intTypePromotion=3

Đề tài: Một số tìm hiểu về điểm di tích chính Bắc Môn (Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội)

Chia sẻ: Nguyệt Thu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:36

0
127
lượt xem
41
download

Đề tài: Một số tìm hiểu về điểm di tích chính Bắc Môn (Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài có nội dung trình bày thông qua 3 chương sau: chương 1 tổng quan về khu di tích Hoàng Thành Thăng Long, chương 2 giá trị lịch sử và văn hóa của điểm di tích Chính Bắc Môn, chương 3 hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của điểm di tích Chính Bắc Môn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Một số tìm hiểu về điểm di tích chính Bắc Môn (Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội)

  1. Dương Mạnh Thắng VHH2B TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA HỌC BÁO CÁO THỰC TẬP NĂM THỨ 4 ĐỀ TÀI: MỘT SỐ TÌM HIỂU VỀ ĐIỂM DI TÍCH CHÍNH BẮC MÔN (Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội) Giảng viên hướng  : ThS. Lê Thị Cúc dẫn Sinh viên thực hiện : Dương Mạnh Thắng Lớp  : Vhh2b Khoa : Văn hóa học 1
  2. Dương Mạnh Thắng VHH2B Hà nội, tháng 4 năm 2014 MỤC LỤC Trang 1.  Lí do chọn đề tài ………………………………………………………4 2.   Lịch   sử   nghiên   cứu   vấn   đề  …………………………………………….5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………..…………………………..5 4. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………… 5 5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ………………………………6 6.   Kết   cấu   của   đề   tài  …………………………………………………….....6 Chương   1:  TỔNG   QUAN   VỀ   KHU   DI   TÍCH   HOÀNG   THÀNH   THĂNG  LONG……………………………………………………………………………………..7 1.1  Tên gọi và vị trí của khu di tích Hoàng thành Thăng  Long………...7 1.1.1 Tên gọi…………………………………………………………….....7 1.1.2 Vị trí và địa điểm phân bố  di tích………………………………… 7 2
  3. Dương Mạnh Thắng VHH2B 1.2 Các   di   tích   trên   mặt   đất   của   khu   trung   tâm   di   tích   Hoàng  thành   Thăng  Long……………………………………………………………….... 7 1.2.1 Kỳ đài………………………………………………………………...7 1.2.2 Đoan Môn…………………………………………………………….8 1.2.3 Nền điện Kính Thiên………………………………………………… 8 1.2.4 Nhà D67 và Hầm D67……………………………………………… 9 1.2.5 Hậu Lâu…………………………………………………………….10 1.2.6 Chính Bắc Môn……………………………………………………10 1.2.7 Tám cổng thành thời Nguyễn…………………………………..10 Chương 2: GIÁ TRỊ  LỊCH SỬ  VÀ VĂN HÓA CỦA   ĐIỂM DI TÍCH CHÍNH   BẮC MÔN………………………………………………………………………………12 2.1   Giá   trị   lịch   sử   của   di   tích   Chính   Bắc  Môn………………………….12 2.1.1 Tên gọi, vị trí……………………………………………………….12 2.1.2 Lịch sử hình thành………………………………………………….12 3
  4. Dương Mạnh Thắng VHH2B 2.1.3  Kiến trúc…………………………………………………………….13 2.1.4 Di tích Chính Bắc Môn qua các cuộc khai quật……………….13 2.2 Giá trị  văn hóa của di tích Chính Bắc Môn………………………… 18 Chương 3: HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA ĐIỂM DI  TÍCH CHÍNH BẮC MÔN…..........................................................................................21 3.1   Hoạt   động   bảo   tồn   điểm   di   tích   Chính   Bắc  Môn………………….21 3.1.1 Định hướng bảo tồn…………………………………………….…21 3.1.2 Bảo tồn di tích Chính Bắc Môn gắn liền với hoạt động bảo   tồ n   khu   di   tích   Hoàng   thành   Thăng   Long………………………………..25 3.2 Một số  kiến nghị  nhằm phát huy giá trị  của điểm di tích Chính  Bắc  Môn………………………………………………………………………28   4
  5. Dương Mạnh Thắng VHH2B MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chính Bắc Môn hay còn gọi là Cửa Bắc, Bắc Môn là một trong  những di tích của Hà Nội có nhiều giá trị  lịch sử, văn hóa, kiến trúc.  Nằm  trong quần thể  kiến trúc của khu di tích Hoàng thành Thăng  Long, Cửa Bắc là một trong năm cửa thành được mở  khi xây dựng  thành Thăng Long dưới thời nhà Nguyễn từ  năm 1805 gồm có cửa  Bắc, cửa Đông, cửa Tây, cửa Đông Nam và cửa Tây Nam.  Cửa   Bắc  hiện  này  nằm  hơi   chếch  về  phía  nam  phố  Phan   Đình   Phùng. Theo cấu trúc chung, mỗi cửa thành có một công sự  bảo vệ  nhô ra bên ngoài hình tháp gọi là dương mã thành và mở  ra một cửa   bên ngoài gọi là nhân môn. Từ cửa Chính Bắc đường ra cửa nhân môn  mở về  phái bên phải của dương mã thành nối với phố Cửa Bắc hiện   nay. Phố  Cửa Bắc hiện nay là đường đi vào cửa Bắc thành Hà Nội   trước kia.  Cửa Bắc còn là minh chứng lịch sử gắn liền với cuộc chiến chống   thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ngay trên lầu hai của Cửa Bắc là  nơi đặt ban thời hai vị tổng đốc Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương  đã anh dũng cùng nhân dân chiến đấu. Chính vì ý nghĩa đó cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng  của việc bảo tồn điểm di tích Cửa Bắc tôi đã lựa chọn đề  tài:  “Một   5
  6. Dương Mạnh Thắng VHH2B số  tìm hiểu về  điểm di tích Chính Bắc Môn” làm báo cáo thực tập  của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khu di tích Hoàng thành Thăng Long nói chung và điểm di tích Chính Bắc  Môn có ý nghĩa quan trọng với lịch sử và văn hóa của Hà Nội cũng như cả  nước. Việc nghiên cứu và tìm hiểu về điểm di tích Chính Bắc Môn tuy chưa  cụ thể nhưng đã được đề cập đến trong các công trình sau: ­ Thông báo khoa học số 1/2013, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin. ­ Thông báo khoa học số 2/2013, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin. ­ Hồ sơ di sản Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội. ­ Wedsite: Hanoi.ws có bài viết : Thành Cửa Bắc – Chứng tích thời oanh  liệt của Hà Nội”… Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về các giá trị của điểm di  tích Chính Bắc Môn. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Phạm vi nghiên cứu của đề tài là điểm di tích Chính Bắc Môn nằm trong  khu di tích Hoàng thành Thăng Long. 4. Phương pháp nghiên cứu. 6
  7. Dương Mạnh Thắng VHH2B Đề tài đã vận dụng tổng hợp các phương pháp sau: ­ Nghiên cứu lý thuyết:  Đề  tài nghiên cứu những cơ  sở  lý luận, các cuốn  sách, thư tịch,… viết về di tích này. ­ Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng trong phân tích làm rõ những  giải pháp cụ thể nhằm phát huy giá trị của khu di tích. ­ Phương pháp thống kê so sánh: Đề  tài đưa ra các số  liệu cụ  thể  về  thời   gian, diện tích,… để định hình rõ điểm di tích Chính Bắc Môn. ­ Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, trên cơ sở  nghiên cứu thực địa, thực hiện quan sát, chụp ảnh,…để nắm bắt thông tin,  thực trạng về khu vực để làm căn cứ cho việc nghiên cứu. 5. Ý nghĩa thực hiện đề tài ­ Ý nghĩa lý luận: Đề  tài được thực hiện nhằm đưa ra những thông tin cơ  bản về điểm di tích Chính Bắc Môn, chỉ ra những giá trị lịch sử, văn hóa của  điểm di tích này. ­ Ý nghĩa thực tiến: Thông qua việc nghiên cứu về điểm di tích Chính Bắc   Môn, đề  tài xác định một số  gải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị  của   điểm di tích này trong tình hình thực tế hiện nay. 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần Mở đầu, Phụ lục và Tài liệu tham khảo đề tài gồm 3 chương: ­ Chương 1: Tổng quan về khu di tích Hoàng Thành Thăng Long. ­ Chương 2: Giá trị  lịch sử  và văn hóa của điểm di tích Chính Bắc   Môn. 7
  8. Dương Mạnh Thắng VHH2B ­ Chương 3: Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị  của điểm di   tích Chính Bắc Môn. Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG 1.1 Tên gọi và vị trí của khu di tích Hoàng thành Thăng Long 1.1.1 Tên gọi ­ Tên thường gọi: Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà  Nội ­ Tên gọi khác: Khu di tích Thành cổ  Hà Nội và di tích khảo cổ  học 18   Hoàng Diệu 1.1.2 Vị trí và địa điểm phân bố di tích Hiện nay, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (Bao  gồm Thành cổ  Hà Nội và di tích Khảo cổ  học 18 Hoàng Diệu) nằm trên một  khuôn viên khá rộng, gần 19 ha (186. 3777, 9m2), thuộc địa bàn phường Điện   8
  9. Dương Mạnh Thắng VHH2B Biên và phường Quán Thành, quận Ba Đình, thành phố  Hà Nội được giới hạn  bởi: + Phía Bắc giáp: Đường Phan Đình Phùng, đường Hoàng Văn Thụ + Phía Tây giáp: Đường Hoàng Diệu, Đường Độc Lập và khuôn viên Hội  trường Ba Đình + Phía Nam giáp: đường Bắc Sơn và khuôn viên Hội trường Ba Đình + Phía Tây Nam giáp: đường Điện Biên Phủ + Phía Đông giáp: Đường Nguyễn Tri Phương 1.2 Các di tích trên mặt đất của khu trung tâm di tích Hoàng thành Thăng   Long 1.2.1 Kỳ đài Kỳ Đài (Cột Cờ  Hà Nội) cao 33, 4m, xây năm 1812 trên bệ tam cấp đồ  sộ  tượng trưng cho tam tài (thiên, địa, nhân). Cấp dưới cùng mỗi cạnh 42m, cấp  trên cùng mỗi cạnh 15m, cấp giữa có tên các cửa: Cửa Đông (Nghênh Húc) –   đón ánh ban mai, Cửa Nam (Hướng Minh) – hướng về ánh sáng, Cửa Tây (Hồi  quang) – ánh sáng phản chiếu. Tháp hình bát giác với cầu thang 54 bậc xoáy ốc  lên lầu nóc, có 39 cửa nhỏ  hình hoa thị  và 6 cửa hình dẻ  quạt để  soi sáng và   thông hơi. Hiện nay Cột Cờ  nằm trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử  quân sự  Việt Nam, là biểu tượng của Thủ dô Hà Nội ngàn năm văn hiến. 1.2.2 Đoan Môn  Đoan Môn được xây dựng từ thời Lê. Đây là cửa chính dành cho nhà vua ra   vào Cấm thành. Cửa Đoan Môn có cấu trúc hình chữ  U, từ  Đông sang Tây dài   47m, giữa dày 13m, hai bên dày 27m, có 5 vòm cổng, vòm cổng chính giữa dành   9
  10. Dương Mạnh Thắng VHH2B cho vua đi. Phía trên là Vọng Lâu – lầu canh gác của lính canh, được trùng tu   năm 1999­ 2000. Tại di tích Đoan Môn, năm 1999 các nhà khảo cổ  đã phát hiện  được các dấu tích kiến trúc: nền sân gạch thời Lê, con đường lát gạch hoa chanh  thời Trần và dưới cùng là nền đường từ thời Lý 1.2.3 Điện Kính Thiên Kính Thiên, là điểm di tích quan trọng nhất, trung tâm nhất trong khu vực  Thành cổ Hà Nội. Hiện nay chỉ còn nền cũ và hai bậc thềm Rồng đá. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ định đô tại Thăng Long và cho xây điện Càn Nguyên  trên đỉnh núi Nùng (núi Long Đỗ  ­ Rốn Rồng). Năm 1092 xây lại điện, gọi là  Thiên An. Thời Trần cũng được gọi là điện Thiên An. Đến năm 1428, vua Lê  Thái Tổ dựng điện Kính Thiên (Long Thiên) – nơi ngự của các vua Nguyễn khi   tuần du Bắc Hà hoặc ra nhận sắc phong của nhà Thanh. Năm 1886, sau khi  chiếm được thành Hà Nội, người Pháp phá hành cung Kính Thiên và cho xây tòa  nhà là Sở chỉ huy pháo binh Pháp. Sau này được gọi là nhà Con Rồng, nơi làm  việc của Bộ Tổng tham mưu – Bộ quốc phòng quân đội nhân dân Việt Nam 1.2.3 Nhà D67 và Hầm D67 Năm 1966, Mỹ bắt đầu dùng không quân đánh phá Hà Nội. Năm 1967, mức  đọ  đánh phá ngày càng ác liệt. Để  đảm bảo nơi làm việc của cơ  quan Tổng   hành dinh trong chiến tranh, bộ  quốc phòng đã quyết định xây dựng một ngôi  nhà trong khu A thành cổ Hà Nội. Ngôi nhà được thiết kế  năm 1967 nên được  gọi là nhà D67. 10
  11. Dương Mạnh Thắng VHH2B Tổng hành dinh ­ Nhà D67 Khu A Bộ  quốc phòng, Bộ  Chính trị  và Quân  uỷ  Trung  ương đã đưa ra những quyết định lịch sử  đánh dấu những mốc son   của cách mạng Việt Nam. Đây là nơi diễn ra nhiều cuộc họp,nhiều sự  kiện   quan trọng gắn với những mốn son của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước   của quân và dân ta. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 Cuộc Tổng tiến   công năm 1972 Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm  cuối năm 1972. Tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh .  Phòng họp D67 chính là nơi hội tụ  kết tinh và tỏa sang tinh hoa Việt Nam,trí  tuệ  Việt Nam để  đưa nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng  chiến chống Mĩ cứu nước.  Nhìn bề  ngoài D67 là một ngôi nhà mái bằng bình thường, kích thước 43.02 x  20.85m chiều cao đỉnh mái 7.89m nằm dưới lùm cây. Tuy nhiên tính quân sự  của D67 hiện rõ khi vào trong. Tường dày 0.6m, cách âm, cửa có hai lớp lớp   ngoài bằng thép tấm dày 1cm. Trên mái có một lớp cát cản được mảnh róc két  và bom bình thường. Hầm D67 (hầm quân  ủy trung  ương) được xây dựng vào năm 1967 cùng  với nhà D67. Hầm  nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67  dành cho Bộ Chính trị  và Quân  ủy trung  ương. Hầm sâu khoảng 9m được xây  dựng kiên cố  để  chống bom. Cửa hầm làm bằng thép tấm có ba cầu thang lên   xuống.   Hai   đường   dẫn   từ   hầm   lên   hai   phòng   làm   việc   của   đại   tướng   Võ  Nguyên Giáp và đại tướng Văn Tiến Dũng trong nhà D67, đường hầm rộng 1,   2m, có 45 bậc thang. Ngoài ra còn một cầu thang phía Nam thông với nhà con  Rồng. 1.2.4 Hậu Lâu 11
  12. Dương Mạnh Thắng VHH2B Hậu Lâu, còn gọi là lầu Công chúa, có kiến trúc gốc thời Nguyễn, xây  dựng lại trong thời Pháp thuộc, xưa là nơi ở của các cung tần mỹ nữ hộ giá nhà   vua khi tuần du Bắc Hà. Lầu được xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, phía  trên là các công trình kiến trúc với 5 tầng mái đan xen nhau. Lầu dưới cùng có 3  tầng mái, lầu trên cùng có 2 tầng mái. Mái lợp kiểu ngói ống, trát vữa, xi măng.   Bốn góc đao cong, hai góc bờ ngoài đắp đầu rồng, hai đầu hồi đắp hổ phù, hai   góc đao đắp hình hồi long bằng vữa. 1.2.5 Chính Bắc Môn Cửa Bắc (Bắc môn) quay hướng Bắc, chếch Tây 15 độ, là cổng thành duy   nhất còn lại của Thành Hà Nội, hiện ở 51 Phan Đình Phùng. Cửa Bắc được xây   dựng theo kiểu Vauban, cao 8, 71m, rộng 17m, dầy 20, 48 m, mái hình vòm  cuốn cao 4, 4m. Cổng thành được xây dựng bằng gạch, mép cửa kè đá hình chữ  nhật, diềm trên bằng đá trang trí cánh sen, phía trên có hai  ống máng bằng đá  được trang trí vân xoắn dùng thoát nước trên Vọng Lâu xuống. Trên mặt thành   Cửa Bắc còn lưu hai vết đại bác (sâu 80cm) do pháo hạm Pháp bắn vào thành  năm 1882. Nơi đây thờ hai vị tổng đốc đã tuẫn tiết theo thành Hà Nội: Nguyễn   Tri Phương và Hoàng Diệu. 1.2.6 Tám cổng thành thời Nguyễn Theo Đại Nam nhất thống trí năm 1805, khi xây dựng thành Hà Nội, nhà  Nguyễn đã dựng tường bao từ cửa Đoan Môn quanh nội điện làm hành cung để  vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần. Hiện nay trong khu thành cổ còn tám cổng cùng với tường bao hành cung  bằng gạch vồ cung quanh trung tâm thành Hà Nội thời Nguyễn. 12
  13. Dương Mạnh Thắng VHH2B Phía Nam có hai cổng bên Đoan Môn, phía Bắc có hai cổng nằm sau Hậu Lâu,  phía Đông có một cổng ra đường Nguyễn Tri Phương, phía Tây có một cổng  mở ra đường Hoàng Diệu và hai cổng hai bên nền điện Kính Thiên. 13
  14. Dương Mạnh Thắng VHH2B Chương 2:  GIÁ TRỊ  LỊCH SỬ  VÀ VĂN HÓA CỦA   ĐIỂM DI TÍCH CHÍNH BẮC  MÔN 2.1 Giá trị lịch sử của di tích Chính Bắc Môn 2.1.1 Tên gọi, vị trí Chính Bắc Môn  còn gọi là Bắc Môn hay Cửa Bắc, là cổng thành phía Bắc  của thành Hà Nội thời Nguyễn được xây dựng năm 1805. Thành Hà Nội mở ra 5   cửa: Bắc, Đông, Tây, Đông Nam và Tây Nam trong đó Cửa Bắc là cửa duy nhất   còn sót lại. Chính Bắc Môn hiện nay nằm trên phố Phan Đình Phùng.  2.1.2 Lịch sử hình thành Năm Ất Sửu, vua Gia Long sai quan đốc sức đắp thành, chu vi 1958 tầm 2  thước 5 tấc, xay bằng gạch đá. Ngoài thành đều đào hào xung quanh. Thành  mở  5 cửa Đông Nam, Tây Nam, Chính Đông, Chính Tây và Chính Bắc xây   bằng gạch đá, bốn bề  cao và bằng một lối ra vào xây bằng đá, trên tròn dưới   vuông. Trên của dựng nhà gạch làm lầu canh. Ngoài cửa thành đều xây lăng   giác thành.   Ở  cửa chính Đông dựng một tòa nhà gạch, cắt lính thay phiên nhau canh   gác. Ở Cửa Đông Nam dựng hai tòa nhà gạch gọi là Diệp Nghị  Đường. Hàng  tháng vào ngày 27 các quan lại làm việc trong thành tụ  tập  ở  đó. Phàm quan  dân các huyện trấn ai có việc thì đến đây tâu trình. Nha bên phải công đường   đặt sáu phòng nha lại lưu giữ, trình gửi công văn. Lại đặt trạm dịch, 1 nhà  gạch bốn mái đặt quân luân phiên canh trực, khi có chiếu thư, truyền lệnh  14
  15. Dương Mạnh Thắng VHH2B cũng dán  ở  đây,  ở  lang giác thành cửa Chính Bắc cũng dựng một nhà dài bên  trong chứa công lương… (Trích Bắc Thành dư địa chí, xuất bản 1969). 2.1.3 Kiến trúc Chính Bắc Môn được xây theo hướng vọng lâu, phía trên là lầu phía dưới   là thành. Tuy Chính Bắc Môn không cao nhưng khá bề thế. Cổng quay hướng   Bắc chếch 15°, dạng hình thang lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch,  một viên  đặt ngang xen một viên đặt dọc liên kết bằng vữa hợp chất. Mép cửa kè đá   hình chững nhật, diềm trên bằng đá trang trí viền cánh sen, gạch cỡ trung bình  35.5cm х 11cm х 12cm. Đá kè kích thước dài từ 38cm đến 86cm, rộng từ 17cm  đến 32cm, dày khoảng 42cm, phía trên có hai  ống máng bằng đá trang trí văn  mây xoắn để  thoát nước từ  trên vọng lâu xuống. Phía trên vòm cửa chính có   gắn tấm biển đá ghi ba chữ “Chính Bắc Môn”, diềm biển đá trang trí hoa dây  nổi.  Trên mặt thành có thể  thấy 1 tấm biển đá khắc ngày 25/04/1882 với 2  vết lõm ngay cạnh. Đó là dấu tích khi Pháp phá thành Hà Nội chúng giữ lại cửa  Bắc vì nơi đây còn hai vết đại bác do pháo thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm   1882 khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. 2.1.4 Di tích Chính Bắc Môn qua các cuộc khai quật Địa tầng Chính Bắc Môn ­ Lớp mặt gồm hai lớp: 15
  16. Dương Mạnh Thắng VHH2B Lớp mặt trên dày 0m – 2.30m bề mặt bồm nền bê tông, các móng tường  nhà cửa, các căn nhà cấp bốn được xây dựng những năm gần đây. Đất lẫn có  màu nâu đen. Lớp dưới: lớp  đất xáo trộn màu nâu đen mềm xốp… Lớp này có lẫn   nhiều mảnh gạch ngói, sành sứ  từ  thời Trần đến thế  kỷ  XIX và đầu thế  kỷ  XX. ­ Tầng văn hóa: hố H1 có 10 lớp, hố H2 có 12 lớp mỗi lớp 20cm. ­ Tầng văn hóa màu nâu đen chắc có lẫn nhiều mảnh gạch vồ, gạch ngói gốm  sứ  từ thời Trần đến thế  kỷ  XVIII. Chính trong lớp này cũng xuất hiện vết tích   các nền móng kiến trúc và tường thành. Tầng văn hóa này nằm ở độ sâu 2.30m –   4.30m. Nếu tính đến hết móng gạch thì chỗ sâu nhất là 5.40m. ­ Sinh thổ: đất sét đen mền không lẫn hiện vật. Như vậy, cấu trúc địa tầng, cấu trúc văn hóa giữa hai hố là tương tự nhau.  Độ  dày giữa các lớp có khác nhau chút ít đặc biết nơi có lớp móng làm bằng  dăm gạch vụn nện chặt giữa hai hố rất khác nhau ở nơi xuất lộ hố 1 lớp dăm  chỉ dày 6cm, hố 2 lớp dăm và lớp gạch vỡ dày 1.20m. Các vết tích kiến trúc ở các hố khai quật khảo cổ học: Hố H1 ­ Vị trí: 16
  17. Dương Mạnh Thắng VHH2B Trong hố  H1  ở  độ  sâu 2.20m xuất hiện một mảnh tường kiến trúc khá  kiên cố. Vết tích kiến trúc này nằm choán hết toàn bộ  chiều rông của hố.   Cạnh phía nam của vết tích kiến trúc này cách vách Nam của hố đào 5m cạnh   phái bắc còn đang chạy về  phía vách bắc. Tuy đã bị  phá hủy nghiêm trọng,  nhưng các vết tích đã xuất lộ  cũng cho thấy phần nào cấu trúc của mảng  tường. ­ Vật liệu và kỹ thuật xây dựng: Vật liệu gồm gạch vồ, gạch vỡ và đá. Gạch  vồ  có các cỡ  38cm x 17cm x14cm, 42cm x 14cm x 13cm. Gạch vuông gồm  có 34cm x 34cm x6cm, 38cm x 38cm x 5.5cm. Kỹ thuật xây xếp đơn giản không có chất kết dính. Theo chiều thẳng  đứng gạch thường xếp giật cấp. Theo mặt phẳng  ở phía ngoài gạch xếp 1   viên ngang xen 1 viên dọc, ở phía trong nhòi gạch vỡ nện chặt. Cấu trúc: Gồm hai phần: móng và tường. Phần móng được thấy rõ ở  phía nam hố khai quật. Phần này gồm một lớp gạch dăm dày 6cm nện chặt.   Dưới dăm gạch là đất sét đen không có di vật. Tuy nhiên đây chỉ  là phần   móng ở vị trí không có tường đè lên. Phần móng chỗ có tường không đòa vì  để  bảo vệ  tường gạch phía trên. Phần tường gồm có hai cấp thu lại theo   hướng từ đông sang tây. Cấp dưới có thể coi như chân tường có thể quan sát  thấy rõ từ ba hướng. Từ hướng Nam: chân tường cao 0.92m gồm có hai lớp   đá và năm lớp gạch được xếp theo trật tự  như: Lớp gạch dưới cũng là lớp  đá lót, đá được đập vỡ    tự  nhiên, kích thước 28cm x 5.14cm x5cm đã xếp  chèn ở dưới và xếp bề rộng ra ngoài. Tiếp theo là lớp đã xanh có gia công sơ  sài kích thước lớn hơn 54cm x 15cm, 37cm x 17cm. Bên trên lớp đá có năm   hàng gạch vồ, tính từ  dưới lên trên được xếp theo thể  thức hàng một gạch   17
  18. Dương Mạnh Thắng VHH2B xếp dọc, hàng hai gạch xếp dọc thỉnh thoảng có viên xếp ngang, hàng ba  gạch xếp dọc, hàng bốn gạch xếp dọc có chen viên xếp ngang, hàng năm  gạch xếp dọc hoàn toàn. Như  vậy các hàng gạch xếp dọc là chủ  yếu tạo   một chân tường khác chắc chắn nhưng mặt phẳng không đều. Từ  hướng   Bắc: do hố đào còn nhỏ, chân tường đã bị phá chỉ rõ phần mặt có nhồi gạch   vỡ nện chặt. Từ hướng đông: có thể thấy chân tường chạy theo hướng bắc nam dài  9m, rộng 0.9m, chân tường đang phát triển về  hướng bắc. Cấu trúc chân   tường phía này khác hẳn phía nam. Các hàng gạch vồ  được xếp thẳng và  giật cấp thu dần vào trong mỗi cấp từ  2cm – 4cm. Hiện đã rõ ba hàng gạch   giật cấp như vậy. Còn phía dưới chưa nhìn rõ được do hố đào còn nhỏ. Phủ  kín trên mặt của chân tường là các lớp gạch vồ, gạch vuông và đất. Gạch  tuy được xếp nhưng không chặt và không thành hàng lối. Bóc dỡ toàn bộ lớp   gạch đất này ra thì xuất lộ toàn bộ  cấp tường nền thứ hai. Cấp tường nền   thứ  hai  ở  bên trên đều đã bị  phá  ở  cả  hài đầu bắc nam chỉ  nhìn rõ  ở  phía   đông, giật cấp cách mép chân tường 0.9m dài 6m. Toàn bộ  cấp tường này  hiện còn rõ tám hàng gạch xếp giật cấp tương tự như chân tường bên dưới.   Tóm lại, móng tầng nền gạch trong hố H1 được xây chủ yếu bằng gạch vồ,  đá dùng để  lót và xếp  ở  hàng dưới cùng, móng bằng gạch vụn nện chặt.   Móng đã bị  phá hủy nghiêm trọng phần còn lại cao 1.96m, chân tường dài   9m giật cấp bên trên dài 6m, do hố đào còn nhỏ hiện chưa rõ quy mô của vết  tích kiến trúc này. Hố 2: 18
  19. Dương Mạnh Thắng VHH2B ­ Vị trí: Vết tích ở hố H2 xuất hiện  ở độ  sâu 1.66m. Đoạn tường này chạy  theo hướng Bắc Nam và nằm ở sát vách đông của hố khai quật. ­ Vật liệu và kỹ  thuật xây dựng: Vật liệu gồm có gạch vồ, đá, gạch vỡ,  gạch vỡ 38cm x 13cm x 10xm, 38cm x 14cm x… Kỹ thuật xây kiểu giật cấp  thu dần vào theo chiều thẳng dứng, xếp một viên ngang xem một viên dọc   theo phương nằm ngang và kết hợp với nhồi gạch vụn nện chặt  ở  phía  trong. ­ Cấu trúc: Phần móng là gạch vụn và gạch vỡ được chia làm hai lớp: lớp   dưới là các viên gạch vồ vỡ ⅓ hoặc ¼ nhồi xếp dày 1.15cm. Lớp trên là lớp   gạch vụn nện chặt tạo một bề mặt rất phẳng, chắc, không thấm nước. Lớp  móng này trải dài trên toàn bộ  mặt của hố  H2.Phần tường đã thấy toàn bộ  mặt phía tây được xếp bằng đá và gạch vồ. Hàng dưới cúng lót một lớp đá.   Hiện nay đã lộ  rõ một tảng đá trắng dài 50cm, nhô cao khỏi lớp dăm gạch   9cm. Trên lớp đá hiện còn 17 hàng gạch xếp giật cấp. Mặt tường đã bị  phá một phần, cả  bề  rộng và chiều dài có khả  năng  đang nằm ở phần chưa khai quật. Đặc biệt, phần tường này đã chui hẳn vào  dưới chân Bắc Môn. Đoạn gần chân Bắc Môn đã bị  phá một mảng tường  dài 1.2m rộng 1m. Từ mép tường trên nền gạch nện có một lớp gạch đổ dốc   từ đông sang tây dài 6m – 6.4m. Ngoài cùng có hai tảng đá xanh và xép không   chặt chẽ  có xen đất, mảnh gốm và gạch. Tóm lại, đây là đoạn tường kiến   trúc chạy theo hướng Bắc Nam. Phần còn lại đã xuất lộ cao 2.4cm, bề mặt   đã xuật lộ rộng 3.3cm. Niên đại của các di vật và vết tích kiến trúc ở Chính Bắc Môn: 19
  20. Dương Mạnh Thắng VHH2B Hai hố H1, H2 đào ở Bắc Môn khá gần nhau và kết cấu địa tâng, loại  hình di vật và niên đại. các vết tích kiến trúc đều tương tự như nhau do đó   có thể  xác đinh niên đại chung cho cả  hai hố. Về  mặt địa tầng, cả  hai hố  đều chỉ có một tầng văn hóa. Trong tầng văn hóa, đặc trưng và niên đại của   các di vật: Các di vật thuộc thế kỷ XVII – XVIII chiếm tỷ lệ lớn nhât gồm  có các mảnh gạch vồ, ngói ống và các bộ phận trang trí trên ngói màu xám,  màu dỏ  hoặc tráng men xanh, men vàng, các mảnh gốm men hai màu, men   mày ghi xám, men mày vàng đục gốm hoa lam trang trí đơn giản, các mảnh  sành… Ngoài ra, còn một số  mảnh gốm hoa lam Trung Quốc. Các di vật   thuộc thế  kỉ  XV – XVI gồm một tỷ lệ rất ít các mảnh gốm hoa lam, gốm   men màu vàng đục, gốm trắng văn in. Các di vật thuộc thế kỷ XIII –XIV rất ít gồm một số mảnh gốm men   ngọc hoặc men trắng có vết chồng dính thời Trần và một vài mảnh men  ngọc Trung Quốc. Trong lớp kiến trúc này mỗi hố có vết tích một nền móng  kiến trúc rất lớn. Vết tích này xây hoàn toàn bằng gạch vồ. Loại gạch này   xuất hiện từ thế kỷ XV trở đi. Việc xác định chính xác loại gạch này và kỹ  thuật xây xếp như  hai kiến trúc này xuất hiện và thời kỳ  nào là rất khó.   Giữa hai kiến trúc có khác nhau một số  điểm như  sau: Kiến trúc  ở  hố  H1  gần như  là một kiến trúc nhà cửa hay đền tháp, xây giật cấp, móng gạch   vụn xây mỏng. Kiến trúc ở hố H2 là đoạn tường thành xây xếp giật cấp và   móng gạch xây khá dày và kiên cố. Tuy nhiên, cả  hai kiến trúc này lại có điểm chung là cũng một loại  gạch, kỹ  thuật xây cất như  nhau. Bởi vậy tạm thời cho rằng hia kiến trúc   này xây cùng thời và nằm trong khoảng thế kỉ XV –XVIII. Lớp đất san lấp  hai kiến trúc này có thể được hình thành và khoảng cuối thế kỷ XVII – đầu  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản