xuất hiện trước công chúng. Thêm vào đó, quy tắc đạo đức trong quảng cáo lại khá bao quát và khó định đúng – sai, do nó chủ yếu dựa vào những chuẩn mực riêng của từng cá nhân hay từng xã hội. Xã hội Phương Tây chắc chắn sẽ có chuẩn mực đạo đức khác với xã hội phương Đông. Tuy nhiên, vẫn có một số nền t ảng cho qu ảng cáo, mà hai nền văn hoá đều tìm thấy tiếng nói chung. Đó là qui t ắc 3A: Advocasy (tính tích cực), Accurcy (độ chính xác) và Acquisitiveness (sức truyền cảm). Cụ thể: - Một quảng cáo được xem như tích cực khi nó không vi phạm những điều sau: không phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay giới tính, không có hành vi hay thái độ ch ống đ ối xã hội, không đề cập đến những vấn đề có tính ch ất cá nhân, không dùng ngôn ng ữ không phù hợp như tiếng lóng hoặc tiếng nói tục, không có cảnh khoả thân… - Quảng cáo phải tuyệt đối đảm bảo độ chính xác, đặc biệt khi đ ề c ập đ ến thành phần sản phẩm, kết quả thử nghiệm… Tuyệt đối không đựơc dùng nh ững từ ngữ “tốt nhấ “ “số 1“… - Quảng cáo bị đánh giá là không truyền cảm khi có l ạm d ụng hình ảnh “nh ạy c ảm“ về giới tính không liên quan đến sản phẩm, lạm dụng hình ảnh ng ười t ật nguy ền hoặc thiểu năng, quảng cáo gây những cảm giác không phù h ợp nh ư s ợ hãi ho ặc căm ghét… Mỗi ngành nghề đều có những qui tắc, luật lệ riêng của nó. Tuy nhiên, đ ối với ngành quảng cáo còn non trẻ như tại Việt Nam hiện nay, khi luật qu ảng cáo và các qui t ắc
  11. đạo đức trong quảng cáo còn tương đối lỏng lẻo, thì h ầu nh ư m ọi ng ười trong ngh ề đều tự dựa vào những chuẩn mực đạo đức của riêng mình khi tạo ra một sản ph ẩm quảng cáo mới. Điều đó đôi khi dẫn đến những sai lầm không ch ỉ c ủa s ản ph ẩm quảng cáo đó, mà có thể người tiêu dùng cũng bị ảnh h ưởng. Xin được k ết b ằng hai ví dụ được xem như vi phạm đạo đức quảng cáo thời gian vừa qua. Công ty xuất hiện nệm K đã đề cập đến yếu tố “nệm lò xo gây h ại cho s ức kho ẻ người tiêu dùng“ trong khi bản thân công ty chỉ s ản xuất nêm cao su. Đi ều này khi ến cho tình hình của các công ty sản xuất nêm lò xo khác như VT, AD b ị ảnh h ưởng. Công ty K đã phải công khai đính chính và xin lỗi các công ty trên. Chương trình khuyến mãi cách đây vài năm của công ty W là một ví dụ khác – ghép các que kem để trúng dàn máy vi tính. Thời gian đó, các bậc phụ huynh liên t ục than khổ vì con cái họ cứ ăn kem trừ cơm. Thậm chí có em còn mua c ả kem, không ăn mà cho vào vòi nước để kem chảy để lấy que trúng thưởng. Tuy nhãn hiệu kem W không hề vi phạm điều luật nào, nhưng hình ảnh của họ đã bị sút giảm đáng kể với khách hàng. Vì lợi nhuận riêng, họ rầm rộ khuyến mãi mà không quan tâm đ ến s ức kho ẻ người tiêu dùng. Theo Tạp Chí Marketing Lợi nhuận tiêu cực… Hội nhập kinh tế toàn cầu đặt ra bài toán về sự cạnh tranh và về sự tồn tại của các doanh nghiệp Việt Nam. Lời giải duy nhất cho bài toán này là khả năng tạo ra lợi nhuận. Làm kinh tế là đi tìm lợi nhuận. Lợi nhuận kích thích sản xuất, thúc đẩy lưu thông phân phối. Lợi nhuận là mục tiêu số 1 trong kinh doanh. Lợi nhuận đồng thời là đòn bẩy thúc đẩy nhiều sang kiến, sang chế. Lợi nhuận kích thích người lao động sản xuất. Ngay cả những hoạt động từ thiện thường gọi là hoạt động phi lợi nhuận cũng nhắm vào mục tiêu lợi nhuận: Người ban phát không thụ hưởng vật chất nhưng có được niềm vui bác ái - một loại lợi nhuận tinh thần. Khó có một hành vi xã hội hoàn toàn không vụ lợi. Cần phân biệt hai loại lợi nhuận: lợi nhuận tích cực vừa cho cá nhân vừa có ích cho sự phát triển xã hội và lợi nhuận tiêu cực chỉ ích lợi cho bản than một số người, nhưng có thể gây ra nhiều xáo trộn, nhiều khó khăn cho cộng đồng. Ở đây, xin đề cập tới vài loại lợi nhuận tiêu cực: 1. Trốn thuế hay gian lận thuế: Đó là một hình thức tìm lợi nhuận cho cá nhân, nhưng ngược lại gây thiệt hại cho xã hội. Nhiều doanh nghiệp làm ăn mua bán sản xuất thường có thói quen tr ốn thu ế, nh ất là thuế thu nhập doanh nghiệp. họ luôn luôn tìm cách tăng các loại chi phí để trong
  12. quyết toán hoạt động của doanh nghiệp chỉ đạt mức hoà, lộ chút đỉnh, hoặc nếu có lời thì rất ít. “Trốn thuế hoặc tìm cách giảm bớt thuế đâu có hại cho cá nhân ai!” – quan điểm này tiếc rằng còn khá phổ biến trong một số doanh nhân. Doanh nhân chân chính có quan niệm khác: sau khi hoàn thành các nghĩa vụ đối với NSNN, ph ần l ời còn lại mới chính là lợi nhuận thu được. Khi nào đại đa s ố các doanh nghi ệp coi vi ệc nộp thuế theo luật định là một bổn phận và cố gắng hoàn thành t ốt thì lúc đó n ền kinh tế mới phát triển theo chiều hướng lành mạnh. Dĩ nhiên, các mức thuế phải hợp lý, nhưng đò là công việc của Nhà nước. Chính thuế suất hợp lý là đòn bẩy kích thích doanh nhân đầu tư phát triển kinh doanh, h ạn ch ế tiêu cực trong nghĩa vụ nộp thuế. 2. Đầu cơ tích trữ nguyên liệu, hàng hóa: gây khan hiếm trong khâu lưu thong phân phối cũng là một hành động kinh doanh tìm lợi nhuận bất chính. Hi ện nay, do nh ờ có Luật Doanh nghiệp, Luật thương mại… cạnh tranh được thúc đẩy m ạnh m ẽ và hành động đầu cơ tích trữ trở nên khó thực hiện hơn, nhưng không phải không có (ví dụ như trong lĩnh vực điện thoại di động, xăng dầu, thuốc chữa bệnh). Gây khan hi ếm hàng hóa để đẩy giá lên thật cao nhằm đạt lợi nhuận cá nhân theo th ời cơ ho ặc th ời vụ, là cách kiếm lợi nhuận tiêu cực rất đáng trừng phạt. Rất khó ki ểm soát hành động đầu cơ tích trữ nếu từ trong ý thức của người kinh doanh không có sự phân bi ệt về hai loại lợi nhuận bất chính và chính đáng. Đây là một v ấn đ ề thu ộc v ề đ ạo đ ức của doanh nhân. 3. Phân phối các loại hàng hóa kém phẩm chất: nhập các loại hàng hóa cũ từ nước ngoài về, tân trang lại, đưa ra thị trường tiêu thụ cũng là thể hiện một hành vi tìm lợi nhuận tiêu cực trên sự thiệt hại của người sử dụng. Trong thời đ ại c ạnh tranh công nghệ, việc nhập các máy móc và công nghệ đã lỗi thời không tạo được hang tốt, đúng tiêu chuẩn quốc tế, chỉ đem lại thiệt hại cho sự phát triển công nghệ trong nước thì cũng cần bị lên án và xử lý nghiêm khắc. 4. Sử dụng lao động, sử dụng chất xám của các chuyên gia nhưng không đãi ngộ xứng đáng với công sức đóng góp của họ là một hình thức bốc lột lao động đ ể gia tăng lợi nhuận tiêu cực. Lợi nhuận của một công ty luôn có tương quan với sự đóng góp của người lao động. Công ty kinh doanh muốn gia tăng lợi nhuận thì nh ật đ ịnh phải quan tâm đến lợi ích của người lao động trực tiếp làm ra c ủa c ải v ật ch ất. Quan hệ thủ thợ sẽ tốt đẹp nếu chủ nhân quan tâm tới lợi ích công nhân, ngược lại công nhân luôn lao động tích cực và tìm cách gia tăng l ợi nhu ận cho doanh nghi ệp. Đó là 2 vế tương hỗ của một bài toán kinh tế, cần được xử lý m ột cách lành m ạnh, phù h ợp với lợi ích của đôi bên. (Theo Báo Doanh nhân cuối tuần, số 29, ngày 06/02/2004) Đaọ đức marketing
  13. Đạo đức là các tiêu chuẩn về cách hành xử chi phối t ư cách c ủa các cá nhân, nhóm và các tổ chức kinh doanh. So với các chức năng khác, marketing là một lĩnh vực có nhiều khả năng phát sinh các vấn đề về đạo đức. Sau đây là những mục tiêu mà những người làm marketing phải nắm bắt, cũng nh ư những điều vi phạm đạo đức mà họ đã làm, để đạt được những mục tiêu này: + Xây dựng sự nhận thức. Quấy rầy khách hàng hết lần này đến lần khác bằng thông điệp của mình, sẵn sàng xâm phạm sự riêng tư của khách hàng nếu cần thiết. + Giúp các sản phẩm và dịch vụ của công ty trở nên nổi bật. Cường điệu các điểm tích cực và che giấu những điểm tiêu cực bằng một vẻ ngoài đẹp mắt. + Khuyến khích khách hàng mua hàng. Hứa hẹn với khách hàng quá mức. Theo nhìn nhận của công chúng, các mẩu quảng cáo th ường m ắc ph ải nhi ều v ấn đ ề về chuẩn mực đạo đức. Có bao nhiêu mẩu quảng cáo trên truyền hình mà bạn đã xem có cảnh lái xe rất ẩu? Có bao nhiêu mẩu quảng cáo v ề ngân hàng và th ẻ tín d ụng khuyến khích tự do vay mượn để tiêu dùng cá nhân? Các m ẩu qu ảng cáo này nói những lời lẽ hết sức khoa trương: "Hãy tận hưởng một kỳ nghỉ lý t ưởng. Th ẻ tín dụng của chúng tôi sẽ làm cho điều đó thật dễ dàng". Đừng bao giờ bận tâm rằng quá nhiều người sẵn sàng nợ nần, vì đây là những người có nhiều khả năng hưởng ứng quảng cáo nhất. Đặc biệt, những mẩu quảng cáo nhắm đến trẻ em đã dẫn đến nhi ều lời than phiền của công chúng. Áp lực để được chú ý đã khiến các nhà quảng cáo thi nhau hô hào, th ậm chí v ượt quá ngưỡng cư xử đạo đức. Đồng thời, Internet cũng mở ra những lĩnh vực quan tâm mới, đáng chú ý nhất là thu thập và sử dụng trái phép thông tin của khách hàng. Mặc dù nhiều nước, chẳng hạn như Mỹ, đã ban hành luật cấm nh ững hành vi vô đ ạo đức trong marketing, song rõ ràng là những luật này sẽ chẳng bao gi ờ ki ềm ch ế đ ược tất cả mọi hành vi xấu dưới danh nghĩa marketing. Chỉ những nguyên tắc đạo đức tốt đẹp trong phạm vi các công ty, ngành công nghiệp và các nhóm chuyên nghiệp là đủ khả năng làm điều đó. Theo Công ty Ethics Quality thì "Các nguyên tắc đạo đức có tác dụng như một chiếc máy lọc dầu trong cỗ máy marketing: chúng lọc các t ạp ch ất đ ể dầu có thể làm cho cỗ máy hoạt động. Tất cả các công ty c ần nh ững nguyên t ắc đ ạo đức để lọc bỏ bản chất không tốt của thương trường cạnh tranh đ ể có th ể nh ắm đến, thu hút và giữ chân những khách hàng tốt cho công ty". Đây là một lời khuyên quý giá. Thật khó xác định rõ liệu khách hàng ngày nay có khó ch ịu vì marketing h ơn so v ới trước đây hay không, hay liệu khách hàng ngày nay đã sẵn sàng thẳng thắn bày tỏ ý kiến mỗi khi bất bình hay chưa. Chỉ biết rằng, trong bất cứ trường h ợp nào đi nữa, sự thiếu đạo đức cũng khiến bộ phận marketing phải chịu ti ếng x ấu. Tình hu ống không hay này chắc chắn sẽ làm giảm tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư cho marketing. Vì vậy, một trong những thử thách của công tác marketing là cải thiện niềm tin c ủa công chúng vào các cuộc truyền thông marketing. Cách hiệu quả nhất để đạt đ ược điều đó là đảm bảo rằng mọi hình th ức h ỗ trợ bán hàng, qu ảng cáo, đ ịnh giá, và m ọi
  14. hành vi sử dụng thông tin của khách hàng đều ph ải phù h ợp với m ột chu ẩn m ực đ ạo đức cao. Các thử thách được mô tả trong chương này có ý nghĩa quan tr ọng. Ba trong số đó - giữ đúng lời hứa, đánh giá và giải trình trách nhiệm, và cư xử hợp đạo đức - là những thử thách bên trong, của riêng công ty và nằm trong tầm ki ểm soát c ủa các nhà quản lý cũng như nhân viên. Những khó khăn này sẽ được gi ải quy ết n ếu m ọi ng ười đối diện chúng một cách nghiêm túc. Những thách thức khác ở bên ngoài và khó gi ải quyết hơn thông qua hành động trực tiếp. Chẳng hạn, một mình công ty không th ể thay đổi sự thật rằng thông tin giữa họ và khách hàng ngày càng bão hòa. H ọ cũng không thể loại bỏ sự hỗn loạn trong quảng cáo và hỗ trợ bán hàng vốn cản trở truyền thông marketing. Tuy nhiên, ngay cả những khó khăn lớn hơn cũng có th ể vượt qua nếu có chiến lược marketing hiệu quả và sáng tạo. Tóm tắt + Sự bất đối xứng về thông tin vốn là điều thuận lợi cho nhà sản xuất giờ đang đi đến hồi kết thúc, phần lớn là do sự xuất hiện của Internet. Nhà sản xu ất ph ải tìm cách điều chỉnh tình hình mới này. + Các công ty phải cam kết giữ đúng lời h ứa, nghĩa là h ọ ph ải rút ng ắn kho ảng cách giữa những lời hoa mỹ về sản phẩm cũng như về thương hiệu công ty với thực tế mà khách hàng trải nghiệm. + Những thông điệp marketing hầu như không nhận được sự chú ý của mọi người. Cách hiệu quả để giải quyết tình trạng này là cung cấp những thông điệp marketing chứa đựng một giá trị nào đó đối với khách hàng. + Những người làm công tác marketing nói chung và quảng cáo nói riêng th ường v ấp phải các vấn đề về chuẩn mực đạo đức. Sự nhận biết của công chúng về hành vi này chắc chắn sẽ làm giảm tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư marketing. Cơ hội nghề nghiệp bình đẳng Hàng ngày chúng ta thấy nhan nhản các mẩu quảng cáo tuyển dụng có nội dung đại loại như: “Cần tuyển một nhân viên kinh doanh, nam, từ 27-32 tuổi, chưa có gia đình”; hoặc “Cần tuyển một thư ký, nữ, tuổi từ 20-28, ngoại hình đẹp, độc thân”. Rõ ràng những thông báo tuyển dụng này đã phân biệt đối xử người lao động về tuổi, về giới tính, về tình trạng gia đình. Gần đây, trên một số mẩu quảng cáo tuyển dụng, có một số tổ chức và công ty đã dành khoảng 3% diện tích quảng cáo để đề cập đến một nội dung khá lạ so với th ị trường lao động VN: - XXX là một tổ chức tuyển dụng công bằng. - YYY mang lại cơ hội tuyển dụng công bằng và bình đẳng cho mọi đối t ượng b ất kể chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, nguyên quán, tuổi tác, bệnh tật, tình trạng hôn nhân hoặc xu hướng giới tính. - AAA nỗ lực nhằm đạt cơ hội nghề nghiệp bình đẳng trong mọi hoạt động nhân sự.
  15. Các công ty đó đang nói về Equal Employment Opportunity (EEO) - C ơ h ội bình đ ẳng trong nghề nghiệp, một luật khá quan trọng tại Mỹ, Canada và một số n ước tiên ti ến khác. Nói một cách vắn tắt, đây là luật yêu cầu t ạo c ơ h ội bình đ ẳng cho t ất c ả m ọi người lao động. Theo đó, khi người chủ lao động tiến hành những quy ết định về nhân s ự - tuy ển dụng, sử dụng, đãi ngộ, thăng tiến, và sa thải người lao động - thì ph ải th ực hi ện h ết sức công bằng và bình đẳng dựa vào những yếu tố như năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm và những thành quả lao động của cá nhân đó. Người sử dụng lao đ ộng không được đưa ra những quyết định nhân sự dựa vào những yếu tố có tính cách phân biệt đối xử như chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, nguyên quán, tuổi tác, bệnh tật, tình trạng hôn nhân, xu hướng chính trị. Áp dụng EEO ở các nước Luật này được hình thành khá sớm, ở Mỹ bắt đầu thi hành từ năm 1963, và tr ở thành thông lệ, thành văn hóa doanh nghiệp của các công ty. Ngay cả hình th ức bằng c ấp tại các nước tiên tiến cũng thể hiện một phần nào đó c ơ h ội công b ằng cho m ọi người. Tấm bằng đại học, sau đại học của nhiều trường đại học quốc tế ở Mỹ, Úc và các nước tuy rất trang trọng nhưng khá đơn giản. Thông tin duy nh ất c ủa ng ười được cấp bằng chỉ là họ và tên. Chấm hết! Không có hình, không có ngày tháng năm sinh, không xác định giới tính, không có nguyên quán… Một trong những lý do c ủa vi ệc đơn giản hóa này là để người sở hữu bằng tránh bị phân biệt đối xử về chủng tộc, giới tính, nguồn gốc, tuổi... Không chỉ ở các nước phương Tây, một số nước châu Á như Singapore, Hong Kong cũng đang bắt đầu từng bước áp dụng những luật tương tự EEO. Báo Tuổi Trẻ ra ngày 29-12-2006, đăng tin cho biết Hàn Quốc vừa đưa ra hàng loạt biện pháp m ạnh nhằm chống phân biệt đối xử về tuổi tác và ngoại hình phụ nữ. Theo luật EEO, khi thực hiện quảng cáo tuyển dụng và ra quy ết đ ịnh tuy ển ch ọn, người sử dụng lao động chỉ được tìm kiếm sự phù hợp của người lao động cho những yêu cầu của vị trí công việc. Nói cách khác, người sử dụng lao động phải có một bảng mô tả công việc của vị trí cần tuyển, những yêu cầu về h ọc v ấn, năng l ực, kinh nghiệm, kể cả một số yêu cầu về tính cách, hành vi, phẩm ch ất đ ặc bi ệt mà công việc đó đòi hỏi. Người sử dụng lao động không có quyền đưa bất cứ yêu cầu nào khác vào trong thông báo tuyển dụng và quyết định tuyển chọn của mình. Khi có bất kỳ một b ằng chứng nào về việc vi phạm, người sử dụng lao động sẽ bị ph ạt tùy theo mức đ ộ quy định của quốc gia đó. Trong thời gian người viết bài này học luật EEO trong chương trình MBA tại Sydney, thì ngay tại Úc xảy ra một trường hợp vi phạm luật EEO, đ ược các gi ảng viên dùng làm tài liệu “sống” để giảng trên lớp.
  16. Trong cuộc phỏng vấn, người tuyển dụng hỏi ứng viên nữ: “Tình trạng gia đình cô thế nào?”. Lần đầu, ứng viên khôn khéo trả lời: “Tôi sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về công việc”. Sau đó người tuyển dụng lại hỏi về tình trạng gia đình một l ần n ữa. Lần này cô ta đã không bỏ qua mà dùng chứng cớ hai lần hỏi đó ki ện công ty ra tòa. Kết quả là công ty tuyển dụng này phải đóng một số tiền kha khá cho sự vi ph ạm trên. Cơ hội bình đẳng cho người lao động VN Ở VN, các cơ quan chức năng hầu như chưa quan tâm vấn đ ề này. Vì th ế có r ất nhiều công ty nước ngoài dù đã thi hành luật này rất tốt tại nước mình nh ưng qua VN họ lại hành xử như chưa từng biết về EEO. Còn các công ty VN thì h ầu h ết l ại ch ưa biết đến khái niệm này. Hàng ngày chúng ta thấy nhan nhản các mẩu quảng cáo tuyển dụng có nội dung đại loại như: “Cần tuyển một nhân viên kinh doanh, nam, từ 27-32 tuổi, chưa có gia đình”; hoặc “Cần tuyển một thư ký, nữ, tuổi từ 20-28, ngoại hình đẹp, độc thân”. Rõ ràng những thông báo tuyển dụng này đã phân biệt đối xử người lao động về tuổi, về giới tính, về tình trạng gia đình. Có lẽ đã đến lúc các doanh nghiệp VN cần quan tâm nhiều h ơn đ ến nh ững quy đ ịnh cũng như tập quán quốc tế. Gia nhập WTO, làm ăn với các đ ối tác l ớn, đôi khi chúng ta sẽ bị bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn thông lệ của họ. EEO có th ể s ẽ tr ở thành một yêu cầu của đối tác. Hơn thế nữa, khi tự đặt ra nh ững tiêu chu ẩn v ề tu ổi, về giới tính, về tình trạng gia đình... những doanh nghiệp tuyển dụng đang làm h ạn chế nguồn ứng viên của mình. Quay trở lại ví dụ về mẩu tuyển dụng nhân viên kinh doanh vừa kể ở trên, thay vì yêu cầu người đó là nam, từ 27-32 tuổi, chưa có gia đình, chúng ta có th ể đưa ra yêu cầu như sau: “Cần tuyển một nhân viên kinh doanh, nhiệt tình, năng động, có khả năng giao tiếp, chịu được áp lực về doanh số, có ý chí vươn lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm về bán hàng hay tiếp thị. Công việc đòi hỏi phải th ường xuyên làm vi ệc ngoài văn phòng; đi công tác ở tỉnh từ 3-7 ngày/tháng...”. Không chỉ trong lĩnh vực tuyển dụng, các doanh nghiệp VN cũng nên cởi bỏ những định kiến, có tầm nhìn thoáng hơn, áp dụng những tiêu chuẩn khách quan h ơn trong các chính sách đãi ngộ, thăng tiến cho người lao động. Ngay t ừ bây giờ các doanh nghiệp hãy cùng tạo ra một sân chơi nghề nghiệp bình đẳng, công bằng cho tất c ả mọi người. Điều này tốt cho xã hội và có lợi cho doanh nghiệp. Gia tăng quấy rối tình dục trong công sở Tuy chưa có con số chính xác về tình trạng qu ấy rối tình d ục trong c ơ s ở, các chuyên gia tâm lý, xã hội đều khẳng định quấy rối tình dục đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội hiện đại. Trên 78% nạn nhân là phụ nữ
  17. TS Khuất Thu Hồng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xã h ội, cho bi ết theo đi ều tra đ ược Viện tiến hành tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, ở tất cả c ơ quan văn phòng, xí nghiệp, công ty tư nhân cũng như nhà nước đều có hiện t ượng qu ấy r ối tình d ục (QRTD) phụ nữ. Hiện tình trạng này có phần gia tăng và tinh vi hơn. Ng ười ta không ch ỉ qu ấy r ối tr ực tiếp bằng những lời nói hoặc cử chỉ sàm sỡ mà còn thông qua máy tính, điện thoại. Chị Nguyễn Thị T, không xinh đẹp nhưng có duyên, cứ vào làm c ơ quan nào là b ị s ếp và đồng nghiệp quấy rối. Chị phải chuyển công tác đến 8 – 9 lần nh ưng vẫn không thoát. Tại Trung tâm Tư vấn Tình cảm Linh Tâm hàng ngày đều có các ca t ư v ấn liên quan đến QRTD, trong đó khách hàng là nữ chiếm 78,2%, nam giới chiếm 27,2%. Hầu hết khách hàng không hiểu sâu sắc về hành vi QRTD và hậu qu ả c ủa nó, đơn giản họ chỉ muốn phàn nàn hoặc muốn né tránh mà thôi. Cá bi ệt có nh ững ca mà người phụ nữ phải chịu đựng hành vi quấy rối suốt một thời gian dài. Chị Nguyễn Thị B (Ba Đình, Hà Nội) làm việc tại một thư vi ện b ị m ột đ ồng nghi ệp và sau này là sếp quấy rối suốt 16 năm trời. Ch ị t ừ ch ối, b ị s ếp trù úm, gây khó khăn trong công việc, thậm chí bị bạn bè và đồng nghiệp xa lánh vì sợ liên quan. Nạn nhân thành thủ phạm Theo các chuyên gia, hầu hết phụ nữ khi đi làm đều bị QRTD ít nhất một l ần bởi ở Việt Nam vẫn còn quan niệm làm hoa cho người ta hái, làm gái cho ng ười ta trêu nên khi bị quấy rối bằng lời nói hay những cử chỉ đa phần phụ nữ đều không dám lên tiếng. Hầu hết nguyên nhân là do nam giới gây ra nhưng thiệt thòi lại là ph ụ nữ. Họ b ị xã hội, đồng nghiệp lên án, đôi khi đổ vỡ tình cảm gia đình hoặc tình yêu. Ng ười ch ồng, người yêu không biết phải trái như thế nào nh ưng mới nghe th ấy người thân c ủa mình bị như vậy là tỏ thái độ. Người phụ nữ bị quấy rối thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đến cơ quan làm vi ệc không tập trung, luôn có thái độ đề phòng, ngại tiếp xúc với người khác gi ới, s ợ hãi, xấu hổ với bản thân và người khác nếu chuyện vỡ lở. Không ít người bị stress, mất ngủ, suy nhược cơ thể, kém ăn. Luôn b ị ám ảnh chuy ện QRTD gây ảnh hưởng đến cuộc sống tình dục sau này hoặc hạnh phúc trong gia đình. Thậm chí còn nghi ngờ, không tự tin cho rằng mình là người không ra gì. Có nhi ều người không chịu nổi hành vi QRTD phải nghỉ việc, bỏ việc, làm ảnh h ưởng đ ến cuộc sống và kinh tế gia đình, bản thân. Theo TS Hồng, để tránh lạm dụng, không chỉ nữ giới mà cả nam gi ới khi đi làm c ần nêu cao cảnh giác, không tạo cơ hội, lý do để người ta có hành vi sàm sỡ mình. Bản thân người phụ nữ cũng cần tạo cho mình hàng rào bảo v ệ b ằng cách có tác phong làm việc chuyên nghiệp, ăn mặc đúng cách, không nên diêm dua h ở hang gây chú ý không cần thiết.
  18. Trong nói năng cũng phải cân nhắc và đặc biệt là cần nhạy cảm với cử chỉ và hành vi của kẻ địch. Khi bị QRTD, bất kể là nam hay nữ, ph ải t ỏ thái đ ộ ngay, không c ả n ể, không sợ sệt, cần tìm đến sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp. Theo Pháp Luật&Xã Hội Bí mật kinh doanh, “hớ hênh” là mất! Bất kỳ một công ty nào cũng đều có những bí m ật kinh doanh c ủa riêng mình. Những bí mật này giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghi ệp trên th ị trường. Chính vì thế chúng luôn là mục tiêu dòm ngó c ủa các đ ối th ủ c ạnh tranh. Việc hãng nước giải khát Coca-Cola suýt bị mất bí mật kinh doanh vừa qua đã khiến nhiều vị giám đốc phải giật mình xem lại công tác b ảo m ật trong doanh nghiệp. Những mục tiêu luôn trong tầm ngắm Hãng điện tử lớn của Nhật là Toshiba đã từng lấy trộm bí m ật v ề công ngh ệ th ẻ nh ớ flash Lexar NAND của công ty Lexar Media (Mỹ) và chia s ẻ v ới SanDisk, đ ối th ủ cạnh tranh chính của Lexar. Những thông tin này đã góp phần đưa SanDisk trở thành nhà sản xuất thẻ nhớ flash lớn nhất thế giới. Vụ việc này sau đó đã b ị phát hi ện năm 2005 và toà án thành phố San Jose (Mỹ) đã buộc Toshiba phải bồi thường 465 tri ệu USD cho Lexar. Một vụ ăn cắp bí mật kinh doanh khác liên quan tới Linux, h ệ điều hành mã ngu ồn mở nổi tiếng. Đầu năm 2003, một công ty của Mỹ là SCO đã tuyên b ố h ệ đi ều hành Linux đã ăn cắp một số mã nguồn Unix mà hãng này đang gi ữ bản quy ền. Đ ến tháng 3, hãng này đã đâm đơn kiện IBM ăn cắp các bí mật th ương m ại. Hãng đã qu ả quy ết rằng IBM đã lấy cắp mã nguồn độc quyền của Unix để cung cấp ra cộng đồng nguồn mở, một hành động làm mất đi lợi thế cạnh tranh của SCO trên thị trường. Thông thường, các vụ ăn cắp bí mật thương mại chủ yếu xảy ra giữa các công ty, tập đoàn lớn với nhau. Họ đánh cắp những bí mật kinh doanh c ủa nhau đ ể làm gi ảm lợi thế cạnh tranh của nhau trên thương trường. Tuy nhiên, các bí m ật kinh doanh không chỉ là mục tiêu trực tiếp của các công ty đối th ủ mà còn là m ục tiêu c ủa nh ững kẻ chuyên buôn bán các bí mật kinh doanh. Tháng 8/2005, một công dân bang Connecticut (Mỹ) đã bị toà án buộc tội buôn bán trái phép các mã nguồn h ệ đi ều hành Windows NT 4.0 và Windows 2000 của Microsoft. Theo kết luận của toà thì sau khi lùng được các bộ mã nguồn này anh ta đã đưa chúng lên trang web của mình để rao bán lại. Ngay như vụ Coca-Cola vừa qua, một kẻ đồng phạm là Ibrahim Dimson đã núp dưới cái tên “Dirk” và liên lạc với công ty đối thủ của Coca-Cola là Pepsico đ ể chào bán những dữ liệu về công thức chế tạo một sản phẩm mới c ủa Coca-Cola mà anh ta đã có được. “Công nghệ” đánh cắp bí mật
  19. Trong phi vụ đánh cắp bí mật công nghệ của Lexar, thủ đoạn mà Toshiba s ử d ụng là cài người vào Hội đồng quản trị của Lexar để có điều kiện tiếp cận v ới các thông tin mật. Tuy nhiên, để có thể cài được người vào bộ phận quan trọng đó, Toshiba đã phải bỏ ra 3 triệu USD đầu tư cho Lexar khi công ty này mới thành l ập năm 1997. Khoản đầu tư này đã giúp giám đốc điều hành Toshiba giành được một ghế trong Hội đồng quản trị của Lexar và có cơ hội tiếp cận với những công nghệ bí mật của Lexar. Một thủ đoạn khác mà MForma, một tập đoàn chuyên cung cấp thông tin và các d ịch vụ giải trí trên điện thoại di đông (Mỹ) đã sử dụng để đánh cắp bí mật của Yahoo là tuyển dụng người đã từng làm quản lý tại công ty đối phương. Theo thông tin c ủa Yahoo thì MForma đã lập tức tuyển dụng David Chang, người đã t ừng đ ảm nhi ệm v ị trí giám đốc bộ phận của Yahoo ngay sau khi David nộp đơn t ừ ch ức t ại Yahoo tháng 11/2005. Vị giám đốc bộ phận này trước khi ra đi đã kịp copy một l ượng l ớn tài li ệu của Yahoo mà nếu in ra có thể dài tới hàng ch ục ngàn trang gi ấy. Không ch ỉ có David từ bỏ Yahoo để chuyển sang MForma và cung cấp cho công ty này nhi ều thông tin mật của Yahoo mà còn có 6 nhân viên khác của Yahoo cũng đã tham gia cung c ấp các tài liệu mật của Yahoo cho MForma thông qua David, trong đó 1 người đã được David tuyển vào MForma hồi tháng 1/2006. Đối với những kẻ chuyên buôn bán bí mật kinh doanh của các công ty thì th ủ đo ạn là móc nối với những nhân viên trong công ty để tuồn bí mật ra bên ngoài. V ụ đánh c ắp bí mật của Coca-Cola chính là một ví dụ điển hình. Ibrahim Dimson đã “cộng tác” với Joya Williams, một nhân viên của Coca-Cola để đánh cắp những bí mật thương mại của Coca-Cola. Với tư cách là phụ tá hành chính cho giám đốc nhãn hiệu toàn cầu của Coca-Cola, Williams đã thoải mái lục tìm tài liệu ngay tại bàn làm vi ệc c ủa v ị giám đốc này và dễ dàng có được những thông tin tuyệt mật về dòng sản phẩm mới của Coca-Cola. Đôi khi, có trường hợp những kẻ chuyên buôn bán bí m ật kinh doanh l ại là chính những người trong công ty, nhưng để tránh bị lộ thì những chuyên gia này lại núp dưới bóng của những đồng nghiệp khác. Tập đoàn truy ền thông c ủa M ỹ là American Online (AOL) tháng 5/2003 đã phát hiện ra vụ một kỹ sư ph ần m ềm c ủa hãng s ử dụng mã truy cập của một đồng nghiệp khác để lấy cắp thông tin c ủa 30 tri ệu khách hàng của AOL và bán chúng cho bọn tin tặc chuyên gửi spam. Kết Bí mật kinh doanh là tài sản của doanh nghiệp. Việc bảo vệ những bí mật kinh doanh là trách nhiệm của bộ phận lãnh đạo cấp cao của doanh nghi ệp. C ần ph ải c ảnh giác cao độ trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các công ty đối thủ, các nhân viên không có lòng trung thành với công ty, những nhân viên có những ý đồ xấu sẵn sàng bán rẻ bí mật công ty… Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, bài học về các vụ mất trộm bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài rất có ý nghĩa trong giai đoạn hội nh ập vào n ền
  20. kinh tế khu vực và thế giới hiện nay. Đã có rất nhiều công ty, t ập đoàn c ủa n ước ngoài vào làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam. Họ sẽ cạnh tranh trực ti ếp v ới các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang tích c ực đ ầu t ư ra nước ngoài để kinh doanh, canh tranh với các đối thủ lớn trên thị trường của họ. Do vậy việc bảo vệ các bí mật kinh doanh trước các đối thủ có vai trò quan tr ọng trong việc tạo ra những lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Các doanh nghiệp Vi ệt Nam vốn không có thế mạnh về tài chính thì những bí mật kinh doanh nh ư ý tưởng kinh doanh, nhãn hiệu, kiểu dáng sản phẩm, vốn hiểu biết về tập quán, tâm lý tiêu dùng c ủa người Việt Nam,… sẽ đóng vai trong là nhân tố tích cực tạo nên lợi th ế quan trọng trước các đối thủ có tiềm lực tài chính mạnh mẽ của nước ngoài. Khi khách hàng lạm dụng quyền 'thượng đế' Cung cấp dịch vụ chu đáo cho khách hàng nhưng lại bị lợi dụng để cắt xén kho ản tiền phải thanh toán, một công ty dịch vụ thở dài, khách hàng người Vi ệt ch ưa s ẵn sàng để sử dụng dịch vụ một cách chuyên nghiệp. Tháng 9/2006, Công ty TNHH Dịch vụ An Toàn bán 6 vé máy bay đi Na Uy v ới giá trên 7.000 USD. Do lỗi thao tác của nhân viên công ty, ch ỗ l ượt v ề c ủa đoàn khách b ị hủy. Không thể lập tức đặt vé về Việt Nam, An Toàn đ ặt khách s ạn cho đoàn khách trong 2 ngày và cam kết chi trả toàn bộ chi phí trong thời gian lưu lại. Do là khách hàng thường xuyên của An Toàn, đoàn khách được đặt ch ịu vé. Hai tháng sau khi về Việt Nam, đoàn khách thanh toán tiền vé, nhưng b ớt l ại 1.700 USD mà không nêu lý do và cũng không gửi hết hóa đơn dịch vụ khách sạn cho công ty. An Toàn tiếp tục liên lạc để nhận nốt số tiền chưa thanh toán, khẳng định sẽ trừ đi s ố tiền dịch vụ đoàn khách đã ứng trước tại khách sạn, nhưng vẫn không nhận được hồi âm. Giám đốc công ty bức xúc: "Có lẽ chúng tôi chăm sóc khách hàng theo ph ương châm phục vụ của nước ngoài nên bị lợi dụng". Người đại diện đoàn khách trực tiếp đặt vé cho biết, lý do khi ến nh ững v ị khách không thanh toán nốt phần tiền còn lại là từ khi về Việt Nam quá b ận, không k ịp g ặp đại diện công ty để tính các khoản hóa đơn. Theo một nhà cung cấp căn hộ dịch vụ 5 sao tại Hà Nội, trong những rắc rối liên quan tới khách hàng doanh nghiệp này gặp phải, phần nhiều hơn vẫn thuộc về các vị khách Việt Nam. "Khách trả phòng sau 12h trưa và từ chối thanh toán thêm một nửa tiền phòng của ngày hôm sau theo quy định", doanh nghiệp này l ấy d ẫn ch ứng. Th ậm chí một số vị khách nổi khùng tranh cãi, nhân viên thu ngân đành đầu hàng. Theo nhà cung cấp dịch vụ, có thể những vị khách này không c ố ý trì hoãn tr ả phòng, nhưng họ chưa có thói quen tuân thủ những quy định của doanh nghiệp. 'Văn hóa' sử dụng dịch vụ Theo Luật sư Đỗ Trọng Hải, Giám đốc Công ty dịch vụ pháp lý Invesconsult, vi ệc s ử dụng những dịch vụ có chất lượng không chỉ phụ thuộc vào khả năng thanh toán mà

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản