intTypePromotion=3

Đề tài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa

Chia sẻ: Thủy Tít | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:42

0
93
lượt xem
38
download

Đề tài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung đề tài gồm: cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình toàn cầu hóa, thực trạng về đầu tư trực tiếp nước ngoài với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa, những giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Viêt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa

  1. Lời mở đầu Cùng với việc Việt Nam trở  thành thành viên thứ  150 của WTO (vào  ngày 7­11­2006), Quốc hội Hoa kỳ  thông qua Quy chế  bình thường vĩnh  viễn   (PNTR.   Việt   Nam   việc   tổ   chức   thành   công   các   hoạt   động   trong   khuôn khổ  Hội nghị  cấp cao APEC tại Hà Nội( tháng 11­2006) Thì Việt  Nam càng khẳng định hơn nữa vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế,   ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường khu vực và thế giới. Từ đó làm   gia tăng sự  đầu tư  của các tập đoàn kinh tế, các quốc gia lớn mạnh trên  thế  giới, làm gia tăng dòng vốn FDI   vào Việt Nam. Nhưng việc hiểu   được hết vai trò của FDI lại gặp không ít khó khăn, nhất là việc sự dụng  nguồn vốn FDI, việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư  nước ngoài tham   gia vào nền kinh tế Việt Nam  còn gặp nhiều trở ngại. Làm cho những tác   dụng to lớn của FDI cũng giảm thiểu, nhất là tác dụng tạo việc làm  cho   nền kinh tế. Với ý  nghĩa nghiên cứu, phân tích một cách sâu sắc tỷ  mỉ  về  FDI và  việc tạo việc làm thông qua FDI trong tiến trình toàn cầu hóa, từ đó đưa ra  một số giải pháp để thu hút FDI và tăng việc làm trong khu vực FDI. Em  lựa chọn đề  tài: “Đầu tư  trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề  tạo  việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa”. Trong quá trình ngiên cứu, em sử  dụng một phương pháp như  phương  pháp duy vật biện chừng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp  liên hệ, so sánh, thống kê, phân tích  và một số phương pháp khác.   Kết cấu của đề án gồm 3 phần:  1
  2. Phần một  : Cơ sở  lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn  đề tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình toàn cầu hóa. Phần hai : Thực trạng về đầu tư trực tiếp nước ngoài với vấn đề tạo  việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. Phần ba : Những giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)  với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Viêt Nam. Phần một  : Cơ sở  lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn  đề tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình toàn cầu hóa. 1.1­ Toàn cầu hóa, bản chất và tác dụng của nó. 1.1.1­ Quan niệm về toàn cầu hóa       Thuật ngữ toàn cầu hóa được sử  dụng phổ biến từ khoảng cuối thập   niên 1980 trở  lại đây để  diễn đạt một nhận thức mới của loài người về  một hiện tượng, một quá trình quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại.  Đây là hiện tượng trong đó các quan hệ xã hội được mở rộng trên toàn thế  giới, đã loại trừ dần tình trạng khép kín, biệt lập giữa các quốc gia và đưa  đến sự chuyển hoá lẫn nhau trong môi trường quốc tế mà ở đó mỗi nước  đều có những vị  trí nhất định trong quá trình hình thành, xác lập những   quan hệ và ứng xử cộng đồng, những tiêu chí và luật lệ, cơ chế và trật tự  cộng đồng. Sự mở rộng quan hệ  này được tăng cường tới mức nhiều sự  kiện xảy ra tại nơi này nhất thiết tác động đến những sự  kiện xảy ra  ở  nơi khác. Đây là một xu thế khách quan và là một thách thức đối với nhiều   nước, nhất là các nước kém phát triển.  Toàn cầu hóa  tác động trên nhiều mặt của đời sống thế giới: chính trị,  kinh tế, thông tin, văn hoá, thể thao, trong đó kinh tế vẫn đóng vai trò chủ  2
  3. yếu.  Vậy đòi hỏi mỗi quốc gia và toàn nhân loại phải kiên định và chủ  động khai thác hết được tiềm năng mà Toàn cầu hóa mở  ra, đồng thời   kiểm soát và chế  ngự  được những tác động tiêu cực của nó đối với các  nước kém phát triển, đang phát triển và nhân dân lao động toàn thế giới.  1.1.2­ Bản chất và đặc điểm của toàn cầu hóa  a. Bản chất của quá trình toàn cầu hóa       Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan không cưỡng lại được  của thời đại. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của kinh tế và thị  trường thế giới được thúc đẩy bởi những bước tiến như vũ bão của cuộc  cách mạng khoa học và công nghệ   mà tất yếu sẽ  dẫn đến sự  giao lưu,  trao đổi và quốc tế hóa trên mọi lĩnh vực đời sống con người và đời sống   các quốc gia trong công đồng thế giới.        Toàn cầu hóa là một quá trình xã hội hóa ngày càng sâu sắc sự  phát   triển của lực lượng sản xuất và của quan hệ  sản xuất cùng với những   mối quan hệ  biện chứng giữa chính hai yếu tố  này  ở  quy mô toàn cầu.   Động lực của "toàn cầu hóa" là sự  phát triển của lực lượng sản xuất, mà  lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh. Ðây là quy luật chung  nhất cho mọi thời đại, mọi chế độ xã hội         Toàn cầu hóa là quá trình giao lưu và quốc tế  hóa trên mọi lĩnh vực   của đời sống con người và đời sống các quốc gia trong công động thế  giới, trong đó toàn cầu hóa kinh tế ngày càng trở thành yếu tố  quyết định  trong toàn bộ quá trình giao lưu quốc tế. Toàn cầu hóa kinh tế làm cho các   nước có quan hệ  kinh tế  với nhau và phụ  thuộc vào nhau chặt chẽ  hơn.   Động lực thúc đẩy Toàn cầu hóa phát triển là sự  tiến bộ  khoa học ­ kĩ   thuật và sự  mở  rộng cơ  chế  thị  trường. Cuộc cách mạng khoa học kĩ  3
  4. thuật của xã hội loài người cả  về  chiều rộng và chiều sâu làm cho việc  quốc tế hoá kinh tế có bước phát triển mới quan trọng.   b. Đặc điểm của toàn cầu hóa kinh tế: 1) Toàn cầu hóa diễn ra trong sự  thống nhất và mâu thuẫn về  lợi ích  giữa các quốc gia với nhau và lợi ích chung toàn thế giới 2) Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự  bùng nổ của cách mạng tin học đã  hình thành nền kinh tế tri thức. 3) Sự  phát triển của kinh tế  thị  trường hiện đại thúc đẩy tự  do hóa  kinh tế và sự thâm nhập kinh tế giữa các nước.  4) Vai trò quan trọng của Nhà nước và sự  điều phối của các tổ  chức   kinh tế thế giới trong tiến trình toàn cầu hóa. 1.1.3­ Tác dụng của toàn cầu hóa kinh tế. a. Đối với các nước đang phát triển Toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội mà các nước đang phát triển có thể  tận dụng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống.   Những tác động tích cực là:  Toàn cầu  hóa  kinh tế   tạo  điều kiện cho  các  nước   huy  động  được  những nguồn lực từ  bên ngoài cho việc phát triển kinh tế  quốc gia:   vốn,   khoa   học­kỹ   thuật   công   nghệ­tri   thức,…từ   đó   việc   sử   dụng   nguồn lực trong nước có hiệu quả hơn. Mở ra khả năng cho các quốc gia phát triển chậm nhanh chóng tham gia  vào hệ  thống phân công lao động quốc tế, hình thành cơ  cấu kinh tế­  xã có hiệu quả hơn , đẩy nhanh và rút ngắn tiến trình hiện đại hóa. Tạo điều kiện cho các nước  hôi nhập vào các tổ chức kinh tế toàn cầu  và khu vực. 4
  5. Giúp cho các nước đang phát triển nhanh chóng tiếp nhận được thông  tin, tri thức mới, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực. Chính phủ, người sử  dụng lao động và người lao động tiếp cận dần  các chuẩn mực lao động quốc tế.  Làm nảy sinh dòng di chuyển lao động trong nước và quốc tế, như  những cơ hội việc làm được tạo ra bởi dòng FDI, lao động di chuyển  đến các khu công nghiệp­khu chế xuất hay xuất khẩu lao động ,… Bên cạnh mặt tích cực thì Toàn cầu hóa cũng gây ra những tác động tiêu  cưc đến các nước đang phát triển, đó là: Khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển  ngày càng lớn :những chênh lệch về  năng lực, vốn , công nghệ,.. sự  cách xa về trình độ phát triển, năng lực sản xuất, …làm các nước đang  phát triển khó  bắt kịp với các nước phát triển Toàn cầu hóa tạo ra một sự  cạch tranh gay gắt trên phạm vi toàn thế  giới: công ty có năng suất kém hơn bị phá sản, quốc gia phát triển kém   hơn bị tụt hậu…mà thường thì  phần thua thiệt là  các nước đang phát  triển. Các nước đang phát triển trang trủ nguồn lực bên ngoài  song chính vì  thế mà phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống phân công lao động quốc tế,   phụ thuộc vào các cường quốc kinh tế… b. Đối với vấn đề tạo việc làm Toàn cầu hóa kinh tế tác động đến vấn đề  tạo việc làm thông qua các  nhân tố: di chuyển vốn, tự do hóa thương mại, di chuyển lao động mang  tính chất toàn cầu, cụ thể: 5
  6. Di chuyển vốn kèm theo di chuyển công nghệ,  kiến thức kinh doanh   và quản lý làm tăng số  lượng lao động và nâng cao chất lượng lao động,   vốn FDI tạo ra nhiều việc làm mới( cả  việc làm trực tiếp và gián tiếp). Tự do hóa thương mại làm đa dạng chủng loại hàng hóa, thúc đẩy mở  rộng phân công và hiệp tác lao động giữa các nước, làm cạnh tranh về giá  cả, chất lượng hàng hóa, sản xuất, quản lý, … dẫn đến tạo việc làm mới   và cũng dẫn đến thất nghiệp nhiều do DN bị phá sản. Cuối cùng, việc di chuyển lao động tạo thêm nhiều việc làm mới cho  người lao động, mặt khác tăng sức ép về việc làm và  thất nghiệp. Ngoài ra, các nhân tố  gián tiếp khác của toàn cầu hóa kinh tế  cũng tác   động đến vấn đề tạo việc làm : sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vận  tải quốc tế,… 1.2­ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) 1.2.1­ Khái niệm, bản chất và đặc điểm của FDI            a. Một số  khái niệm cơ bản Đầu tư  là một hoạt động quan trọng quyết định trực tiếp tới sự  phát   triển của nền sản xuất xã hội, là chìa khóa của sự tăng trưởng và là điều  kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cở sở  sản xuất kinh doanh dịch vụ. Đầu tư  nói chung là những hoạt động sử  dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những   kết quả  trong tương lai  lớn hơn các nguồn lực đã sử  dụng để  đạt được  các kết quả  đó. Do đó, mục tiêu của đầu tư  là tạo ra được kết quả  cao   hơn so vơi những hy sinh về nguồn lực  ở hiện tai. Đầu tư  của một quốc  gia gồm có đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài 6
  7. Đầu tư  nước ngoài ( hay còn gọi là đầu tư  quốc tế) là phương thức  đầu tư  vốn, tài sản ở nước ngoài  để  tiến hành sản xuất, kinh doanh hay  dịch vụ với mục đích tìm lợi nhuận  hoặc vì những mục tiêu chính trị, xã  hôi nhất định. Cũng với tiến trình toàn cầu hóa, đầu tư nước ngoài có vai   trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó đầu  tư trực tiếp  nước ngoài( nguồn đầu tư của tư nhân nước ngoài) chiếm vị  trí quan trọng nhất. b.   Khái   niệm   về   Đầu   tư   trực   tiếp   nước   ngoài   (FDI   =   Foreign   Direct  Investment) Hiện nay, khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tổ  chức kinh tế  quốc tế và các quốc gia đưa ra. Hiểu một cách chung nhất,  đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chính là hoạt động đầu tư của tư nhân  nước ngoài để  đầu tư  cho sản xuất, kinh doanh và dich vụ  nhằm mục   đích thu lợi nhuận.  Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật   đầu tư  nước ngoài sửa đổi, bổ  sung năm 2000: “Đầu tư  trực tiếp nước   ngoài là việc nhà đầu tư  nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền  hoặc bất kỳ tài sản nào để  tiến hành các hoạt động đầu tư  theo quy định  của Luật này”, trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh  tế,  cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Hay theo Bách khoa toàn thư mở  Wikipedia, FDI  là hình thức đầu tư  dài  hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập  cơ sở sản xuất, kinh doanh và họ trực tiếp nắm quyền quản lý các cơ sở  sản xuất kinh doanh đó. Qua các định nghĩa về  FDI, có thể rút ra định nghĩa về FDI như sau: “  Đầu tư trực tiếp nước ngoài là  sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc   7
  8. bất kỳ  tài sản nào từ nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát   doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi”. c. Bản chất của FDI  Qua nhiều lịch sử  hình thành và nghiên cứu cho thấy của đầu tư  trực  tiếp nước ngoài  qua các thời kỳ  có thể  nhận thấy bản chất của FDI là   nhằm mục đích tối đa hóa mục đích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở các  nước tiếp nhận đầu tư  thông qua di chuyển vốn( bằng tiền và tài sản,   công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ nước đi đầu  tư  đến nước tiếp nhận đầu tư. d. Đặc điểm của FDI FDI có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, FDI là một dự án mang tính chất lâu dài.    Thứ  hai, FDI là một dự  án có sự  tham gia quản lý của các nhà đầu tư  nước ngoài. Các nhà đầu tư  có quyền tham gia hoạt động quản lý trong  các doanh nghiệp FDI, tùy thuộc vào tỷ lệ vốn đóng góp mà nhà đầu tư có  quyền tham gia và quyền tham gia quản lý nhiều hay ít. Thứ ba, đi kèm với dự án FDI là 3 yếu tố: hoạt động thương mại, chuyển  giao công nghệ,  di cư lao động quốc tế, trong đó di cư  lao động quốc tế  góp phần vào việc chuyển giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp FDI. Thứ tư, FDI là hình thức kéo dài “ chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “ chu kỳ tuổi  thọ kỹ thuật” và “ nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật”. Trong nền kinh tế hiện   đại chính phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là một điều kiện cho  sự  tồn tại và phát triển của mình. FDI sẽ  giúp cho các doanh nghiệp thay  đổi được dây chuyền công nghệ  lạc hậu  ở  nước mình nhưng dễ  được  chấp nhận  ở  nước có trình đọ  phát triển thấp hơn  và góp phần kéo dài  chu kỳ sản xuất. 8
  9. Thứ  năm, FDI là sự  gặp nhau về  nhu cầu của một bên là nhà đầu tư  và   một bên là nước tiếp nhận đầu tư.  Thứ sáu, FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tiến trình  toàn cầu hóa kinh tế. Chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu  tư thẻ hiên chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư. 1.2.2­ Tác dụng của FDI  Đầu tư  trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với phát triển  kinh tế  của một quốc gia, tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống,  kinh tế­ xã hội và chính trị của nước tiếp nhận đầu tư.Trước hết, FDI bổ  sung một nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế,  đóng góp vào GDP, vào Ngân sách Nhà nước và kim ngạch xuất khẩu. Đối  với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố  đặc biệt quan  trọng đối với phát triển kinh tế,FDI là biện pháp hữu hiệu để  tăng vốn   cho đầu tư, huy động các nguồn lực để  phát triển kinh tế  để  tạo ra tăng  trưởng kinh tế  dẫn đến tăng thu nhập. Từ  đó, kích thích sản xuất trong   nước, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, từ đó   kích thích tiêu dùng. FDI góp phần nâng cao chất lượng lao động, phát triển nguồn nhân  lực. FDI không chỉ tạo ra số lao động trực tiếp và gián tiếp mà đã làm thay   đổi cơ bản, nâng cao năng lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp  thông qua:trực tiếp đào tạo lao động và gián tiếp nâng cao trình độ  lao  động. FDI  tạo ra một bộ phận lực lượng lao động có trình độ  cao ngang  tầm với khu vực và quốc tế, với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, giúp tạo  ra đòn bẩy nâng cao trình độ, năng suất lao động và điều kiện lao động  trong toàn bộ nền kinh tế.  9
  10. FDI tác động đến phát triển công nghệ, tri thức, nâng cao kỹ  năng và  trình độ  quản lý của một quốc gia. Việc chuyển giao công nghệ    thông   qua FDI đã làm cho “khoảng cách công nghệ” giữa nước đi đầu tư  và  nước tiếp nhận đầu tư. Mặt khác, FDI tạo ra những năng lực mới cho nền  kinh tế, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, FDI tác động đến văn hóa, xã hội, mỹ  quan, môi trường,.. của   nước tiếp nhận đầu tư cả về mặt tích cực và tiêu cực. 1.3­ Việc làm và tạo việc làm cho người lao động. 1.3.1­ Một số khái niệm a. Việc làm: Nhìn chung, trong các lý thuyết về  việc làm, các học giả  đều thống  nhất cho rằng mọi hoạt động được coi là việc làm khi đáp ứng đủ  2 tiêu   chuẩn sau đây: Thứ nhất, hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động hoặc  tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo thu nhập hoặc giảm chi   phí gia đình. Thứ hai, đó là các hoạt động không bị luật pháp ngăn cấm. Bộ  Luật lao động Nước Cộng hòa Xã hội Chủ  nghĩa Việt Nam, tại   Điều 13 quy định: “ Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp   luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” Theo Giáo trình Kinh tế lao động của khoa Kinh tế Lao động­ Trường   Đai học kinh tế quốc dân, thì khái niệm việc làm được hiểu : “ Việc làm  là trạng thái phù hợp về  số  lượng và chất lượng  giữa tư  liệu sản xuất  với sức lao động để tạo ra hang hóa theo yêu cầu của thị trình”. Như vậy   theo khái niệm này có thể hiểu việc làm là một phạm trù để chỉ trạng thái  10
  11. phù hợp giữa sức lao động và tư  liệu sản xuất hoặc những phương tiện   để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Hay theo Tổ  chức Lao động quốc tế  ( ILO): “Việc làm là hoạt động  được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”. Thất ngiệp là một hiện tượng kinh tế­xã hội phổ  biến  ở  các nước   đang phát triển cũng như các nước công nghiệp tiên tiến. Theo đúng nghĩa  của từ  thất nghiệp là mất việc làm hay sự  tách rời sức lao động khỏi tư  liệu sản xuất. Thất nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc  gia, nó không chỉ làm lãng phí “ tài sản” quý nhất là nguồn lực con người  mà còn gây ra những hậu quả tâm lý­ xã hội xấu đi kèm những tệ nạn xã  hội và tội phạm hình sự không lường. Phạm trù việc làm và thất nghiệp luôn gắn liền với phạm trù con   người, do vậy hình thành nên khái niệm người có việc làm, người thiếu   việc làm, người thất nghiệp. Tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO)  các nhà thống kê về Lao động đưa ra các khái niệm như sau: Người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả công, lợi nhuận   bằng tiền hoặc hiện vật hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất   tự  tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không nhận được tiền  công hay hiện vật. Người thiếu việc làm là người có số  giờ  làm việc trong tuần lễ  điều tra   dưới mức quy định chuẩn và họ có nhu cầu làm them. Còn theo tài liệu điều tra lao động­ việc làm hang năm của Bộ Lao động ,   Thương binh và Xã hội thì khái niệm người thất ngiệp như  sau: Người   thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên  thuộc nhóm dân số  hoạt động   kinh tế mà trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm  11
  12. việc và sẵn sang làm việc nhưng không tìm được việc làm, được xác định  dựa trên yếu tố:   Có hoạt  động đi tìm việc làm trong 4 tuần qua; hoặc không có hoạt  động đi tìm việc làm trong 4 tuần qua vì các lý do không biết tìm ở  đâu hoặc tìm mãi không được.  Hoặc trong tuần lễ  trước điều tra có tổng số  giờ  việc làm dưới 8  tiếng, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc.  b. Tạo việc làm: Xét về bản chất thì việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức   lao động và tư liệu sản xuất bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng.   Nhưng đây mới chỉ là điều liện cần thiết để có việc làm vì trạng thái phù   hợp này còn cần nhiều yếu tố khác. Do vậy, tạo việc làm là một quá trình  trong đó việc tạo ra chỗ làm việc và thu hút người lao động vào làm việc   mới chỉ  là khâu đầu tiên của quá trình đó, Chính vì vậy, tạo việc làm là  quá trình: Một là, tạo ra số  lượng và chất lượng tư  liệu sản xuất. Việc tạo ra tư  liệu sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cụ thể như:vốn đầu tư, và tiến  bộ  khoa học kỹ  thuật áp dụng trong sản xuất và khả  năng quản lý, sử  dụng đối với tư liệu sản xuất đó Hai là, tạo ra số  lượng và chất lượng sức lao động. Số  lượng sức lao   động phụ  thuộc vào quy mô dân số, các quy định về  độ  tuổi lao động và  sự  di chuyển lao động. Chất lượng lao động thì phụ  thuộc vào sự  phát  triển của giáo dục, đào tạo và sự  phát triển y tế, thể  thao, chăm sóc sức   khỏe cộng đồng.. Ba là, sự  hình thành môi trường cho sư  kết hợp các yếu tố  tư  liệu sản   xuất và sức lao động. Môt trường cho sự kết hợp này  bao gồm hệ thống   12
  13. các chính sách phát triển kinh tế­ xã hội, chính sách khuyến khích và thu  hút người lao động, chính sách bảo hộ  sản xuất, chính sách thất nghiệp,  chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư,… Bốn là, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và có hiệu quả  cao. Các giải pháp này có thể  kể  đến các nhóm giải phát về  quản lý và  điều hành, về thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, các giái pháp duy trì   và nâng cao chất lượng của sức lao động, kinh nghiêm quản trị kinh doanh   của người sử dụng lao động… Mặt khác việc làm chỉ có thể tạo ra khi cả người sử dụng lao động và   người lao động gặp gỡ trao đổi nhất trí về  sử dụng sức lao động. Do đó,  cơ chế tạo việc làm phải được xem xét ở cả phía người sử dụng lao động   và người lao động đồng thời không thể  thiếu vai trò của Nhà nước, cụ  thể: Về phía người sử dụng lao động Người sử dụng lao động có vai trò tạo chỗ làm việc và duy trì chỗ làm  việc. Để tạo chỗ làm việc phải có vốn, nắm bắt được công nghệ, có kiến  thức và kinh nghiệm trong tổ  chức quản lý và phải có được thị  trường.   Mặt   khác,   muốn   tạo   việc   làm   người   sử   dụng   lao   động   phải   đến   thị  trường lao động để  thuê lao động, chỉ  khi người sử  dụng lao động thuê  được sức lao động cho chỗ  làm việc của họ  thì việc làm mới được hình  thành. Về phía người lao động  Người lao động muốn có việc làm phải có sức khỏe, kiến thức, kỹ  năng, kỹ xảo phù hợp với công việc đòi hỏi. Do vậy, người lao động phải   đầu tư  cho chính bản thân họ, thể  hiện  ở  sự  đầu tư  nâng cao sức khỏe,  đầu tư  vào giáo dục và  đào tạo, chuyên môn nghề  nghiệp. mặt khác,  13
  14. người lao động phải chủ  động kiếm việc làm và nắm bắt các cơ  hội về  việc làm. Về phía Nhà nước   Nhà nước   đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo việc làm, thể  hiện trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho việc làm hình thành và  phát triển, tạo ra môi trường thuận lợi cho người sử  dụng lao động và  người lao động phát huy được khả năng của họ, đưa ra các chính sách kiên  quan đến người sử  dụng lao động và người lao động, cụ  thể  như  các  chính sách về khuyến khích đầu tư  trong nước, đầu tư nước ngoài, chính  sách bảo hộ  sản xuất trong nước,….và các chính sách về  giáo dục­ đào  tạo, chính sách về  sức khỏe­ y tế­ xã hội. Nhà nước  đảm bảo phân bổ  các nguồn lực hợp lý, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến  khích các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh tạo việc làm. Nhà nước   có vai trò trong hệ thống hướng nghiệp, các trung tâm giao dịch, giới thiệu   việc làm…,tạo ra cơ sở pháp lý  để cho thị trường lao động phát triển,… 1.3.2­ Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động được thể hiện bởi  các lý do sau: Một là, trong tiến trình toàn cầu hóa, hôi nhập kinh tế  quốc tế, cùng với  việc dịch chuyển cơ cấu lao động sẽ  kéo theo sự  dich chuyển cơ cấu lao  động; sự  phân công lao động trong nước cũng như  quốc tế. Kết quả  là  một số  nghề  cũ mất đi, một số  nghề  mới ra đời, có các dòng người di  chuyển từ  nơi có thu nhập thấp đến nơi có thu nhập cao, di chuyển từ  nông thôn ra thành thị, từ  nước này sang nước khác kiếm việc làm, gây   nên sức ép về việc làm và tăng thất nghiệp. Mặt khác nước ta có quy mô   dân số  tương dối lớn, tỷ lệ  tăng dân số  cao và cơ  cấu dân số  thuộc loại   14
  15. dân số  trẻ. Hàng năm, có khoảng từ 1.4­1.5 triệu thanh niên bước vào độ  tuổi lao động, cùng với số lao động thất nghiệp của các năm trước sẽ trở  thành gánh nặng cho các gia đình và xã hội, ảnh hưởng đến trât tự. Do đó,  cần thiết phải tạo việc làm cho số lao động bị thất nghiệp và giảm sức ép   về việc làm. Hai là tạo việc làm đầy đủ  cho người lao động còn có ý nghĩa hết sức   quan trọng đối với người lao động,  ở  chỗ  cho họ  thực hiện quyền và   nghĩa vụ  của mình, trong đó có quyền cơ  bản nhất là được làm việc,  nhằm nuôi sống bản thân và gia định và góp phần xây dựng đất nước.  Ba là, tạo việc làm cho người lao động tạo điều kiện tăng  thu nhập, nâng   cao đời sống,  từ đó tăng vị thế cho người lao động trong và ngoài xã hội. Bốn là, với ý nghĩa con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát   triển kinh tế­ xã hội, con người với lao động của mình tạo ra của cải vật   chất, tinh thần chủ  yếu cho xã hội, quyết định sự  phát triển kinh tế­ xã  hội của một quốc gia. Song chỉ khi con người được làm việc, tạo ra của  cải vật chất và tinh thần cho xã hội, thì nền kinh tế, xã hội ngày càng văn  minh và phát triển. Do đó, cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động. 1.4­ Tác động của FDI với vấn đề  tạo việc làm cho người lao động  trong tiến trình toàn cầu hóa. 1.4.1­Về mặt số lượng: FDI tạo ra việc làm trực tiếp trong chính khu vực FDI. Việc làm trực  tiếp là việc làm được trực tiếp tạo ra trong hệ  thống của doanh nghiệp  FDI ,đó là các việc làm do doanh nghiệp tuyển dụng và trả  lương., được   tạo ra bởi chính nguồn vốn FDI, được tính theo bảng lương của doanh   nghiệp FDI. 15
  16. Cùng với sự xuất hiện và lớn mạnh của khu vực FDI một số khu vực   sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ  cho khu vực có FDI cũng  phát triển theo và tạo ra số việc làm đáng kể. Đa số các doanh nghiệp FDI   có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp sử dụng lao động bán hàng, quảng cáo,   tiếp thị,…Khu vực FDI sử  dụng các nguồn lực khác trong nước ít nhiều   nhờ  đó tạo ra việc làm gián tiếp cho những đơn vị  cung cấp. Các dự  án  FDI cũng tạo ra hàng vạn chỗ  làm việc cho ngành xây dựng trong nước   thông qua nhu cầu  xây dựng nhà xưởng, văn phòng, cơ sở hạ tầng,… Do  vậy khi đánh giá tác động của FDI trong tạo việc làm còn phải xác định số  lượng việc làm gián tiếp do FDI tạo ra. Số lượng việc làm gián tiếp được   xác định là việc làm tạo ra trong các hoạt động của các ngành, các tổ  chức, doanh nghiệp khác ngoài khu vực FDI nhưng lại phục vụ cho hoạt   động của khu vực FDI.  Nhận thấy, phần lớn các doanh nghiệp FDI còn  tạo ra việc làm gián tiếp với số  lượng lớn hơn   nhiều so với số  lượng   việc làm trực tiếp mà nó tạo ra. Số  lượng việc làm trục tiếp và gián tiếp phụ  thuộc vào vốn đầu tư,  vào điều kiện của từng quốc gia, từng khu vực và từng loại hoạt động  được tiến hành. ­ Tạo ra lao động trực tiếp  trong chính khu vực có FDI. 1.4.2­ Về mặt chất lượng: Khi nghiên cứu tạo việc làm thông qua FDI các nghiên cứu không chỉ  dừng lại ở việc xác định số lượng và các cơ hội việc làm tạo ra một cách   một cách trực tiếp hay gián tiếp mà còn phân tích chất lượng của việc làm  thông qua các chỉ tiêu Vốn/ lao động ( hay vốn/chỗ làm việc), trình độ  lao  động, điều kiện lao động, tiền lương và thu nhập của lao động, năng suất   lao động, tính ổn định của lao động,… Nhìn chung, việc làm được tạo ra  từ nguồn FDI có chất lượng cao hơn việc làm từ các nguồn trong nước. 16
  17.   Vốn đầu tư/ lao động là một chỉ  tiêu đánh giá chất lượng việc làm  theo đầu vào. Vốn và công nghệ  thường có quan hệ  thuận nên với với  những điều kiện khác không đổi tỷ  lệ  vốn/lao động càng cao phản ánh  trình độ công nghệ càng cao. Chỉ tiêu vốn/ lao động trong khu vực có FDI   cao hơn nhiều so với yêu cầu về  vốn để  tạo ra một chỗ  làm việc  ở  khu  vực trong nước. Do đó, công nghệ  sử  dụng nguồn vốn FDI nói chung là  cao hơn ở khu vực trong nước.  Điều kiện lao động  ở  các doanh nghiệp có FDI tốt hơn so với các  doanh nghiệp có vốn trong nước cùng ngành, cùng lĩnh vực, thể  hiện  ở  điều kiện nhà xưởng, công cụ lao động, môi trường lao động,… Việc làm trong khu vực có FDI đòi hỏi lao động có trình độ tương đối   cao so với khu vực trong nước. Lao động trong khu vực FDI được tuyển   chọn cẩn thận và phải đáp  ứng các yêu cầu cao về chuyên môn kỹ  thuật   và nhất là kỷ luật, tác phong làm việc,… Năng suất lao động cao hơn là một kết quả  tất yếu của khu vực có  FDI. Với trình độ công nghệ cao hơn, trình độ quản lý và trình độ tổ chức  cao hơn, năng suất lao động ở đây cao hơn khu vực khác. Tiền lương và thu nhập  ở  khu vực FDI cao hơn so với các khu vực  trong nước. Từ  mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định cho đến  mức tiền lương bình quân ở khu vực này cũng cao hơn. Mặt khác, do yêu  cầu kỹ thuật và công nghệ cao hơn mà chi phí tiền lương cũng cao hơn so  với khu vực trong nước. 17
  18. Phần hai : Thực trạng về đầu tư trực tiếp nước ngoài với vấn đề tạo  việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. 2.1­ Ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa đối với Việt Nam.  Toàn cầu hóa là một hiện thực mới ở Việt Nam, nước ta mới chỉ thực   sự làm quen với toàn cầu hóa trong vòng 20 năm trở lại đây. Hiện nay, làn  sóng toàn cầu hóa  xảy ra với tốc độ  cao hơn, cường độ  mạnh hơn, và  phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đây. Vì vậy, Việt Nam phải   có có ý thức chủ động hòa mình vào làn sóng ấy. Cần phải nhận thấy, xu thế toàn cầu hóa hiện nay mang lại nhiều cơ  hội và nhiều thách thức cho Việt nam .Từ  việc toàn cầu hóa là nhân tố  thúc đẩy cơ  cấu lại và hiện đại hóa kinh tế, phát triển nguồn nhân lực,   tăng năng suất lao động và cải thiện thu nhập cho người dân làm tăng  trưởng kinh tế và phát triển kinh tế­xã hội, mở ra con đường phát triển lâu   dai bền vững cho nước ta..Đến những  tác động tiêu cực như: đói nghèo,  bất bình đẳng, sự tụt hâu, thấp kém của các nước đang phát triển trong đó   có Việt Nam. Do đó, Việt Nam cần phải tỉnh táo, chủ  động hội nhập và  18
  19. đối phó có hiệu quả với những thách thức và biết phát huy những cơ  hội  do toàn cầu hóa tạo ra.  2.2­ Tình hình thu hút và thực hiện FDI ở Việt Nam Trong nhiều năm trở  lại đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế  khu  vực và thế  giới, đầu tư  trực tiếp nước ngoài tăng mạnh và đóng vai trò  ngày càng quan trọng đối với phát triển kinh tế­ xã hội của Việt Nam. Với  quy mô, cơ cấu, tổng vốn đầu tư, vốn thực hiện và thành quả mà FDI tạo  ra, có thể  nhận thấy FDI đã đóng góp một phần đáng kể  vào GDP, Ngân   sách Nhà nước , đã tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống, năng   lực sản xuất cho nền kinh tế­ xã hội Việt Nam. Năm 2006, đầu tư trực tiếp nước ngoài là điểm sáng nổi bật nhất trong   bức tranh toàn cảnh kinh tế Việt Nam. Tổng vốn FDI đăng ký mới và đầu  tư   bổ   sung   đạt   trên   10,2   tỷ   USD,mức   cao   nhất   kể   từ   năm   1988   đến  nay( trước đây cao nhất là 8,6 tỷ  USD năm 1995). trong đó có khoảng 800   dự án được cấp mới, với tổng vốn đăng ký trên 7,6 tỉ USDvà 490 lượt dự  án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với số vốn tăng thêm khoảng 2,42 tỉ  USD. Vốn bình quân 1 dự án 8,4 triệu USD tăng 1,2 triệu USD năm 2005,  chứng tỏ  số  lượng dự án có quy mô lớn đã tăng. Ước tính vốn thực hiện   trong năm 2006 đạt khoảng 4,1 tỉ USD, tăng 24,2% so với năm 2005.  Địa   phương thu hút nhiều dự án và vốn đầu tư là Bà Rịa­ Vũng Tàu, thành phố  Hồ  Chí Minh, Bình Dương. xuất hiện của một số  dự  án mới có quy mô   lớn từ các tập đoàn xuyên quốc gia Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, như dự  án của Công ty thép Posco có vốn đầu tư  1,126 tỉ  USD, dự  án của Tập  đoàn Intel với tổng vốn đầu tư 1 tỉ USD, dự án của Tập đoàn Tycoons với   tổng vốn đầu tư 556 triệu USD, dự án Tây Hồ Tây vốn đầu tư 314,1 triệu  USD, dự  án Winvest Investment với vốn đầu tư  300 triệu USD... Nhiều  19
  20. dự án được cấp phép đã tích cực triển khai thực hiện như các nhà máy của  Công ty Hoya Glass Disle, Canon, Matsushita, Brothers Industries, Honda…  Ước   tính vốn thực   hiện trong năm  2006  đạt khoảng  4,1 tỉ   USD,  tăng   24,2% so với năm 2005. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế  có vốn đầu tư  nước ngoài tiếp tục khả  quan. Doanh thu của các doanh nghiệp đầu tư  nước ngoài trong năm 2006 đạt 29,4 tỉ  USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ  năm trước, trong đó, giá trị xuất khẩu (trừ dầu thô) đạt 14,6 tỉ  USD, tăng  31,2% so với cùng kỳ. Nếu tính cả dầu thô thì giá trị xuất khẩu năm 2006   đạt 22,6 tỉ  USD, chiếm 57% tổng giá trị  xuất khẩu của cả  nước. Giá trị  sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,5%,  cao hơn mức tăng sản xuất công nghiệp bình quân của cả  nước (18,5%).   Nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu tư  nước ngoài trong năm 2006 đạt   16,35 tỉ  USD, tăng 19,3% so với năm 2005. Trong năm 2006, các doanh  nghiệp đầu tư  nước ngoài nộp ngân sách nhà nước đạt 1,26 tỉ  USD, tăng  17,3% so với cùng kỳ. 2.3­ Thực trạng về  lao động, việc làm và thất nghiệp  ở  Việt Nam  trong những năm qua. 2.3.1­ Nguồn lao động: Về số lượng  Theo điều tra lao động việc làm (của Bộ  Lao động, Thương binh và   Xã hội) ngày 1/7/2995 lực lượng lao động cả  nước là 44385 nghìn người  trong đó nữ chiếm 48,7%, bình quân hàng năm tăng 844 ngìn người với tốc  độ  tương   ứng  là 1,7%/năm, nhóm lực lượng  lao  động trẻ  từ  15­34 là  20582,1 nghìn người chiếm 46,38%, nhóm cao tuổi trên 55 tuổi là 3637,3  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản