intTypePromotion=3

Đề tài: Hiến pháp 1992 - Đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chia sẻ: Huỳnh Thị Thùy Dương | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

0
55
lượt xem
8
download

Đề tài: Hiến pháp 1992 - Đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hiến pháp 1992 là văn bản duy nhất quy định tổ chức quyền lực nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển, hiến pháp 1992 là văn bản, là phương tiện pháp lý thể hiện tư tưởng của Đảng cộng sản dưới hình thức những quy phạm pháp luật. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo nội dung đề tài "Hiến pháp 1992 - Đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Hiến pháp 1992 - Đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam

  1. LỜI NÓI ĐẦ U                 Lịch sử của một dân tộc là lịch sử của những cuộc đấu tranh bền  bỉ và gian khổ, là thành quả lắng kết từ máu xương và nước mắt của nhân  dân đồng bào. Tiến trình lịch sử loài người đã trải qua và ghi nhận những  đau thương mất mát và cả những chiến thắng vẻ vang. Tất cả là để giành  được độc lập, chủ quyền, tự do, dân chủ. Một trong những nhiệm vụ cấp  bách đặt  ra chính  là cần  xây dựng  hiến  pháp. Bởi  vậy, hiến pháp ra  đời  như  một  lẽ  tất  yếu,  đảm  nhận  sứ  mệnh  lịch  sử,  là  một  thứ  công  cụ  hữu  hiệu  nhất  để  khẳng  định  với  thế  giới  các  quyền  dân  tộc  cơ  bản  mà  con  người xứng đáng được hưởng. Và như Latxan,  một học giả nổi tiếng về  luật  Hiến pháp  đã  nói: “Hiến pháp phải trở thành  không chỉ  là  một đạo  luật  mà  phải  hơn  một  đạo  luật.  Hiến pháp không phải  là đạo  luật thông  thường, hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước”.                  Lịch  sử  lập  hiến  Việt  Nam  trải  qua  bốn  bản  hiến  pháp:  Hiến  pháp năm 1946, hiến pháp năm 1959, hiến pháp năm 1980 và hiến pháp  năm  1992  (sửa  đổi,  bổ  sung  2001).  Hiến  pháp  1946  là  sự  khai  mở  cho  việc xây dựng những điều luật cơ bản, được phát triển qua các bản hiến  pháp 1959, 1980 và đặc biệt đến hiến pháp 1992 được hoàn thiện tới mức  tối  ưu.  Bởi  những  lý  do  trên  nên  với  bài  tập  nhóm  tháng  1,  nhóm  6B2  quyết định tìm  hiểu  về đề tài: “Hiến pháp 1992  – Đạo luật cơ bản của  nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.  Trong quá trình tìm hiểu, do kiến thức còn hạn chế nên không tránh  khỏi những sai sót, rất mong thầy cô góp ý để đề tài thêm đầy đủ và sâu  sắc.  1  
  2. sắc. Chúng em xin chân thành cảm ơn!           I. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1992.                 Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến  pháp 1980 tỏ  ra không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất  nước. Tình hình thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải có một bản hiến  pháp mới ra đời, phù hợp hơn để  thúc đẩy sự  tiến bộ  của xã hội, xây  dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân.        Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra một thời kỳ  mới  ở  nước ta. Đảng đã chủ  trương nhìn thẳng vào sự  thật, phát hiện  những sai lầm của Đảng, của Nhà nước, mở  rộng dân chủ  xã hội chủ  nghĩa, phát huy tư  duy độc lập, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao  động, trên cơ sở đó để có những nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội   và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội  dân giàu nước mạnh, công bằng và văn minh. Với tinh thần của Nghị  quyết Đại hội Đảng lần thứ  VI, Quốc hội khóa 8, tại kì họp thứ  3 ngày  22/12/1988 đã ra Nghị  quyết sửa đổi lời nói đầu của Hiến pháp 1980.  Ngày 30/6/1989, kì họp thứ 5, Quốc hội khóa 8 lại ra Nghị quyết sửa đổi  7 điều: 57,116,118,122,123,125 để xác định them quyền ứng cử vào Quốc  hội, HĐND của công dân và thành lập thêm thường trực HĐND trong cơ  cấu HĐND cấp tỉnh, thành phố  trực thuộc trung  ương và cấp huyện,  quận, thành phố  thuộc tỉnh, thị  xã đồng thời củng cố  thêm các mặt hoạt  động của HĐND và UBND. Trong kì họp này Quốc hội đã ra Nghị quyết  thành lập  Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để  sửa đổi Hiến pháp một cách cơ  bản, toàn diện đáp  ứng yêu cầu của tình hình kinh tế, xã hội mới, đặc   biệt là trong lĩnh vực kinh tế.  Ủy ban sửa đổi hiến pháp được thành lập   bao gồm 28 người, do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công là Chủ  tịch.  Ủy ban dự thảo hiến pháp đã họp nhiều phiên để  chỉnh lý, bổ  sung  và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi.             Cuối năm 1991 đầu năm 1992 Bản dự thảo Hiến pháp lần ba đã   được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng  góp của nhân dân và ý kiến của Bộ  chính trị, Ban chấp hành trung ương  Đảng, Dự thảo Hiến pháp lần 4 đã hoàn thành và được trình lên Quốc hội   khóa VIII, tại kì họp thứ XI xem xét. Sau nhiều ngày xem xét, thảo luận   sôi nổi với những chỉnh lý và bổ  sung nhất định, ngày 15 tháng 4 năm  1992 Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp. Việc soạn thảo và đưa ra  Hiến pháp năm 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ và chắt lọc một  2
  3. cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất  cả  các vấn đề  từ  quan điểm chung đến các vấn đề  cụ  thể. Bản Hiến   pháp này là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Đúng  như nhận xét của đồng chí Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng  Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, nó là “sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể   hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước”.  II. Hiến pháp 1992 – đạo luật cơ bản của nước CHXHCN Việt Nam.            Tính chất luật cơ bản của Hiến pháp 1992 trong nhà nước XHCN   Việt Nam thể hiện trên nhiều phương diện. 1. Khái niệm “Đạo luật cơ bản”.              Đạo luật (luật theo nghĩa hẹp) là một văn bản pháp luật do cơ  quan lập pháp biểu quyết và thông qua. Luật thường được chia theo 2 đặc  tính cơ bản: Luật cưỡng bức có tính bắt buộc với người thuộc đối tượng   của luật đó hoặc luật bổ  trợ  cho 1 luật khác. (Các loại luật: luật hiến  pháp, luật sửa đổi và bổ sung, luật tổ chức, luật dân sự, luật hình sự.....).             Đạo luật cơ bản là văn bản pháp luật có tính pháp lý cao nhất  trong Nhà nước.  Nó điều chỉnh các mối quan hệ  xã hội cơ  bản trong xã   hội với phạm vi đối tượng điều chỉnh là rất rộng, lien quan đến nhiều   lĩnh vực của cuộc sống. Tuy nhiên, đúng như  bản thân hai chữ  “cơ  bản”   nên đạo luật cơ bản có đối tượng điều chỉnh rộng  không có nghĩa là điều   chỉnh các quan hệ  xã hội trong lĩnh vực của cuộc sống nhà nước và xã  hội. Ngược lại, các đạo luật cơ  bản chỉ  điều chỉnh các mối quan hệ  xã  hội có bản nhất, quan trọng nhất mà những quan hệ  đó tạo thành nền  tảng của chế  độ  nhà nước và xã hội, có liên quan tới việc thực hiện   quyền lực nhà nước. Chúng ta có thể khẳng định Hiến pháp 1992 là một   đạo luật cơ bản.  2. Hiến pháp 1992 – đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa  Việt Nam.           a. Trước hết, có thể thấy, Hiến pháp 1992 là văn bản duy nhất quy   định tổ chức quyền lực nhà nước, là hình thức pháp lý thể  hiện một cách  tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển,   hiến pháp 1992 là văn bản, là phương tiện pháp lý thể hiện tư tưởng của   Đảng cộng sản dưới hình thức những quy phạm pháp luật. Ví dụ:  Điều 2, chương I của Hiến pháp 1992 có viết: “Nhà nước Cộng   hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa   của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc   về  nhân dân mà nền tảng là lien minh giữa giai cấp công nhân với giai   3
  4. cấp nông dân và đội ngũ tri thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có   sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiên   các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”             Điều 4, chương I của Hiến pháp 1992 có viết: “ Đảng Cộng sản   Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu   trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của   cả  dân tộc,theo chủ  nghĩa Mác – Lênin và tư  tưởng Hồ  Chí Minh, là lực   lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.           Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ  Hiến pháp và   pháp luật.”                        Nội dung điều luật trên đã khẳng định được vai trò lãnh đạo của   Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Hiến pháp 1992 đã   phần nào phản ánh được những quy luật khách quan, hững ý chí, nguyện  vọng, quyền và lợi ích của nhân dân, phát huy được hiệu quả  của pháp  luật đối với các mối quan hệ xã hội. b.Xét về mặt nội dung.            Xét trên phương diện nội dung, nếu các luật khác thường chỉ điều  chỉnh các quan hệ  xã hội thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống;  chẳng hạn luật hôn nhân và gia đình, luật đất đai, luật lao động… thì đối  tượng điều chỉnh của hiến pháp rất rộng, có tính chất bao quát trên mọi  lĩnh vực cuả sinh hoạt xã hội. Đó là những quan hệ giữa công dân, xã hội   với Nhà nước và là quan hệ cơ bản xác định chế độ nhà nước.  ­ Trong lĩnh vực chính trị: Luật Hiến pháp 1992 điều chỉnh những quan   hệ xã hội cơ bản sau: các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định   nguồn gốc của quyền lực nhà nước, các hình thức nhân dân sử  dụng  quyền lực nhà nước; các quan hệ  xã hội xác định mối quan hệ  giữa  Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và   các thành viên của Mặt trận; các quan hệ xã hội quyết định chính sách  đối nội, đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt  Nam… Những quan hệ này trên cơ sở để xác định chế độ chính trị của  nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.   Ví dụ: Điều 6, chương I – Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ­   Chế độ chính trị quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông   qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân  là những cơ quan đại diện cho ý chí   và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm   trước nhân dân. 4
  5.                 Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ  quan khác của Nhà   nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.”           Điều 6 đã chỉ  rõ một phần nguồn gốc quyền lực của nhà nước là   thuộc về nhân dân. Đồng thời chỉ rõ các hình thức sử dụng quyền lực nhà  nước của nhân dân.      Hay trong điều 9, chương I – Nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt  Nam – chế độ chính trị quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức   liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức   chính trị  ­ xã hội, tổ  chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai   cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam   định cư ở nước ngoài.      Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính   trị  của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết   toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân,   tham gia xây dựng và củng cố  chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước   chăm lo và bảo về  lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân   thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật,   giám sát hoạt động của cơ  quan nhà nước, đại biểu dân cử  và cán bộ,   viên chức nhà nước.      Nhà nước tạo điều kiện để  Mặt trận Tổ  quốc và các tổ  chức thành   viên  hoạt động có hiệu quả.”          Các điều quy định trên làm cơ sở  cho Luật tổ chức và các bộ luật   khác ra  đời. Từ  Hiến pháp 1992 quy định việc tổ  chức, khả  năng và  quyền hạn của phái Nhà nước và nhân dân giúp các luật khác điều chỉnh  theo. ­ Trong lĩnh  vực kinh tế: Luật hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã   hội sau:  các quan hệ  xã hội xác định các loại hình sở  hữu, các thành   phần kinh tế, chính sách của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế,   vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế. Ví dụ:                Khi quy định về các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế chủ  đạo, Hiến pháp 1992 có viết. “Kinh tế nhà nước được củng cố  và phát   triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo,   cùng với kinh tế  tập thể  ngày càng trở  thành nền nền tảng vững chắc   của nền kinh tế quốc dân.” (Điều 19, chương II – Chế độ kinh tế). Hoặc  cũng tại chương II – chế độ kinh tế, điều 20 có viết : “Kinh tế tập thể do   công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ  chức   dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.  5
  6.      Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở  rộng các hợp tác xã hoạt   động có hiệu quả.”           Cùng với các điều khác trong chương “Chế  độ  kinh tế”, hai điều  trên đã trở  thành cơ  sở, nền tảng cho Luật kinh tế. Tạo điều kiện cho   Luật kinh tế ra đời có được những khuôn mấu để  định hướng chính xác   các vấn đề  kinh tế. Nhiều điều khoản trong Hiến páp 1992 cũng góp  phần định hướng cho các luật doanh nghiêp, luật tranh chấp…       Một ví dụ  khác để minh chứng cho “Hiến pháp 1992 là đạo luật cơ  bản” trong chương về chế độ kinh tế như: “Đất đai, rừng núi, sông hồ,   nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục   địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư  vào các xí   nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,   khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác   mà pháp luật quy định là của nhà nước, đều thuộc sở  hữu toàn dân.”   (Điều 17, chương II).   Điều này chứng tỏ  không chỉ  có thể  làm cơ  sở,  làm thước chuẩn cho Luật kinh tế, Luật thương mại mà các Luật đất đai,  Luật tài nguyên và môi trường… cũng dựa trên Hiến pháp 1992 để ra đời. ­ Trong lĩnh vực quan hệ  giữa công dân và Nhà nước: Luật HP 1992  điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định địa vị pháp lý  cơ  bản của công dân như: Quốc tịch, quyền và nghĩa vụ  cơ  bản của   công dân. Ví dụ:  Điều 49,chương V Hiến pháp 1992 quy  định: “Công dân nước   Cộng hòa xã  hội chủ  nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”.  Theo đó cả bộ luật " Luật quốc tịch Việt Nam " gồm 6 chương 44 điều ra đời, quy định chặt chẽ về những người có quốc tich Việt Nam, nhập quốc tịch Việt nam, trở về quốc tịch Việt nam,....          Hay khi  quy định về  quyền và nghĩa vụ  cơ  bản của công dân thì   chương V, điều 54 viết:  “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ,   thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ  văn hóa, nghề nghiệp,   thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai   mưới mốt tuổi trở  lên đều có quyền  ứng cử  vào Quốc hội, HĐND theo   quy định của pháp luật.”  Theo đó, Luật bầu cử  của nước Cộng hòa xã  hội chủ nghĩa Việt Nam đã được ban hành.           Điều 58, chương V – Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy  định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập pháp, của cải để sản xuất,   vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ  chức kinh tế   khác; đối với đất được nhà nước giao sử  dụng thì theo quy định tại Quy   định tại điều 17 và điều 18. 6
  7.             Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của   công dân.”   Hay tại điều 60, chương V có viết: “Công dân có quyền nghiên cứu   khoa học, kĩ thuật, phát minh, sang chế, sang kiến cải tiến kỹ thuật, hợp   lý hóa sản xuất, sang tác, phê bình văn học, nghệ  thuật và tham gia các   hoạt động văn hóa khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu   công nghiệp.”       Từ đó các uật như Luật bản quyền, Luật sáng tạo… đã được dự thảo   và đưa và cuộc sống. Có thể nói, Luật Hiến pháp 1992 đã tạo những nền  tảng cơ  bản nhất cho những quy tắc, nền tảng cơ sở để  tạo nên nhiều   luật khác. Đó là một cách cụ thể hóa Hiến pháp. ­ Trong lĩnh vực tổ  chức và hoạt động của bộ  máy nhà nước: Luật  hiến pháp điều chỉnh các quan hệ  xã hội liên quan đến việc xác định  các nguyên tắc, cơ  cấu tổ  chức và hoạt động của các cơ  quan nhà  nước.   Ví dụ: Điều 83, chương VI – Quốc hội quy định:  “Quốc hội là cơ quan   đại biều cao nhất của nhân dân, cơ  quan quyền lực Nhà nước  cao nhất   của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.           Quốc hội quyết định những chính sách cơ  bản về  đối nội và đối   ngoại, nhiệm vụ  kinh tế  ­ xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước,   những     nguyên tắc chủ  yếu về  tổ  chức và hoạt động của bộ  máy Nhà   nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.                Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ  hoạt   động của bộ máy nhà  nước.”                        Như vậy, qua Hiến pháp ta có thể nhận thấy vai trò của   Quốc hội trong việc lập pháp. Đồng thời trong Hiến pháp 1992 vai trò  của Chủ  tịch nước và các cơ  quan đại diên cho nhà nước (Phó chủ  tịch  nước, UBND, HĐND, VKSND…) cũng được xác định vai trò một cách  cơ bản nhất và cụ thể nhất.                      Có thể nói, Hiến pháp 1992 đóng vai trò như vị trí liên kết các   ngành luật khác. Chính vị trí trung tâm này của HP 1992 mà hệ thống pháp  luật Việt Nam được xây dựng thành một hệ  thống pháp luật thống nhất   và hoàn chỉnh.  Hiến pháp 1992 xác lập những nguyên tắc cơ bản làm cơ  sở  để  xây dựng ngành luật khác. Từ  HP 1992, chúng ta đã xây dựng nên  một hệ  thống hoàn chỉnh các bộ  luâtj của nước CHXH chủ  nghĩa Việt  Nam.       c. Xét về mặt pháp lý. 7
  8.         Xét về  phương diện pháp lý, HP năm 1992 với tính chất là luật cơ  bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Đặc tính đó của Hiến pháp 1992 có  những biểu hiện cụ thể như sau: ­ Các quy định của HP 1992 đều là nguồn, là căn cứ  cho tất cả  các  ngành luật khác thuộc hệ  thống pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt Nam. Ở  đây, cần chú ý đến các đặc tính của các quy phạm HP và các ngành  luật khác. Thông thường, người ta thường phân biệt ba loại quy phạm   hiến pháp: Quy   phạm tuyên ngôn – cương lĩnh, quy phạm điều chỉnh   chung, quy phạm điều chỉnh trực tiếp. ­  Các ngành luật khác hầu hết không mâu thuẫn với Hiến pháp  1992 mà  hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội dung các quy định của HP 1992. ­ Tất cả các văn bản pháp luật khác cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần  và nội dung của Hiến pháp 1992, chúng đều được ban hành trên cơ sở HP   1992 và để thi hành hiến pháp. ­ Các điều  ước Quốc tế  mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam tham gia  không mâu thuẫn, đối lập với quy định của HP 1992. ­ Các cơ quan có thẩm quyền đã và đang ban hành các văn bản pháp luật  mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định. ­ Tất cả  các cơ  quan nhà nước phải thực hiện chức năng của mình theo  quy định của Hiến pháp 1992, sử  dụng đầy đủ  các quyền hạn, làm tròn  các nghĩa vụ, chức năng mà HP quy định. ­ Tuân theo Hiến pháp 1992, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của HP   1992 là nghĩa vụ  cao quý, thiêng liêng bậc nhất của mỗi công dân nước  CHXHCN Việt Nam. III. Kết luận.              Nước ta đang trong thời kỳ Hội nhập Quốc tế và hợp tác hóa từng   ngày. Trước bối cảnh đó, Hiến pháp 1992 đã và đang làm đúng vai trò,  nhiệm vụ của mình trong việc định hướng và làm cơ sở cho các Bộ luật ra  đời. Một lần nữa có thể khẳng định, Hiến pháp 1992 là đạo luật cơ  bản   của nước CHXHCN Việt Nam. 8
  9. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU  A –Tài liệu bắt buộc.  1. Giáo trình “Luật Hiến pháp Việt Nam”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội,  năm 2006. 2. Giáo trình “Luật Hiến pháp Việt Nam”, Khoa luật – ĐH Quốc gia Hà  Nội, Nxb.ĐHQG, Hà Nội, năm 2005. B – Tài liệu tham khảo.  1. Sách “Góc nhìn Lập pháp” của Bùi Ngọc Sơn, Nxb.CTQG, Hà Nội năm  2006. 2.Văn phòng Quốc hội, Hiến pháp 1946 – Sự  kế  thừa và phát triển qua   các Hiến pháp VN, Nxb.CTQG, Hà Nội, năm 1993. 3. Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật,   “Bình luận khoa học hiến   pháp Cộng hòa XCHCN Việt Nam”, Nxb.KHXH, năm 1995. 4. Một số trang web. 9
  10. MỤC LỤC                                                                                                     Trang Lời nói đầu                                                                                    1 Phần nội dung I. Khái niệm.                                                                                 2 II. Hiến pháp 1992 – đạo luật cơ bản                                            3       Phần kết luận                                                                                 8 Danh mục tài liệu                                                                          10 10

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản