intTypePromotion=3

Đề tài: Hàng hóa sức lao động và vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam

Chia sẻ: Thủy Tít | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

0
294
lượt xem
83
download

Đề tài: Hàng hóa sức lao động và vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Hàng hóa sức lao động và vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam" trình bày nội dung gồm các chương sau: chương 1 hàng hóa sức lao động, chương 2 vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Hàng hóa sức lao động và vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam

  1. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU  .......................................................................................................... 1 NỘI DUNG .......................................................................................................... 2   CHƯƠNG I: HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG .......................................................................................................... 2 I. Sức lao động và điều kiện để  sức lao động trở thành hàng  hóa .......................................................................................................... 2 ................................................................................................................................ ................................................................................................................................                   1/  Khái   niệm   sức   lao   động ......................................................................................................................... 2                            2/   Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá ......................................................................................................................... 2         II.   Hai   thuộc   tính   của   hàng   hóa   sức   lao   động ......................................................................................................................... 4 1
  2.                 1/  Giá   trị   hàng   hoá   sức   lao   động .................................................................................................................... 4                 2/  Giá   trị   sử   dụng   hàng   hoá   sức   lao   động .................................................................................................................... 6   CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở  VIỆT NAM .......................................................................................................... 7 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................................... 15 2
  3. LỜI MỞ ĐẦU 3
  4. Trong những năm qua nền kinh tế nước ta dần dần chuyển từ nền   kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhiều thị trường của n ước   ta đã từng bước được hình thành và phát triển, song trình độ  phát triển  còn thấp so với các nước và sự phát triển của nó còn thiếu đồng bộ. Một   trong những thị  trường được hình thành đó là thị  trường sức lao động  (hay còn gọi là thị trường lao động). Cho đến nay vẫn còn chưa có nhận  thức rõ và thống nhất về thị trường sức lao động. Trước đổi mới, chúng  ta hầu như  không thừa nhận thị  trường sức lao động. Trong điều kiện   hiện nay, việc thừa nhận nó là tất yếu. Bộ  Luật Lao động đã được ban  hành ngày 23/6/1994 và tiếp đó là một loạt các nghị  định của Chính phủ  hướng dẫn thi hành Bộ  Luật Lao động đã có những tác động tích cực   đến việc hình thành khuôn khổ pháp lý cho thị trường này. Sức lao động  được coi là một hàng hoá đặc biệt, tiền lương được coi là mức giá của  sức lao động và được quyết định bởi sự  thoả  thuận giữa hai bên. Cả  người lao động và người sử dụng lao động đều có những quyền cơ bản  đảm bảo cho việc tham gia thị  trường lao động. Trước C.Mác chưa có  một nhà kinh tế học nào nhìn nhận rõ ranh giới giữa hai phạm trù " lao  động và sức lao động". Nhờ có quan điểm đúng đắn về lao động và sức   lao động, C.Mác đã trở thành người đầu tiên trình bày một cách khoa học   lý luận về hàng hóa sức lao động. Lý luận này đã từng bước hoàn thiện   qua nhiều tác phẩm khác nhau và đạt đến đỉnh cao trong bộ  Tư  bản.   Trong bộ Tư bản, C.Mác viết: "Tư bản chỉ phát sinh ở nơi nào mà người   chủ những tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt tìm thấy được người lao   động tự  do với tư  cách là người bán sức lao động của mình  ở  trên thị   trường. Bây giờ, chúng ta phải nghiên cứu một cách tường tận hơn thứ   hàng hoá đặc biệt, tức là sức lao động". Để hiểu rõ hơn vấn đề nên em  4
  5. chọn nghiên cứu đề  tài: “Hàng hóa sức lao động và vấn đề  lao động   và việc làm ở Việt Nam”  NỘI DUNG CHƯƠNG I HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG I.  Sức lao động và điều kiện để  sức lao động trở  thành hàng  hóa: 1/ Khái niệm sức lao động: Theo C.Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ  các thể lực và trí lực ở  trong cơ  thể  con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể  lực và trí lực mà con người phải làm trong hoạt động để  sản xuất ra  những vật có ích.” 2/ Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá: Trong bất kỳ  xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố  hàng  đầu của quá trình lao động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao   động cũng là hàng hoá. Thực tiễn lịch sử  cho thấy, sức lao  động của  người nô lệ  không phải là hàng hóa, vì bản thân người nô lệ  thuộc sở  hữu của chủ  nô, anh ta không có quyền bán sức lao động của mình.  Người thợ  thủ  công tự  do tuy được tùy ý sử  dụng sức lao động của  mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải hàng hóa, vì anh ta  có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình, chứ chưa buộc  phải bán sức lao động để sống. Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi   có hai điều kiện lịch sử sau: 5
  6. Một là, người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả  năng chi phối sức lao động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị  trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản con người có sức lao động  đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở  hữu   năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải  thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến. Hai là, người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất và tư liệu  sinh hoạt, không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong điều kiện  ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không  còn cách nào khác để sinh sống. Sự  tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ  sức lao động biến thành hàng hoá. Sức lao động trở  thành hàng hóa là  điều kiện quyết định để  tiền biến thành tư bản. Tuy nhiên để tiền biến  thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển  đến một mức nhật định.   Dưới chủ  nghĩa tư  bản, đã xuất hiện đầy đủ  hai điều kiện đó.  Một mặt, cách mạng tư  sản đã giải phóng người lao động khỏi sự  lệ  thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến.  Mặt khác, do tác động  của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã  làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập   trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức   lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn. Trong các hình thái trước tư  bản chủ  nghĩa (TBCN) chỉ  có sản  phẩm của lao động mới là hàng hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát  triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ  bị  phá vỡ  thì mới xuất hiện điều kiện để  sức lao động trở  thành hàng  hóa. Chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất   6
  7. hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến và đã báo hiệu sự ra đời của một  thời đại mới trong lịch sử xã hội ­ thời đại của chủ nghĩa tư bản. II. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá ­ sức lao động cũng có hai   thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. 1/ Giá trị hàng hoá sức lao động:  Giá trị  hàng hoá sức lao động cũng giống như  các hàng hoá khác  được quy định bởi số  lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để  sản   xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Nhưng, sức lao động chỉ  tồn tại   như  năng lực sống của con người. Để  sản xuất và tái sản xuất ra năng  lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số  lượng tư  liệu sinh hoạt   nhất định. Ngoài ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu  của gia đình và con cái anh ta nữa. Chỉ có như vậy thì sức lao động mới   được sản xuất và tái sản xuất liên tục. Vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để  sản xuất ra sức lao  động sẽ  quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để  sản xuất ra   những tư liệu sinh hoạt  ấy, hay nói một cách khác, số  lượng giá trị  sức   lao động được xác định bằng giá trị  của những tư  liệu sinh hoạt để  tái  sản xuất ra sức lao động. Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao  hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của  công nhân không chỉ có nhu cầu về  vật chất mà còn gồm cả  những nhu  cầu về  tinh thần (giải trí, học hành,…). Nhu cầu đó, cả  về  khối lượng  lẫn cơ  cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải  lúc nào và  ở  đâu cũng giống nhau. Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử  của   từng nước, từng thời kỳ, phụ  thuộc vào trình độ  văn minh đã đạt được  7
  8. của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý   và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân. Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ  nhất   định thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là  một đại lượng nhất định. Do đó, có thể  xác định do những bộ  phận sau   đây hợp thành:  Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần  thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người   công nhân.  Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người   công nhân. Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời  kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối  lập nhau. Một mặt là sự  tăng nhu cầu trung bình xã hội về  hàng hoá và   dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao   động. Mặt khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá   trị  sức lao động. Trong điều kiện tư  bản hiện đại, dưới tác động của  cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác , sự khác  biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự  phức tạp của lao động  và mức độ  sử  dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên. Tất cả  những điều kiện đó không thể không  ảnh hưởng đến các giá trị  sức lao   động. Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực  của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức   lao động.   2/ Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động: 8
  9. Giá trị  sử  dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như  các   hàng hoá khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức  là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất. Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể  hiện đó là:  Thứ  nhất, sự  khác biệt của giá trị  sử  dụng của hàng hoá sức lao   động so với giá trị  sử  dụng của các hàng hoá khác là  ở  chỗ: hàng hóa  thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả  giá trị  và giá trị  sử dụng của nó đều biến mất theo thơi gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng   hàng hóa sức lao động, đó lại là quá trình sản xuất ra một loại hàng hóa  nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra giá trị  mới lớn hơn giá trị  của thân  giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Như vậy,   hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó là   đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so  với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá để  giải quyết mâu thuẫn của   công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao   động trở thành hàng hoá. Thứ  hai, con người là chủ  thể  của hàng hoá sức lao động vì vậy,  việc cung  ứng sức lao động phụ  thuộc vào những đặc điểm về  tâm lý,  kinh tế, xã hội của người lao động. Đối với hầu hết các thị trường khác  thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối  với thị  trường lao động thì con người lại có  ảnh hưởng quyết định tới   cung. CHƯƠNG II VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 9
  10. Việc nghiên cứu hàng hoá sức  lao  động có  ý nghĩa quan trọng  trong việc giải quyết vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam hiện nay.  Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức lao động là hàng hoá (khi có đủ  các điều kiện trở thành hàng hoá) cho nên việc xây dựng thị  trường sức   lao động là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội   chủ  nghĩa là vấn đề  cốt lõi, trọng tâm của Đảng ta. Nền kinh tế  thị  trường định hướng xã hội chủ  nghĩa  ở  nước ta đòi hỏi phải có sự  phát   triển đồng bộ các loại thị trường và Nghị quyết Đại hội IX cũng đã nhấn  mạnh phải tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, thị trường lao  động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát triển. Thị trường sức lao động là thị  trường mà trong đó các dịch vụ  lao  động được mua bán thông qua một quá trình để  xác định số  lượng lao   động được sử  dụng cũng như  mức tiền công và tiền lương. Thị  trường   lao động là một trong những loại thị trường cơ bản và có một vị trí đặc  biệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế. Quá trình hình thành  và phát triển cũng như  sự  vận động của thị  trường lao động có những  đặc điểm hết sức riêng biệt. Thị  trường lao động cũng như  các loại thị  trường khác tuân thủ  theo những quy luật của thị  trường như  quy luật   cung cầu, quy luật giá trị  và quy luật cạnh tranh. Điểm khác biệt lớn  nhất  ở  đây là do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động (như  đã  trình bày ở trên). Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ  thống các chính sách và cơ  chế  quản lý cho sự  phát triển kinh tế  hàng  hoá nhiều thành phần, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để  các ngành,  cách hình thức kinh tế, các vùng phát triển, tạo nhiều việc làm đáp ứng  một bước yêu cầu việc làm và đời sống của người lao động, do đó cơ  hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng. Đại  10
  11. hội VIII của Đảng nêu rõ: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi  công dân, mọi nhà đầu tư  mở  mang ngành nghề, tạo nhiều việc cho   người lao động. Mọi công dân đều được tự  do hành nghề, thuê mướn   nhân công theo pháp luật. Phát triển dịch vụ việc làm. Tiếp tục phân bố  lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn  có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối   ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị  và thiếu việc làm  ở  nông thôn” ( Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc   lần thứ  VIII, trang 114­115) vì vậy người lao động từ  chỗ  thụ  động,  trông chờ vào sự bố trí công việc của Nhà nước (trong thời kỳ bao cấp),   người lao động đã trở  nên năng động hơn, chủ  động tự  tìm việc làm  trong các thành phần kinh tế. Các quan hệ lao động – việc làm thay đổi   theo hướng các cá nhân được tự do phát huy năng lực của mình và tự chủ  hơn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với quan hệ  cung cầu lao   động trên thị trường.  Người sử  dụng lao động được khuyến khích làm giàu hợp pháp,  nên đẩy mạnh đầu tư tạo việc làm. Khu vực kinh tế tư nhân được thừa   nhận và khuyến khích phát triển, mở ra khả năng to lớn giải quyết việc   làm tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động bán sức lao động của mình.  Ngày nay, vai trò của Nhà nước trong giải quyết việc làm đã thay  đổi cơ  bản. Thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm, Nhà nước tập  trung vào việc tạo ra cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo hành lang pháp  luật, xoá bỏ hàng rào về hành chính và tạo điều kiện vật chất đảm bảo   cho mọi người được tự  do đầu tư  phát triển sản xuất, tạo thêm việc  làm, tự do hành nghề, hợp tác và thuê muớn lao động. Cơ  hội việc làm   được tăng lên và ít bị  ràng buộc bởi các nguyên tắc hành chính và ý chí  chủ quan của Nhà nước. Từng bước hình thành cơ chế phân bố lao động  11
  12. theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế và chính sách  xuất khẩu lao động…. Theo Luật Lao động, Nhà nước đã chuyển hẳn từ cơ chế quản lý  hành chính về  lao động sang cơ  chế  thị  trường. Việc triển khai bộ luật   này đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước và ổn định  xã hội trong thời gian qua. Nhà nước cũng đã từng bước hoàn thiện hệ  thống pháp luật: Luật Đầu tư  nước ngoài, Luật Đất đai, Luật Doanh  nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư  trong nước…, nên đã thúc đẩy các  yếu tố  của các thị  trường, trong đó thị  trường sức lao động hình thành,  mở ra tiềm năng mới giải phóng các tiềm năng lao động và tạo mở việc  làm. Đồng thời với các cải tiến trong quản lý hành chính, hộ khẩu, hoàn   thiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tệ hoá tiền lương,   tách chính sách tiền lương, thu nhập khỏi chính sách xã hội đã góp phần  làm tăng tính cơ động của lao động.  Quan hệ  cung ­ cầu về  lao động trên thị  trường sức lao động  ở  nước ta hiện nay có những biểu hiện sau: Một là, trên phạm vi cả  nước, cung lớn hơn cầu về  lao động và  tình trạng này tiếp tục kéo dài trong những năm tới, dẫn đến sức ép rất   lớn về việc làm, vì chúng ta thiếu vốn đầu tư nghiêm trọng, chiến lược   lựa chọn công nghệ  thích hợp chưa được xác định rõ ràng, cơ  cấu kinh  tế  đang trong quá trình chuyển dịch, nhưng diễn ra chậm chạm và khó  khăn. Cung lớn hơn cầu về lao động còn do lao động còn tăng với tỷ lệ  cao 3,2%­3,5%/năm, dẫn đến mỗi năm có khoảng 1,1 triệu thanh niên  bước vào tuổi lao động. Số  này tham gia vào thị  trường lao động ngày  một đông và với khả  năng tự  giải quyết việc làm rất khác nhau, nhưng  có điểm thường là không được đào tạo nghề. Vì vậy, công tác dạy nghề  và phổ  cập nghề  trở  thành vấn đề  cấp bách và có tính chiến lược, là  12
  13. khâu then chốt nâng cao chất lượng và sức cạch tranh của lao động trên   thị trường. Hai là, lao động nông thôn chiếm hơn 70% lao động của cả nước,   nếu chỉ  làm thuần nông, tự  cung, tự  cấp, thì số  lao động thiếu hoặc   không có việc làm lên đến 30%. Số  này sẽ  tự  phát di chuyển ra thành  phố hoặc khu công nghiệp tập trung để tìm kiếm việc làm, làm cho cung  về lao động trên thị trường lao động càng lớn. Ba là, quan hệ  cung cầu về  lao động còn căng thẳng về  mặt kết   cấu, dẫn đến tình trạng “thất nghiệp kết cấu”. Điều này thể hiện ở chỗ:  một số ngành tiềm năng còn lớn, có khả  năng thành hiện thực (về  vốn,   kết cấu hạ  tầng, kỹ  thuật, công nghệ, thị  trường tiêu thụ…) như  lâm  nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ và du lịch… ở một số vùng miền núi, đồng  bằng sông Cửu Long, ven biển vẫn thiếu lao động, nhưng khả  năng di  dân và di chuyển lao động đến rất hạn chế. Trong khi đang có xu hướng lao động bị đẩy ra ở một số lĩnh vực,   thì đồng thời một số lĩnh vực và hình thức khác lại xuất hiện khả năng  thu hút thêm lao động như  kinh tế  hộ  gia đình, khu vực phi kết cấu,   doanh   nghiệp   nhỏ,   nhưng   lại   chưa   có   chính   sách   khuyến   khích   thoả  đáng. Đặc biệt là thiếu một đội ngũ lao động có trình độ cao để làm việc   trong một số  lĩnh vực áp dụng công nghệ  mới hoặc trong các khu chế  xuất, các đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài….  Chính sự thiếu ổn định trong quan hệ cung cầu trên thị trường sức   lao động đang là nhân tố  làm cho thị  trường này hoạt động kém hiệu  quả. Người lao động khi được tiếp nhận vẫn chưa thực sự  gắn bó và   yên tâm với công việc. Người sử dụng lao động chưa thực sự tin tưởng   vào người lao động. Hiện tượng này không chỉ  dẫn đến mất cân đối  cung cầu mà còn làm cho chi phí lao động tăng lên, tiền lương không thể  13
  14. hiện được giá trị đích thực của sức lao động. Tâm lý bất ổn còn dẫn đến  sức hút của các doanh nghiệp và tổ chức nhà nước mạnh hơn so với các   công ty và tổ chức cá nhân, trong khi khả năng tạo thêm việc làm mới lại  chủ yếu thuộc về khu vực tư nhân. Nền kinh tế thị trường  ở nước ta vận động và phát triển gắn liền  với quá trình CNH, HĐH. Vì vậy, khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao   động vào phát triển thị  trường lao động cần phải quan tâm giải quyết  vấn đề  nguồn cung lao động chất lượng cao cho quá trình CNH, HĐH.  Mặt khác, trong xu thế  hội nhập quốc tếnền kinh tế  thị  trường  ở  các   nước phát triển là hướng đến nền kinh tế tri thức. Đây là nền kinh tế đòi  hỏi lao động trí tuệ cao, vì vậy, người lao động phải biết nắm bắt và xử  lý thông tin nhanh nhạy, đặc biệt là trong những ngành công nghệ  mới.  Xu thế  này của nền kinh tế  thị  trường đòi hỏi việc vận dụng lý luận   hàng hoá sức lao động phải đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao giá trị  sử  dụng của hàng hoá sức lao động. Tuy nhiên, quá trình nhận thức và vận   dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vẫn còn những giới hạn   nhất định, chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền kinh tế thị trường   định hướng XHCN trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể như: về  giá trị  sử  dụng của hàng hoá sức lao động còn thấp làm hạn chế  phần  nào sự  cạnh tranh của nước ta trên thị  trường thế  giới, giá trị  hàng hoá   sức lao động còn bất cập, chưa bao hàm hết những yếu tốt đáp ứng yêu  cầu tái sản xuất mở  rộng sức lao  động cho một bộ  phận lớn những  người làm công ăn lương. Hệ  thống thông tin lao động, việc làm chưa  được quản lý chặt chẽ. Hệ  thống giáo dục ­ đào tạo chưa đủ  khả  năng  cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất  nước. 14
  15. Trước các vấn đề  trên, chúng tôi đưa ra một số  giải pháp cơ  bản   vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động để  đảm bảo nguồn nhân lực   cho thị trường lao động trong thời kỳ hội nhập quốc tế như sau:  Thứ  nhất, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải phù hợp  với điều kiện, hoàn cảnh cụ  thể  nền kinh tế  thị  trường sự  định hướng  xã hội chủ nghĩa: Vì lợi ích của người sử  dụng lao động và lợi ích của   người lao động phải có sự hài hoà. Quan hệ lao động ở các doanh nghiệp   cần được được luật hoá, theo đó, quan hệ giữa người sử dụng lao động  và người lao động không phải là quan hệ đối kháng, lợi ích tư nhân của   người sử  dụng lao động và lợi ích cá nhân của người lao động không  mâu thuẫn gay gắt với nhau mà được chuyển hoá để kết hợp thành một  thể  thống nhất, tạo hợp lực chung vì sự  phát triển của xã hội, sự  gắn  kết hài hoà giữa các lợi ích là yếu tố cơ bản để tạo lập mối quan hệ lao   động thân thiện giữa người sử dụng lao động.  Thứ hai, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải phù hợp với   quá trình hội nhập quốc tế và xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức.   Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động xây dựng và phát triển  nguồn  nhân  lực   cả   về  số  lượng   và  chất  lượng,  nhất  là  về  trình   độ  chuyên môn, kỹ  thuật, về  phẩm chất, năng lực thì mới có thể  tiếp cận  được nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.   Thứ  ba, tôn trọng nhân cách, phát huy vai trò làm chủ, năng động  sáng tạo, tinh thần yêu nước, yêu dân tộc của người lao động. Nhân cách  của người lao động được thể  hiện  ở  tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ  chức kỷ luật, tính tự giác và cộng đồng trách nhiệm trong mọi công việc  được giao. Do đó, tôn trọng nhân cách là làm cho những tố chất đó không  hề bị vi phạm, ngược lại, nó được phát huy một cách mạnh mẽ trong lao  động sản xuất, khiến cho người lao động toàn tâm, toàn ý, đem hết tài  15
  16. năng, sức lực của mình để đóng góp cho xã hội, cho doanh nghiệp vì lợi  ích chung.   Thứ tư, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải gắn liền với  việc hình thành đội ngũ lao động có trình độ  và cơ  cấu hợp lý đáp  ứng  yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều đó  có nghĩa là phải xây dựng và phát triển nguồn nhân lực mới đáp  ứng   được yêu cầu của thực tiễn. Đó là những người biết nắm bắt và sử  dụng có hiệu quả  những phương tiện kỹ  thuật hiện đại; những người   có năng lực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, trong quản lý vĩ mô và  vi mô; là những người  ứng xử  có văn hoá cũng như  có đạo đức nghề  nghiệp... Đi đôi với đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ  thuật cho người lao động, cần quan tâm giáo dục phẩm chất đạo đức, ý  thức trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ  nghĩa xã hội, trung thành với  mục tiêu, lý tưởng của Đảng, cho dù người lao động đó làm việc trong   bất cứ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào.   Thứ  năm, thúc đẩy giao dịch trên thị  trường lao động bằng các  hình thức như; phát triển hệ  thống trung tâm giới thiệu việc làm, tăng   cường quản lý Nhà nước, củng cố  và nâng cao chất lượng hoạt động  của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, phát triển hệ thống thông tin,  thống   kê   thị   trường   lao   động;   hoàn   thiện   hệ   thống   pháp   luật   về   thị  trường lao động, hoàn thiện bộ máy quản lý và vận hành có hiệu quả thị  trường lao động, nâng cao hơn nữa vai trò của các tổ chức đại diện cho  người lao động và tổ  chức đại diện cho chủ sử dụng lao động, tiếp tục  hoàn thiện các chính sách thị trường lao động, chính sách tiền lương. 16
  17. KẾT LUẬN Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa Như vậy sức   lao động là hàng hoá đặc biệt. Trong thời gian tới cần phải có những  giải pháp hoàn thiện cơ  chế  chính sách đi đôi với nâng cao chất lượng   nguồn lao động tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người lao động được tự  do bán sức lao động, tự  do di chuyển sức lao động giữa các vùng, các  miền khác nhau … nhằm phát huy hết tiềm năng nguồn lực lao động của  nước ta với mục đích xây dựng một thị  trường lao động sôi động,  ổn   định và có hiệu quả tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế. 17
  18. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình  Những nguyên lí cơ  bản chủ  nghĩa Mác – Lênin  (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành  Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) của Bộ giáo dục đào tạo, nhà   xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội 2010 2. Tạp chí Lý luận chính trị số 2­2002 18
  19. 3. Tạp chí Lý luận chính trị số 12­2002 4. Tạp chí Lý luận chính trị số 1­2003 5.  http://www.wattpad.com/107191­h%C3%A0ng­h%C3%B3a­s  %E1%BB%A9c­lao­%C4%91%E1%BB%99ng 6.  http://htu.edu.vn/index.php?  option=com_content&view=article&id=931:tim­hiu­mt­loi­hang­hoa­ c­bit­sc­lao­ng&catid=134:tt&Itemid=49 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản