intTypePromotion=1

Đề tài: Hiện trạng ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp tại Việt Nam

Chia sẻ: Vũ Thị Thương | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:19

0
158
lượt xem
21
download

Đề tài: Hiện trạng ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài trình bày thành tựu của việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, khó khăn của việc ud khcn trong nông nghiệp tại Việt Nam, nguyên nhân của những khó khăn trên, biện pháp, đề xuất cho vấn đề ƯDKHCN trong nông nghiệp tại Việt Nam. Mời các bạn tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Hiện trạng ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp tại Việt Nam

  1. Bộ Nội Vụ  Học Viện Hành Chính Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh           QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP  NÔNG THÔN Đề tài : HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC  CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM GV:  Th.s Trần Minh Phong Lớp: KS14­XH Nhóm thực hiện : Nhóm 6 1.Hoàng Cao Sáng 2.Rlan Phước 3.Võ Thị Ngọc Huyền
  2. 4.Nguyễn Thị Hằng 5.Trần Ngọc Hải 6.Vũ Thị Thương MỤC LỤC I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI THÀNH TỰU CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG  II. NGHIỆP. 1. Thành tựu trong Công nghệ sinh học  2. Thành tựu trong nghệ cao KHÓ KHĂN CỦA VIỆC UD KHCN TRONG NÔNG NGHIỆP TẠI  III. VIỆT NAM IV. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG KHÓ KHĂN TRÊN V. BIỆN PHÁP 1. Biện pháp ngắn hạn 2. Biện pháp dài hạn VI. Đề xuất của nhóm 6 cho vấn đề UD KHCN trong nông nghiệp tại  Việt Nam VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
  3. Các từ viết tắt sử dụng trong bài: KHCN: Khoa học công nghệ TW : Trung ương UD: Ứng dụng DN: doanh nghiệp NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn CNSH : Công nghệ sinh học I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tại Việt Nam thì nông nghiệp hiện chiếm 47,5% tỷ trọng sản xuất với hơn 22   triệu lao  động, trong đó có tới 10 triệu nông hộ  với tổng diện tích đất nông   nghiệp xấp xỉ 700.000 ha. Đây là một thuận lợi và cũng là thách thức của ngành  nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập ngày càng sâu rộng. Những năm qua, ngành  nông nghiệp vẫn chủ  yếu phát triển theo chiều rộng (tăng mạnh về  số  lượng,  sản lượng cây trồng, vật nuôi). Đơn cử, năm 2013, tổng giá trị  kim ngạch XK   nông nghiệp của Việt Nam đạt 28 tỉ  USD, là một trong 15 nước XK nông sản   hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, do phát triển theo chiều rộng nên hiệu quả đối   với nông dân và đất nước còn hạn chế. Thực tế  này đòi hỏi phải chuyển dịch   mạnh sang phát triển theo chiều sâu (nâng cao giá trị  gia tăng, chất lượng nông 
  4. sản). Và chìa khóa thành công hiện giờ của nước ta chính là việc áp dụng KHCN  trong nông nghiệp sao cho Nông nghiệp là ngành mũi nhọn trên trường quốc tế. Cũng theo Bộ  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), trong giai  đoạn 2001­2011, các hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp và   phát triển nông thôn đã đóng góp trực tiếp vào GDP của Ngành khoảng 35%.   Năng suất nhiều loại cây trồng, vật nuôi đã tăng đáng kể và đạt mức tiên tiến của  thế giới như lúa, cà phê, cao su,... Tuy nhiên, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật   để  nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả  và sức cạnh tranh của sản phẩm   nông nghiệp vẫn còn hạn chế. Chính vì thế mà việc xem xét hiện trạng của UD KHCN trong nông nghiệp để  thấy những vấn đề  còn tồn tại, từ  đó có những biện pháp kịp thời cũng như  dài   hạn.  II.THÀNH TỰU CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG  NGHIỆP. 1. Thành tựu trong Công nghệ sinh học  Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong lĩnh vực nông nghiệp được coi là  giải pháp đột phá xây dựng nền nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo  hướng hiện đại. Vào những năm 70, hàng loạt giống lúa mới ngắn ngày có năng suất cao được   tạo  ra   bằng   CNSH   đã   được   đưa   vào   sản  xuất.   Những  giống   lúa   này   đã   làm  chuyển được vụ  lúa chiêm dài ngày,  ổn định, góp phần tăng sản lượng lúa lên   nhanh chóng. 
  5. Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả  nước, vì vậy công tác   nghiên cứu và  ứng dụng CNSH vào sản xuất lúa được xem là yếu tố  quyết định  giúp cải tạo các giống lúa, nâng cao sản lượng và chất lượng lúa gạo để ứng phó   với biến đổi khí hậu và phục vụ  xuất khẩu. Do đó, Viện Lúa Đồng bằng sông  Cửu Long đã tập trung nghiên cứu giải mã gen các giống lúa có khả  năng chịu   nhiễm mặn mà vẫn đạt năng suất cao, kháng bệnh, có phẩm cấp gạo cao. Viện   đã tìm được 30 dòng lúa đạt tiêu chuẩn trên đưa vào khảo nghiệm, đánh giá trên   đồng ruộng. Ngoài ra, Viện còn thành công với các nghiên cứu chuyển nạp gen  tạo   lúa   kháng   hạn,   giàu   vi   chất   dinh   dưỡng. Ngoài cây lúa, Đồng bằng sông Cửu Long còn là vựa trái cây lớn của cả  nước.   Trước thực tế  đó, Viện Nghiên cứu Cây ăn quả  miền Nam đã tập trung hướng   nghiên cứu CNSH vào việc phát triển các loại cây ăn quả đặc sản có giá trị  kinh  tế  cao. Trong đó nổi bật nhất là công nghệ  nhân giống cây có múi (cam, chanh,   quýt, bưởi…) sạch bệnh bằng kĩ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng. Bằng kĩ thuật   này, các nhà khoa học đã tạo ra được những giống cây có múi không bị  nhiễm  bệnh vàng lá greening (VLG) và một số bệnh do virus gây hại. Hoặc xử lí chiếu  xạ bằng tia gama để thay đổi cấu trúc gen nhằm tạo ra những loại cây đặc sản có   múi không hạt. Nhờ những phương pháp này mà Viện đã chuyển giao cho nhiều   nhà vườn  ở  Đồng bằng sông Cửu Long nhiều giống cây trồng sạch bệnh, năng  suất cao, sản phẩm đồng đều và người nông dân có thể  chủ  động được thời vụ  trồng, thu hoạch. Viện cũng đang tiến hành các đề  tài nghiên cứu lớn, trong đó  đáng chú ý có đề tài xác định tác nhân gây bệnh chổi rồng trên nhãn bằng kĩ thuật  sử  dụng marker phân tử  để  nhân đoạn ADN định danh, hay đề  tài phân loại tác  nhân gây bệnh và nghiên cứu lai xa giữa giống xương rồng quả  màu vàng với   giống thanh long ruột trắng để  tạo ra giống thanh long ruột vàng có hàm lượng   carotenoids   cao   giúp   chống   được   bệnh   lão   hóa   ở   người. Tại Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm Công nghệ Sinh học Tp. Hồ Chí Minh ra đời vào  năm 2004 với tổng kinh phí đầu tư  xây dựng khoảng 100 triệu USD. Bước đầu,   Trung tâm đã đạt được một số kết quả  trong  ứng dụng CNSH vào lai tạo giống   hoa lan, sưu tập và định danh hơn 100 giống lan rừng Việt Nam quý hiếm; nghiên   cứu thành công bộ  Kit PCR phát hiện bệnh virus; nghiên cứu  ứng dụng thành  công hệ thống ngập chìm tạm thời trong nhân giống cấy mô thực vật có ưu thế  vượt trội về số lượng cây con, tỉ lệ cây sống và rút ngắn thời gian; nghiên cứu về  các loại vacxin ngừa bệnh gan thận mủ trên cá tra bằng công nghệ tái tổ hợp gen,  gây đột biến; nghiên cứu ứng dụng công nghệ tế bào động vật để hoàn thiện quy   trình tạo phôi bò bằng phương pháp thụ  tinh in vitro… Năm 2007, Khu Nông 
  6. nghiệp Công nghệ  cao rộng hơn 80ha được thành lập với mục tiêu chuyển giao  đến thực tế các mô hình tiến bộ khoa học kĩ thuật nông nghiệp. Hiện nay, 100%   diện tích dành cho các nhà đầu tư  đã được lấp đầy với 14 dự  án. Bước đầu, tại   đây đã chuyển giao thành công một số mô hình nuôi cấy mô giống lan quý, giống  chuối đặc sản, giám định bệnh bằng CNSH phân tử, chuyển gen kháng bệnh trên  cây   cà   chua...  Bên cạnh việc nghiên cứu lai tạo các giống cây trồng, các nhà khoa học Việt Nam   cũng nghiên cứu ứng dụng các thành quả  của CNSH vào sản xuất phân bón hữu   cơ nhằm hướng đến nền nông nghiệp xanh bền vững. Điển hình như Công ty Cổ  phần Thiên Sinh và Công ty TNHH Hữu cơ là hai đơn vị  đi đầu trong  ứng dụng   công nghệ lên men vi sinh để sản xuất các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ  vi sinh cung cấp dưỡng chất cho cây trồng, góp phần cải tạo đất, bảo vệ  môi   trường. Hiện nay, mỗi năm, hai đơn vị  này cung cấp cho thị  trường hàng trăm   nghìn tấn phân bón hữu cơ chất lượng cao các loại, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản   xuất trong nước, đặc biệt là khu vực phía Nam và dành một phần để xuất khẩu.  Theo báo cáo của Bộ  NN&PTNT, đến hết năm 2010, Chương trình trọng điểm  phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nông nghiệp và phát triển nông   thôn giai đoạn 2006­2010 đã phê duyệt đưa vào thực hiện được 90 nhiệm vụ khoa  học công nghệ (78 đề tài và 12 dự án sản xuất thử nghiệm), trong đó có 35 đề tài   kết thúc năm 2010. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định, các kết  quả nghiên cứu đã tạo ra hoặc tiếp nhận và làm chủ được một số CNSH hiện đại   đưa  vào  ứng  dụng  hiệu quả  chủ  yếu  tập trung  ở  những  lĩnh  vực  chính  như  chuyển gen mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra những   giống có năng suất cao, thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có khả  năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế  phẩm sinh học bảo vệ cây trồng  và vật nuôi.   Công nghiệp hóa trong nông nghiệp trong trồng trọt cơ  giới hóa  từ  khâu   chuẩn bị  đến khâu thu hoạch với sản phẩm máy cấy hiện đại như  MC 6­250,   MC­08, đến máy làm đất và máy đập liên hoàn. Việc áp dụng giống mới và các  quy trình canh tác tien tiến chương trình “ 3 giảm 3 tăng” IPM, GAP được đẩy  mạnh. Chương trình “3 giảm 3 tăng” được áp dụng tại tỉnh bình định thời gian  qua mang lại hiệu quả thiết thực giúp tăng hiệu quả  kinh tế  trong sản xuất lúa.  Năng suất lúa cao hơn giá thành sản xuất giảm, giảm thất thoát sau thu hoạch,  giúp hạn chế sâu bệnh, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
  7. Nhiều địa phương đã ứng dụng CNSH vào trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả  kinh tế cao. Đơn cử như việc triển khai 14 đề tài chọn tạo giống cây trồng nông,   lâm nghiệp bằng phương pháp chỉ thị  phân tử  đã chọn tạo được 7 giống lúa chịu  hạn, 2 giống lúa kháng đạo ôn, 4 giống lúa kháng rầy nâu, 2 giống lúa thơm chất   lượng cao, 2 giống chè có triển vọng về  năng suất, chất lượng, 8 giống bông  kháng bệnh xanh lùn... Trong  lĩnh   vực   chăn  nuôi,   các   kết   quả   nghiên  cứu  đã   lựa   chọn   được   môi  trường bảo quản tinh dịch dài ngày, cải tiến được các quy trình công nghệ  tạo   phôi, cấy truyền phôi, đông lạnh phôi lợn và bò trong ống nghiệm. Việc sử dụng   tinh nhân tạo giúp bò trưởng thành tăng từ 180kg/con lên 250­300kg/con, tỷ lệ xẻ  thịt tăng 1,5 lần. Nông dân ở nhiều địa phương còn ứng dụng CNSH trong ủ, chế  biến thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm để  tận dụng các phế  phẩm nông  nghiệp, giảm chi phí đầu vào.. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, việc  ứng dụng CNSH cũng đạt được  những thành công lớn. Điển hình như Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 đã   thành công việc nghiên cứu gia hóa tôm sú (là quá trình khép kín vòng đời tôm sú   bằng cách đưa tôm sú tự  nhiên về  nuôi bằng các biện pháp CNSH để  trở  thành  tôm sú bố  mẹ) để  sản xuất tôm sú sạch bệnh, mở  ra triển vọng sản xuất số  lượng lớn nguồn tôm giống sạch bệnh, phục vụ  ngành công nghiệp nuôi tôm  xuất khẩu. Với cá tra, CNSH đã can thiệp khá sâu rộng, từ  khâu chọn giống thế  hệ bố mẹ làm nguồn sản suất cá tra giống tốt, đến việc nghiên cứu về di truyền  tính trạng kháng bệnh gan thận mủ  tạo con giống có độ  tăng trưởng cao, sạch   bệnh, sản phẩm an toàn. công nghệ sinh sản nhân tạo một số loài thủy sản có giá   trị  kinh tế cao( tôm sú, tôm he, cá tra, cá ba sa..) đã tạo nên cuộc cách mạng thực  sự trong ngành nuôi  trồng thủy sản. Trung tâm quốc gia thủy sản nước ngọt nam  bộ thuộc viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 ( xã an thái trung, huyện cái bè,  tỉnh tiền giang) đã thành công trong việc sản sinh nhân tạo cá bông lau. Năm 2004  trung tâm nuôi vỗ đàn cá bông lau bố mẹ  ở ao hồ. Năm 2005 cá có dấu hiệu sinh  sản nhưng tỉ lệ thành công thấp dướ 5%, đến năm 2006  tỉ lệ cá nuôi sinh sản đạt   25%. Đây là loài cá da trơn quý hiếm, có giá trị  kinh tế  cao, sống nhiều  ở  sông   mekong nhưng do đánh bắt bừa bãi nên ngày càng khan hiếm.   Ngoài ra, Viện còn thành công trong nhiều nghiên cứu khác như   ứng dụng   sinh học phân tử trong chẩn đoán bệnh các loài thủy sản, sản xuất tôm càng xanh   toàn đực, nâng cao chất lượng sinh sản cá chẻm nhân tạo và nghiên cứu chế  phẩm vi sinh sử dụng trong phòng bệnh trên ấu trùng tôm.
  8. Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam cũng là đơn vị  đạt được  nhiều kết quả  nghiên cứu trên động vật như  xác định tính trạng gen được  ứng  dụng trong chọn giống vật nuôi, trong kiểm soát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia   cầm, nghiên cứu ứng dụng cải thiện sinh sản để sản xuất thế hệ bò con có giới   tính theo định hướng chăn nuôi, tạo phôi nuôi trong bụng mẹ  để  giải bài toán  thích nghi tốt hơn... góp phần phát triển chăn nuôi tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh. 2. Thành tựu trong nghệ cao Công nghệ cao (CNC) được áp dụng trong nông nghiệp nước ta và bước đầu   đạt thành tựu nhất định. Trong đó, lĩnh vực đang ƯDCNC khá hiệu quả trong sản   xuất là ngành trồng hoa. Đi đầu việc UD CNC trong chọn, lai tạo giống, chuyển giao công nghệ  đến  với người dân là các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu rau quả. Đơn vị  này đã   thành công với mô hình trồng lan CNC thông qua việc đầu tư  thiết bị  nhà lưới   hiện đại dạng kín, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi. Với  quy mô khoảng 4.400m2, Viện cung cấp khoảng 131.000 cây, đáp  ứng 21% nhu   cầu về giống lan Hồ Điệp của thị  trường và mang lại hiệu quả  kinh tế cao. Lãi   thu được từ  sản xuất lan Hồ Điệp đạt khoảng 280­540 triệu/1.000m2. Đặc biệt,  một số mô hình cho lãi từ 700 triệu ­ 1 tỷ đồng/1.000m2 như  Công ty Cửu Long,  Trung tâm Ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh… Hà Nội cũng là địa phương đi đầu trong triển khai mô hình trồng hoa CNC,  từng bước tạo dựng thương hiệu trên thị  trường hoa cao cấp. Một trong số đó là   Công ty TNHH Flora Việt Nam. Đến nay, đơn vị  này đã có khu sản xuất rộng  10.000m2, gồm hệ thống nhà kính, nhà lưới, máy móc bảo đảm trồng được nhiều   loại hoa. Bà Bùi Bích Hường,  Giám đốc  công ty cho biết, trồng hoa  CNC  là  hướng đi khá mới  ở  nước ta. Mỗi năm, Flora Việt Nam đưa ra thị  trường hàng  triệu cành hoa lan Hồ Điệp, lan Vũ nữ và hàng chục vạn bông ly, loa kèn, đem lại  doanh thu khoảng 10 tỷ đồng/năm, tạo công ăn việc làm cho 100 lao động thường  xuyên. Ngoài Hà Nội, Đà Lạt (Lâm Đồng), TP Hồ Chí Minh hiện cũng có tới 1.663ha   trồng rau an toàn  ứng dụng CNC, sản lượng đạt khoảng 30.000 tấn/năm. Trong   số  đó, diện tích rau sản xuất trong nhà lưới cho giá trị  sản lượng 120­150 triệu   đồng/ha; hơn 700ha trồng hoa và cây cảnh. Các hộ  áp dụng CNC trong sản xuất   hoa, cây cảnh đem lại thu nhập 600 triệu ­ 1 tỷ đồng/ha/năm.
  9. KHÓ   KHĂN   CỦA   VIỆC   UD   KHCN   TRONG   NÔNG   NGHIỆP   TẠI   III. VIỆT NAM Từ nhiều năm nay,  ứng dụng KHCN vẫn được xem là một trong những điểm   yếu của ngành nông nghiệp, cả  trong sản xuất và chế  biến. Đây cũng là nguyên   nhân khiến cho chất lượng, giá trị  nông sản còn thấp, chưa phát huy hết tiềm   năng, thế mạnh. Trong đó, khó khăn với DN là quản lý Nhà nước còn nhiều bất   cập, cơ  chế  chính sách thiếu nhất quán, nền hành chính cồng kềnh, kém hiệu  quả... Việc ứng dụng những thành tựu khoa học ­ công nghệ vào quá trình sản xuất  nông, lâm, ngư  nghiệp còn chậm. Hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi có năng   suất, chất lượng và khả  năng cạnh tranh thấp. Năng suất cây trồng thường mới   đạt khoảng 70% mức bình quân chung của thế giới. Công tác nghiên cứu, chuyển   giao khoa học ­ kỹ  thuật, công nghệ  mới còn nhiều bất cập. Hệ  thống quản lý  thủy nông, thú y, bảo vệ thực vật, cung ứng giống, vật tư chưa đáp ứng được yêu  cầu công nghiệp hóa nông nghiệp. Công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn  hiệu hàng hóa, thương hiệu vẫn chưa đáp ứng theo tiêu chuẩn quốc tế trong quá   trình hội nhập; Bên cạnh việc  ứng dụng KHCN hạn chế, đáng chú ý nữa là cho tới nay, vấn   đề  cơ giới hóa nông nghiệp cũng chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đầu   ra cho máy nông nghiệp Việt Nam rất rộng mở, không chịu nhiều sức ép như  những ngành khác thì suốt nhiều năm nay, ngành cơ  khí Việt Nam lại chưa chú   trọng đến việc chế tạo máy nông nghiệp. Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ  khí Việt Nam (ngày 11­4), Thủ tướng Chính phủ  Nguyễn Tấn Dũng đánh giá: Là   một quốc gia nông nghiệp, song suốt 10 năm qua, các sản phẩm cơ khí máy móc  phục vụ sản xuất nông nghiệp còn ít. Thủ  tướng yêu cầu Bộ Công Thương đặc   biệt quan tâm rà soát, xây dựng chiến lược quy hoạch của ngành cơ khí, xác định  các lĩnh vực, sản phẩm cơ khí ưu tiên, nhất là sản xuất máy cho phục vụ cho phát   triển nông nghiệp, khai thác đánh bắt thủy hải sản, chế biến thủy sản,... Để  đầu tư  nghiên cứu,  ứng dụng công nghệ  cao đòi hỏi nguồn kinh phí rất  lớn. Tuy nhiên, hiện nay, các DN nông nghiệp rất khó tiếp cận được nguồn vốn   lớn, dài hạn với lãi suất thấp. Chính vì vậy, DN nông nghiệp luôn bị  yếu thế  do  
  10. công nghệ thấp, khó cạnh tranh, chi phí cao dẫn đến lợi nhuận thấp và không có  kinh phí để mở rộng, nghiên cứu công nghệ mới hơn. Hơn nữa, tiêu chuẩn nước   thải trong chăn nuôi lại quá cao dẫn đến các DN đầu tư  vào lĩnh vực này còn rụt   rè. hầu hết các DN chưa biết hoặc chưa tiếp cận được hỗ  trợ  của Nhà nước về  phát triển KHCN. Việc tiếp cận hồ sơ để  được hưởng ưu đãi còn phức tạp nên   đến năm 2014, cả nước mới có 132 DN được công nhận là DN KHCN, trong đó   có 18 DN nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao. Thêm vào đó, điểm yếu trong  nghiên cứu, chuyển giao KHCN lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là thiếu sự  liên   kết giữa DN với các đơn vị  nghiên cứu và nông dân do chưa có cơ  chế  của Nhà   nước tác động mạnh. Việc sản xuất một số  sản phẩm nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao còn   nhỏ  lẻ, thị  trường tiêu thụ  một số  sản phẩm nông nghiệp không  ổn định, khả  năng cạnh tranh và hiệu quả  kinh tế  sản xuất một số sản phẩm còn thấp, chưa  tương xứng với mức độ đầu tư, chưa có nhiều công nghệ cao trong nông nghiệp  và mô hình phát triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao với quy mô lớn tại  Việt Nam. Mặt khác, ngân sách nhà nước có hạn, thiếu kinh phí để  nghiên cứu, nhập  khẩu và phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp. Chưa có nhiều doanh nghiệp   đăng ký công nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Chưa có  hệ thống dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. ̣ ̀ ̃ ̣ ược nhiều kết quả  như  đã nêu, nhưng so với yêu cầu phát  Măc du đa đat đ triển, KH­CN nước ta còn chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy phat triên đât ́ ̉ ́  nươc, ch ́ ưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ  phát triển kinh tê ­ xa hôi; ́ ̃ ̣   thị  trường KH­CN còn kinh doanh; đầu tư  cho KH­CN còn thấp, sử  dụng chưa  hiệu quả.  Phân bổ  ngân sach nha n ́ ̀ ươc cho KH­CN ch ́ ưa hợp lý, kinh phí cấp để  thực   hiện nhiệm vụ  KH­CN có nhiều bất cập, thường xuyên giao chậm; cơ  cấu chi  chưa thực sự phù hợp (ươc tính có kho ́ ảng 20% tiền danh cho KH­CN th ̀ ực chất   đầu tư cho hoạt động sáng tạo của các nhà nghiên cứu, còn 80% nằm ở khâu đầu   tư gián tiếp).  Quản lý tài chính quốc gia về KH­CN có nhiều bất cập. Bộ Kế hoạch và Đầu   tư  lo chi đầu tư  phát triển khoảng 44%, khoảng 56% còn lại một phần là lương   sự nghiệp cua B ̉ ộ Tài chính, phần chi nghiên cứu do Bộ Khoa học va Công nghê ̀ ̣  chủ  trì (Trong đầu tư  phát triển, Trung  ương: 49%, địa phương: 51%. Trong chi  
  11. cho vấn đề nghiên cứu, Trung ương: 75%, địa phương: 25%). Đây là bài toán cần  nghiên cứu tính toán lại. Chưa huy động được nhiều nguồn lực cho hoạt đông KH­CN, đ ̣ ặc biệt từ  doanh nghiệp.  Ở  các nước phát triển, phần lớn kinh phí đầu tư  cho hoạt động   KH­CN đến từ các doanh nghiệp, còn nhà nước chỉ chi khoảng 20% ­ 30%. Kinh   phí từ ngân sach nha n ́ ̀ ươc ch ́ ủ yếu chi cho các nghiên cứu cơ bản và các đề án có   tầm quan trọng chiến lược.  Ở  nước ta do năng lực các doanh nghiệp còn nhỏ,  nhu cầu đổi mới sáng tạo để  tồn tại và phát triển chưa cao nên không nhiều   doanh nghiệp tự ý thức được việc này. Măc du theo quy đ ̣ ̀ ịnh của Luật Khoa hoc̣   ̣ va Công nghê (năm 2013), doanh nghi ̀ ệp phải trích một phần lợi nhuận để tái đầu  tư  cho R&D (research & development ­ nghiên cứu và phát triển) nhằm đổi mới   công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.  Cơ cấu nguồn nhân lực quốc gia bất hợp lý. Theo kết quả tổng hợp từ  Điều   tra nghiên cưu va phat triên 2014 (B ́ ̀ ́ ̉ ản tin Chiến lược Phát triển, số  5+6+7/2015   của Cục Thông tin KH­CN quốc gia, Bộ Khoa hoc va Công nghê), năm 2013 Vi ̣ ̀ ̣ ệt   Nam có 164.744 người hoạt động trong lĩnh vực R&D, trong đó  ở  khu vực nhà   nước có 139.531 người, chiếm tới 83%; ngoài nhà nước: 20.917 người, chiếm   14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: 4.296 người, chiếm 3%. Với cơ cấu như  vậy, cần phải thay đổi mới thu hút được các nguồn lực cho hoạt động KH­CN. Ở  các trường đại học có 74.217 người, chiếm 45%, các viện/trung tâm nghiên cứu:   37.481 người, chiếm 23%, số  còn lại  ở  các cơ  sở  khác. Với cơ  cấu như  vậy,  nguồn ngân sách cũng cân ph ̀ ải cơ cấu lại mới tranh đ ́ ược tình trạng lãng phí chất  xám và sử dụng nguôn nhân l ̀ ực không hiệu quả. IV. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRÊN là: Thứ nhât, ́   về  mặt thể  chế  và mô hình. Trong thời gian rất dài chúng ta phát  triển kinh tế theo chiều rộng, mà đã phát triển kinh tế theo chiều rộng thì thường   se thâm d ̃ ụng vốn, sử dụng lao động giá rẻ và trình độ thấp, xuất khẩu tài nguyên  chế biến thô là chính, trình độ sử dụng công nghệ thấp. Mô hình này không tạo ra   thị  trường và động lực để  thúc đẩy phát triển và  ứng dụng KH­CN. Đây là vấn  đề  “then chốt”, vì với hệ  thống sản xuất như  thời gian vừa qua không thê thúc ̉   đẩy liên kết giữa cung và cầu cho KH­CN được. Cầu của KH­CN hiện nay có  thể kể tới mấy loại: Từ phía các cơ quan của Đảng, Nhà nước sử dụng KH­CN,   từ phía doanh nghiệp, từ sản xuất, kinh doanh và từ các tổ chức KH­CN. ̣ ̉ Viêc chuyên giao KH­CN qua cac d ́ ự an cua doanh nghiêp có v ́ ̉ ̣ ốn đầu tư  trực   tiếp nước ngoài (FDI) chưa thực sự la câu nôi đôi v ̀ ̀ ́ ́ ới KH­CN trong nươc; Doanh ́  
  12. nghiệp nhà nước phát triển theo chiều rộng, nhập công nghệ nước ngoài là chính,   có   rất   ít   doanh   nghiệp   đầu   tư   cho   phát   triển   KH­CN   (trừ   Viettel,   Dầu   khí,   ̣ ́ Vinaphone và môt sô doanh nghi ệp lớn có một bước đột phá đầu tư lớn cho KH­ CN). Trong số các doanh nghiệp dân doanh thì có tới 90% ­ 95% la doanh nghiêp ̀ ̣   vừa và nhỏ  dù rất muốn đầu tư  cho KH­CN nhưng cũng không có đu ti ̉ ềm lực,   không thể  tiếp cận về  kinh phí theo ngân hàng. Nước ta có 2 trung tâm KH­CN  lớn nhất là Viện Hàn lâm khoa học xã hội và Viện Hàn lâm khoa học công nghệ  Việt Nam, nhưng hăng năm Nhà n ̀ ước đặt hàng những nhiệm vụ trực tiếp cho 2   ̣ viên nay r ̀ ất ít. Thứ hai, cơ chế phát triển kinh tế và cơ chế  phát triển KH­CN chưa thực sự  gắn chặt với nhau, kinh tế chưa đặt hàng được cho KH­CN, vì thế KH­CN nghiên  cứu xong cũng ít có điêu kiên đ̀ ̣ ể   ứng dụng. Nhìn vào cac đ ́ ề  tài nghiên cưu c ́ ấp   nhà nước đã được triển khai, chúng ta thấy rất it cac đê tai đ́ ́ ̀ ̀ ược cac doanh nghiêp ́ ̣   ̣ đăt hang, ma ch ̀ ̀ ủ yếu từ  cac c ́ ơ quan nghiên cứu khoa học, từ  các nhà khoa học.  Có một điều đáng nói là, một số sản phẩm KH­CN ra đời từ thực tiễn cuộc sống,   từ  nhu cầu sản xuất, kinh doanh do ngươi dân sáng t ̀ ạo co hi ́ ệu quả  lại không  tiếp cận được nguồn vốn, không được tài trợ  từ  nguôn ngân sach nha n ̀ ́ ̀ ươc cho ́   KH­CN.  Thứ ba,  về  cơ  chế  phát triển KH­CN. Vấn đề  này liên quan nhiều đến sử  dụng ngân sach nha n ́ ̀ ươc cho KH­CN. Đây là v ́ ấn đề vẫn bị ràng buộc theo quan   điểm chỉ chủ yếu cấp kinh phí cho tổ chức KH­CN, doanh nghiệp nhà nước. Nêú   chúng ta không “gỡ  bo”  ̉ được quan niệm này thì không thể  huy  động tốt các   nguồn lực từ xã hội và khó sử dụng ngân sach nha n ́ ̀ ươc hi ́ ệu quả. ̣ Bên canh đo, phân lo ́ ại nhiệm vụ KH­CN gắn với cơ chế phân bổ và sử dụng  kinh phí hiện nay còn khá nhiều bất cập. Có 4 loại nghiên cứu: 1­ Nghiên cứu cơ  bản; 2­ Nghiên cứu lý luận xây dựng cơ  sở, chủ  trương, chính sách; 3­ Nghiên   cứu  ứng dụng triển khai; 4­ Nghiên cứu phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ  mới. Về  mặt pháp lý, ai là người chịu trách nhiệm quản lý nguồn kinh phí cho  từng loại nghiên cứu, cấp cho ai, cấp theo cơ chế nào, trách nhiệm, đánh giá kết  quả, thì phải chịu trách nhiệm giải trình trươc Nha n ́ ̀ ươc, tr ́ ươc nhân dân. Theo ́   đó, chúng ta cần nghiên cứu để hình thành một cơ chế cho rõ rang va phù h ̀ ̀ ợp. Có  những kết quả nghiên cứu rất đúng, rất tốt nhưng vì không có cơ chế nên không   có đơn vị sẵn sàng ứng dụng vào thực tiễn. Thứ tư,  xác định rõ trách nhiệm sử  dụng ngân sach nha n ́ ̀ ươc đ ́ ể  thực hiện   nhiệm vụ KH­CN. Cấp được phân nhiệm vụ khoa học và cấp được cấp kinh phí   phải chịu trách nhiệm về nhiệm vụ khoa học cung nh ̃ ư phân bô kinh phi h ̉ ́ ợp ly.́  Với cách cấp kinh phí như hiện nay, người làm nhiệm vụ KH­CN phai m ̉ ất nhiều  thời gian đê hoàn thành các th ̉ ủ  tục hành chính và bức xúc với tình trạng tham   nhung trong khoa hoc.  ̃ ̣ Thứ năm, Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức KHCN, doanh nghiệp  và người sản xuất; giữa các cơ  quan quản lý nhà nước của T.Ư  và địa phương;  
  13. giữa các lĩnh vực, các trong việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ vào   sản xuất. Thứ  sáu, Việc định hướng, tập trung tiềm lực nghiên cứu, giải quyết những   vấn đề  lớn, cấp thiết cho lĩnh vực công nghiệp còn dàn trải; các chính sách đặc   thù, giải pháp mạnh mẽ  để  tạo đột phá trong những lĩnh vực công nghiệp mà  Việt Nam có lợi thế cũng chưa rõ nét; các lĩnh vực KHCN mũi nhọn, đạt trình độ  tiên tiến, có khả  năng cạnh tranh bình đẳng với khu vực và thế  giới chưa được  hình thành. Thứ  bảy, Hiệu quả  hoạt động của các tổ  chức KHCN chưa cao; số  lượng   thành lập doanh nghiệp KHCN còn rất hạn chế, nên kết quả ứng dụng vào hoạt  động sản xuất kinh doanh chưa cao. Hơn nữa, cơ chế hỗ tr ợ tài chính trong sử  dụng kinh phí từ nguồn sự nghiệp còn chưa khoa học, thiếu đồng bộ, mang nặng  tính thủ tục hành chính, chưa thực sự gắn chi phí với kết quả cuối cùng, gây mất   nhiều thời gian trong hoàn thành các thủ tục giải ngân. Thứ tám, Việc gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu với chiến lược, kế hoạch   phát triển các lĩnh vực, ngành với các nhiệm vụ nghiên cứu còn hạn chế. Đội ngũ   cán bộ  nghiên cứu đầu ngành trong một số  lĩnh vực công nghiệp còn hạn chế,   chưa khuyến khích được đội ngũ tri thức có trình độ  cao  ở  nước ngoài tích cực  tham gia nghiên cứu KHCN. Đặc biệt, chưa có chính sách hỗ trợ bảo đảm bù đắp  rủi ro trong nghiên cứu,  ứng dụng các kết quả  nghiên cứu, vì vậy đã phần nào   hạn chế việc tham gia thử nghiệm ứng dụng của các doanh nghiệp công nghiệp. Thứ  chín, Chính sách huy động về  đầu tư  tàỉ  chính cho nghiên cứu KHCN  trong công nghiệp hiện nay còn hạn chế, chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước.  Việc huy động, khai thác tiềm lực của các đơn vị  trong các bộ, ngành như: Các  tập đoàn, tổng công ty, viện nghiên cứu, trường đại học, các doanh nghiệp hoạt  động KHCN còn hạn chế. cơ chế tài chính trong hoạt động KHCN chậm đổi mới,  chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động KHCN, làm giảm năng lực sáng tạo, gây  khó khăn và buộc các nhà khoa học phải tìm cách đối phó trong thủ  tục thanh  quyết toán thực hiện nhiệm vụ. Doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư cho KHCN,  chủ  yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Đặc biệt, cơ  chế  quản lý còn thiếu đồng  bộ, gây khó khăn trong việc huy động nguồn lực, vay vốn cho hoạt động nghiên  cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh.
  14. Sau cùng, Nền tảng của nông nghiệp nước ta là hộ nông dân nhỏ lẻ, thu nhập  thấp, công nghệ  và phương pháp canh tác lạc hậu, giá thành nông sản phẩm   thường cao hơn các nước khác, chất lượng sản phẩm thua kém các nước trong  khu vực, chi phí sản xuất cao hơn do phải khắc phục những giới hạn của tự  nhiên với những giải pháp tăng sản lượng như  luân canh tăng vụ: bơm nước,   phân bón, thuốc trừ  sâu, phòng chống dịch bệnh. Các tiến bộ  khoa học ­ công   nghệ chưa được áp dụng một cách phổ biến vì các giống mới du nhập giá đắt do   phải thực hiện bảo hộ trí tuệ, nông dân nghèo không thể áp dụng. Hàng hóa nông  sản nước ta về cơ bản sản xuất mang tính tự  nhiên, chưa có tác động nhiều của   khoa học công nghệ: giống, bảo quản sau thu hoạch, chế biến, phần lớn chưa có   nhãn hiệu, thương hiệu, xuất thô chưa qua chế biến do đó phải bán giá thấp, khó  khăn lớn nhất đối với nông sản xuất khẩu nước ta là hàng rào phi thuế quan: dư  lượng kháng sinh, an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ... những vấn đề  này nông dân nước ta chưa được hướng dẫn và quen làm. Việc giảm thuế  nhập  khẩu làm cho sản phẩm trong nước cạnh tranh khó khăn ngay trên sân nhà đang bị  lấn sân vì nông sản các nước chất lượng cao hơn, giá thấp hơn. V. BIỆN PHÁP 1. Biện pháp ngắn hạn Đẩy mạnh việc chuyển giao,  ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công  nghệ  cao, công nghệ  sinh học để  nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật  nuôi nhằm đảm bảo an ninh lương thực  ổn định đời sống nhân dân, đảm bảo an   sinh xã hội. Chú ý ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi  theo hướng hữu cơ, sản phẩm sạch, đảm bảo vệ  sinh an toàn thực phẩm cho   người  tiêu dùng, sản xuất theo quy trìnhVietGap. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng, khai thác tiềm năng những vùng có lợi thế  so sánh kết hợp việc bảo tồn sinh thái tự nhiên, quản lý, sử dụng tốt, có hiệu quả  các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các địa phương... Quan tâm nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất nông lâm ngư  nghiệp đảm bảo  vệ sinh môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu thời tiết.
  15. Cần tăng cường phối hợp với các đơn vị  nghiên cứu, các nhà khoa học, các  nhà quản lý, để làm tốt công tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao, ứng dụng khoa  học công nghệ vào sản xuất ngày càng tốt hơn. Chú trọng việc  ứng dụng khoa học công nghệ  tiên tiến để  chủ  động phòng  chống   dịch   bệnh   cây   trồng   vật   nuôi,   đảm   bảo   sản   xuất   ổn   định. Tăng cường công tác tập huấn, đào tạo, tuyên truyền, xây dựng các mô hình trình   diễn để  cung cấp thông tin kịp thời, thuyết phục nông ngư  dân mạnh dạng  ứng   dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất .... Cần có sự phối hợp trong các chương trình đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn,  quy hoạch vùng sản xuất, phát triển theo hướng bền vững, toàn diện, có cơ  cấu  kinh tế phù hợp, có các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, sản xuất hàng hóa có   chất lượng, có khả  năng cạnh tranh cao, để không ngừng nâng cao đời sống vật   chất và tinh thần của nông dân, ngư dân .... 2. Biện pháp dài hạn Để làm được điều đó, trước hết cần đổi mới cơ chế, chính sách quản lý đối   với khoa học, kỹ thuật và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn,   nông dân theo hướng: Tổ chức, huy động lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật và   công nghệ về nông thôn, cùng với bà con nông dân, các doanh nghiệp, các tổ chức   khuyến nông, các tổ chức chính trị, xã hội giải quyết các vấn đề  về giống, công  nghệ  chế  biến, công nghệ  sau thu hoạch, phát triển công nghiệp và dịch vụ, sử  dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật   và công nghệ cũng như các cơ quan chuyển giao, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và  công nghệ ở nông thôn được bảo đảm thỏa đáng về lợi ích, được bảo hộ  quyền   sở hữu trí tuệ. Khuyến khích việc ký kết hợp đồng giữa các cơ quan khoa học, kỹ  thuật và công nghệ với các chủ thể trong nông nghiệp. Bảo đảm sự gắn kết chặt   chẽ, hữu cơ giữa khoa học, kỹ thuật và công nghệ với sản xuất, kinh doanh bằng  các chương trình, dự án phát triển kinh tế ­ xã hội ở nông thôn.  Thứ  nhất, Tăng cường hướng dẫn để  người nông dân hiểu được rằng, mình  cần làm gì, cần tìm ai, cần đầu tư  bao nhiêu vốn và vật tư, trang thiết bị để  đổi   mới công nghệ, đổi mới cây trồng, vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao hơn,   thu nhập cao hơn. Điều đó cũng có nghĩa là cần nâng cao nhận thức của người lao   động nông nghiệp về   ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ  vào sản xuất.  
  16. Đây là một trong những nhiệm vụ  quan trọng, là yêu cầu to lớn và mang tầm  chiến lược trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Có chính  sách khuyến khích, hỗ trợ kinh phí, trợ giá, ưu đãi tín dụng, miễn giảm thuế... cho  các hộ nông dân, chủ trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp trong việc   ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất. Thứ hai, Phân bổ và sử dụng ngân sách phải thực sự khoa học, hướng tới hiêu ̣   quả, theo cơ  chế  thị  trường. Đổi mới việc xác định nhiệm vụ  và cấp kinh phí  KH­CN cho các địa phương, địa bàn. Nhiệm vụ  KH­CN nói chung có tinh liên ́   thông, liên kết tất cả vùng, không bị “chặn” ở “biên giới” một địa phương nào đó.  Đây là vấn đề cần thiết xem xét kỹ, sau khi xác định rõ tất cả các loại nhiệm vụ  KH­CN từ  nghiên cứu cơ  bản, nghiên cứu  ứng dụng triển khai, đến nghiên cứu   phát triển sản phẩm thì phai co c ̉ ́ ơ chế bảo đam đ ̉ ể co hi ́ ệu quả. Sản phẩm phaỉ   có sức cạnh tranh trên thị  trường; những sản phẩm mới, nghiên cứu khoa học   phải đến được các doanh nghiệp. Bởi doanh nghiệp là nơi quy tụ  của sự  phát   triển ứng dụng KH­CN để tạo thành sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế. Trong ngân sách cho KH­CN phải dành một phần để làm “vốn mồi”, phải có   cơ chế để kéo vốn, để thu hút các nguồn lực kể cả trong và ngoài nước. Cần bố  trí nguồn kinh phí dự phòng cho khoa học, vì hoạt động KH­CN co tính ŕ ủi ro cao,  ̉ căt giam nh ́ ưng ho ̃ ạt động KH­CN không chât l ́ ượng nhằm chông lãng phí, th ́ ất   thoát ngân sach nha n ́ ̀ ươc. Đ ́ ổi mới cơ chế khoán; đấu thầu phải theo kịp với sự  phát triển của thời đại. Phải có niềm tin với người được cấp kinh phí.  Thứ  ba,  tăng cường giám sát và đánh giá tình hình sử  dụng và phân bổ  ngân  sách bằng những chỉ tiêu thực sự khoa học. Theo đo, ph ́ ải tăng quy định và giám   sát tình hình sử  dụng, phân bổ  ngân sách bằng những tiêu chí thực sự  khoa học;  kiểm toán thực hiện các quy định về  quản lý các chương trình đề  tài kể  cả  cấp   nhà nước, chống hình thức. Cân giám sát k ̀ ỹ viêc s ̣ ử  dụng ngân sách phù hợp với  kế  hoạch được phê duyệt; có hướng dẫn tổ  chức và hoạt động của các đơn vị  KH­CN theo tinh thần mới. Có thể  hình thành hai nhóm: nhóm môt v ̣ ới kinh phí   hoạt động hoàn toàn nhờ  thị  trường, nhóm hai có sử  dụng ngân sach nha n ́ ̀ ươc.́   Xây dựng và triển khai các quy định về  dân chủ  trong hoạt động KH­CN, công   ̉ khai, dân chu thì m ới co thê phát tri ́ ̉ ển KH­CN, nhất là trong khoa học xa hôi đ ̃ ̣ ể  không thành khoa học theo kiểu minh họa.  Thứ tư, xã hội hóa các nguồn lực đầu tư cho KH­CN; thu hút đầu tư từ doanh   nghiệp, coi đây là nguồn lực chính. Nhà nước phải coi đầu tư từ các nguồn ngoài  ngân sach nha n ́ ̀ ươc, đ ́ ặc biệt là từ các doanh nghiệp cho KH­CN là chinh, ti ́ ến tới   đầu tư cho KH­CN chủ yếu từ doanh nghiệp như các nước tiên tiến đã làm.  ́ ̀ ểu rõ bản chất hoạt động của doanh nghiệp là phải có hiệu  Theo đo, cân hi quả  thiết thực, nên việc tiếp cận với nghiên cứu KH­CN của doanh nghiệp có   những nét riêng so với các tổ  chức KH­CN công lâp. Khi doanh nghi ̣ ệp đặt yêu   cầu thì cần phải có ngay, nếu chậm cơ hội thị trường sẽ mất đi. Nắm được yếu 
  17. tố  đó chúng ta cân đi ̀ ều chỉnh làm sao cho ngân sách của các doanh nghiệp dành  ̣ cho KH­CN ngay môt nhi ̀ ều hơn. Cần có cơ  quan theo dõi, tổng hợp, phân tích các hoạt động KH­CN không  dùng ngân sách nhà nước để tham mưu cho Nhà nước các giải pháp đột phá trong   việc thu hút đầu tư  và phát triển KH­CN. Nhiều doanh nghiệp báo cáo đã dành  gần 10% lợi nhuận của các doanh nghiệp làm nguồn vốn cho KH­CN. Đây là  nguồn lực lớn, cần giám sát việc sử dụng kính phí. Nghiên   cứu   khoa   học   theo   cơ   chế   đặt   hàng. Luật KH và CN được Quốc hội ban hành ngày 18­6­2013, chính thức có hiệu lực  từ 1­1­2014  sẽ là bước đột phá trong nghiên cứu KHCN nói chung và KHCN ứng  dụng cho nông nghiệp nói riêng. Theo luật mới này, người đề  xuất đề  tài là các   cơ  quan quản lý có thẩm quyền, tạm gọi như  việc “đặt hàng” với các nhà KH.   Khi nghiên cứu xong, các đề  tài này sẽ  được bàn giao lại cho người đề  xuất để  có cơ chế quản lý cụ  thể, minh bạch. Việc sử dụng vốn đầu tư  cho KHCN vào  nông nghiệp hiệu quả  cùng với cơ  chế  nghiên cứu gắn với đầu ra sản xuất sẽ  giúp nông nghiệp có được những sản phẩm có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao.   Hàm lượng này chính là nguồn gốc để  nâng cao giá trị  cũng như  tạo lập thương   hiệu cho nông sản Việt Nam. Thứ  năm,  Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp nói  riêng và xã hội nói chung về  việc cần thiết đầu tư  cho phát triển KH­CN. Cung   cấp thông tin và định hướng thị trường công nghệ cho doanh nghiệp và có những   hỗ trợ ban đầu cho hoat đông KH­CN. B ̣ ̣ ổ sung những chế độ tiếp cận ngân sach́   ̀ ươc cho ho nha n ́ ạt động KH­CN từ  phía cac nhà khoa h ́ ọc không chuyên. Công  khai hóa các kết quả nghiên cưu trên m ́ ạng in­tơ­nét đê m ̉ ọi người co thê tim đoc, ́ ̉ ̀ ̣   nghiên cưu t ́ ự do. VI. Đề  xuất của nhóm 6 cho vấn đề  UD KHCN trong nông nghiệp tại  Việt Nam Có 2 vấn  đề  chính cần  được  làm rõ trong vấn  đề  UD KHCN  trong nông   nghiệp tại Việt Nam cho 3 nhóm đối tượng chính: Nhà nước, Doanh nghiệp và  người Nông dân; đó là : Nhận thức và hành động. Tuy nhiên, các chính sách hiện   tại rất “ to tát” và chung chung, cách thức triển khai còn mang nặng tính chất thủ  tục rườm rà. Bên cạnh đó còn xuất hiện hiện tượng “ tham nhũng” và “ chảy máu  chất xám”.... Ở khía cạnh sinh viên, chúng tôi đưa ra 3 dự án sau đây: Thứ   nhất,   thành   lập  Hệ   thống   Kiến   thức   nông   nghiệp   trực   tuyến  (Agricultural Knowledge On­Line (AKOL), đây là một hệ  thống tương tác trực  tuyến trên toàn cầu, nó liên kết kho dữ liệu về kiến thức nông nghiệp, các chuyên  gia và nông dân để giải quyết bất cứ một vấn đề gì trong nông nghiệp. Mọi nông  đân giờ đây có thể truy cập vào hệ thống này, học hỏi các kiến thức, kinh nghiệm   và yêu cầu sự giúp đỡ, tư vấn phương pháp, giải pháp nông nghiệp từ các chuyên   gia hàng đầu, các nhà sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp về vấn đề của họ.
  18. Thứ  hai,  dự  án “Nhà Khoa học­ bạn Nông dân”, khi đưa những viện, nhóm  nghiên cứu theo đơn đặt hàng của Doanh nghiệp, nhà nước. Nhằm nghiên cứu các  loại, giống cây trồng vật nuôi phù hợp với một địa phương nhất định, các tỉnh/ sở  khoa học được đặt tại một tỉnh hoặc vùng chuyên nghiên cứu, thử nghiệm tại địa  phương đó. Muốn vậy cần sự đầu tư  rất nhiều vào Nhà nước­ có muốn làm hay  không?    Thứ  ba,  tập trung đầu tư  cho các nhóm nghiên cứu tại các trường THCS,  THPT, các trường đại học. Thực hiện theo đúng tinh thần đại học” Trường đại  học là nơi nghiên cứu chứ  không phải trường trung học cấp 3 hay trường dạy   nghề”. Đầu tư đúng mực cho chất xám của lực lượng trẻ, vì đây là cái nôi của ý  tưởng, nghiên cứu và thử nghiệm bởi “ không sợ sai, không sợ thất bại, không sợ  cường quyền hay bất cứ quyền lực thần/ công quyền nào”. Tổ chức các cuộc thi   công nghệ, sáng tạo mới trong lĩnh vực nông nghiệp. VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1-  https://www.facebook.com/bizlive.vn/videos/563546793821889/  2-  https://www.facebook.com/khoinguontuduy/videos/741785812623444/  3-  https://www.facebook.com/khoinguontuduy/videos/753895061412519/  4-  https://www.facebook.com/khoinguontuduy/videos/765561373579221/  5-  https://www.youtube.com/watch?v=FQ75iXR4OUc  6-  https://www.youtube.com/watch?v=jtJd1s2TmFs  7-  https://www.youtube.com/watch?v=ev9hR2xI35w  8-  http://khoahoc.tv/ung­dung­cong­nghe­sinh­hoc­trong­nong­nghiep­31761  9-  http://www.ahtp.hochiminhcity.gov.vn/web/hoat­dong­nghien­cuu­ung­  dung/ung­dung­cong­nghe­cao­trong­nong­nghiep 10-  http://thuvienphapluat.vn/van­ban/Linh­vuc­khac/Quyet­dinh­2139­QD­  UBND­nam­2013­Phat­trien­khoa­hoc­cong­nghe­nong­nghiep­nong­thon­Son­La­ 209495.aspx
  19. 11-  http://thuvienphapluat.vn/van­ban/Cong­nghe­thong­tin/Nghi­quyet­20­NQ­  TW­phat­trien­khoa­hoc­cong­nghe­phuc­vu­cong­nghiep­hoa­163983.aspx 12-  http://thuvienphapluat.vn/van­ban/Cong­nghe­thong­tin/Nghi­quyet­20­NQ­  TW­phat­trien­khoa­hoc­cong­nghe­phuc­vu­cong­nghiep­hoa­163983.aspx Nghị quyết 20­NQ/TW phát triển khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, 13-  http://thuvienphapluat.vn/van­ban/Linh­vuc­khac/Quyet­dinh­2139­QD­  UBND­nam­2013­Phat­trien­khoa­hoc­cong­nghe­nong­nghiep­nong­thon­Son­La­ 209495.aspx 14-  http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php  %20lut/view_detail.aspx?itemid=16849 Về việc phê duyệt "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ  sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020" 15­ http://l.facebook.com/l.php?u=http%3A%2F%2Fthuvienphapluat.vn%2Fvan­ ban%2FLinh­vuc­khac%2FNghi­quyet­26­NQ­TW­nong­nghiep­nong­dan­nong­ thon­69455.aspx&h=HAQF44ac­
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2