intTypePromotion=1
ADSENSE

Đề tài: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH

Chia sẻ: Thùy Linh Nguyễn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:64

171
lượt xem
33
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài: phân tích tác động của các nhân tố hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tp.hồ chí minh', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TH ÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................ .......................... TRẦN NAM TRUNG PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2009
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TH ÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................ .......................... TRẦN NAM TRUNG PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng Mã số : LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
  3. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. EFA (EXPLORATORY FACTOR ANALYSIS) : phân tích nhân tố khám phá 2. NĐT CN: nhà đầu tư cá nhân 3. TTCK : Thị trường chứng khoán 4. Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh 5. TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
  4. DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ Hình 1.1 : Hàm giá trị của Kahneman và Tversky Hình 3.1 : Biểu đồ thời gian tham gia TTCK của NĐT CN Tp.HCM Hình 3.2 : Biểu đồ vốn đầu tư vào TTCK của NĐT CN Tp.HCM Hình 3.3 : Biểu đồ thống kê chiến lược đầu tư của NĐT CN Tp.HCM Hình 3.4 : Biểu đồ thống kê sự ảnh hưởng của nhân tố tâm lý đến quyết định đầu t ư của NĐT CN Tp.HCM BẢNG BIỂU Bảng 3.1 : Tổng hợp các thang đo được mã hóa Bảng 3.2 : Thống kê mô tả thời gian tham gia TTCK của NĐT CN Tp.HCM Bảng 3.3 : Thống kê mô tả số vố đầu tư vào TTCK của NĐT CN Tp.HCM Bảng 3.4 : Thống kê mô tả chiến lược đầu tư của TTCK của NĐT CN Tp.HCM Bảng 3.5 : Thống kê mô tả sự ảnh hưởng của nhân tố tâm lý đến quyết định đầu tư của TTCK của NĐT CN Tp.HCM Bảng 3.6 : Thống kê mô tả các nhân tố hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định của TTCK của NĐT CN Tp.HCM Bảng 3.7 : Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến quan sát Bảng 3.8 : Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo quyết định đầu t ư Bảng 3.9 : Kết quả phân tích EFA các biến độc lập Bảng 3.10 : Phân tích phương sai tổng thể Bảng 3.11 : Kết quả phân tích EFA các biến phụ thuộc Bảng 3.12 : Ma trận tương quan giữa các nhân tố Bảng 3.13 : Tóm tắt mô hình hồi quy Bảng 3.14 : Kết quả kiểm định Anova
  5. -1- MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU -------------------------------------------------------------------------------------------- 3 CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI ------------------------ 6 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tài chính học hành vi: ---------------------------------- 6 1.2 Lý thuyết Tài chính học hành vi: (Behavioral Finance) ---------------------------------------- 7 1.2.1 Thuyết kỳ vọng: (The Prospect Theory) ---------------------------------------------------- 8 1.2.1.1 Sự ghét lỗ: (Loss Aversion) -------------------------------------------------------------- 9 1.2.1.2 Sự tiếc nuối: (Regret) --------------------------------------------------------------------- 9 1.2.2 Tâm lý dựa vào kinh nghiệm: (Heuristics) ----------------------------------------------- 10 1.2.2.1 Tình huống điển hình: (Representativeness) ----------------------------------------- 10 1.2.2.2 Sự quá tự tin: (Overconfidence and Over & Underreaction) ---------------------- 11 1.2.2.3 Bám vào những giá trị đã thiết lập: (Anchoring) ------------------------------------ 11 1.2.2.4 Hành vi bầy đàn: (Herb Behavior)----------------------------------------------------- 12 Kết luận chương 1 -------------------------------------------------------------------------------------- 13 CHƯƠNG 2 – SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ------------------------------------------------------ 14 2.1 Giai đoạn 2000 – 2005: --------------------------------------------------------------------------- 14 2.2 Giai đoạn 2006 – 2007: --------------------------------------------------------------------------- 18 2.3 Giai đoạn 2008 đến nay: -------------------------------------------------------------------------- 21 Kết luận chương 2 ------------------------------------------------------------------------------------- 25 CHƯƠNG 3 – KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN TTCK TP.HỒ CHÍ MINH -- 26 3.1 Mô hình khảo sát ----------------------------------------------------------------------------------- 26 3.2 Quy trình khảo sát --------------------------------------------------------------------------------- 26 3.3 Kết quả khảo sát ------------------------------------------------------------------------------------ 30 3.3.1 Phân tích mô tả ------------------------------------------------------------------------------- 30 3.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo ---------------------------------------------------------- 35 3.3.3 Phân tích nhân tố ----------------------------------------------------------------------------- 37
  6. -2- 3.3.4 Hồi quy tuyết tính ---------------------------------------------------------------------------- 42 3.3.5 Kiểm định mô hình -------------------------------------------------------------------------- 45 Kết luận chương 3 -------------------------------------------------------------------------------------- 46 CHƯƠNG 4 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ---------------------------------------------- 47 4.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu ---------------------------------------------------------------- 47 4.2 Đóng góp của nghiên cứu ------------------------------------------------------------------------- 48 4.3 Kết luận ---------------------------------------------------------------------------------------------- 49 4.4 Những khuyến nghị -------------------------------------------------------------------------------- 49 4.5 Đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo ------------------------------------------------------- 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO --------------------------------------------------------------------------- 52 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát chính thức Phụ lục 2: Bảng câu hỏi thô Phụ lục 3: Biểu đồ VNINDEX từ năm 2000 đến nay
  7. -3- LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài: Sau 9 năm đi vào hoạt động (kể từ tháng 07/2000), thị tr ường chứng khoán Việt Nam đã trãi qua bao thăng trầm. Khởi đầu từ 100 điểm, VN -Index đã nhanh chóng vượt qua mốc 500 điểm rồi trở lại dần xuất phát điểm, gần mốc 150 điểm. Tiếp theo là thời kỳ trầm lắng gần bốn năm để lấy đ à cho giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục, vượt mốc 1.000 điểm và đạt đỉnh 1.170,67 điểm vào tháng 3/2007 để rồi sau đó là giai đoạn xuống dốc tệ hại, chạm “đáy” 234,66 điểm vào ngày 24/2/2009 (giảm 80% trong vòng gần 2 năm), đây là mức sụt giảm kỷ lục trong 9 năm hoạt động của TTCK Việt Nam và cũng là mức sụt giảm mạnh nhất thế giới. Đến 08/06/2009, VNINDEX lại chạm mốc 501.48 điểm (tức tăng 130% trong vòng gần 4 tháng so với mức đáy ng ày 24/02/2009). Điều này cho thấy biên độ dao động của VNINDEX là rất lớn và phản ứng có phần quá mức trước những thông tin tác động đến thị tr ường. Tác nhân tác động đến thị trường thì có nhiều. Ngoài những biến động không lường về tình hình kinh tế vĩ mô ở trong và ngoài nước, tình hình sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp ni êm yết thì yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cũng là một nhân tố quyết định. Chính yếu tố tâm lý n ày đã đẩy cho thị trường lên cao và rất nhanh trong một giai đoạn ngắn và cũng chính nó là nguyên nhân làm cho thị trường sụt giảm sâu và mạnh mẽ. Do đó việc nắm bắt được tâm lý của nhà đầu tư và xu hướng của thị trường là một trong những yếu tố then chốt cho việc ra quyết định trong đầu t ư. Vì vậy, bên cạnh các phương pháp phân tích cơ b ản và phân tích kỹ thuật thì việc nghiên cứu và phân tích hành vi tài chính của nhà đầu tư là một công việc quan trọng không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán và ngày càng được xem xét nhiều hơn khi các phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật hầu như đã không còn phát huy được vai trò của chính nó trong việc nhận định v à dự đoán xu hướng của thị trường (như trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 vừa qua).
  8. -4- Đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh ” được thực hiện không ngoài mục đích trên và rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện hơn. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài là hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tổ chức tài chính và Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không thuộc đối tượng nghiên cứu của công trình này. Cơ sở lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Trên 70% tổng số tài khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán là tài khoản cá nhân. Chính họ là nhân tố tạo nên sự nhộn nhịp, sôi động cho thị tr ường. Ở một số thời điểm, đặc biệt như trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, hầu như các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài nằm im, không giao dịch hoặc giao dịch cầm chừng th ì chính họ lại là nhân tố mang đến tính thanh khoản v à quyết định cho sự tăng giảm giá tr ên thị trường mặc dù lượng vốn của các tổ chức v à nhà đầu tư nước ngoài lớn hơn họ rất nhiều. Các quyết định của họ nếu xét trong từng thời kỳ thì thường tỏ ra nhạy bén và bám sát xu hướng của thị trường hơn so với các quyết định của các nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài. Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật của các n hà đầu tư cá nhân là đầu tư theo phong trào và phương thức đầu tư của phần đông trong số này là khi giá chứng khoán tăng thì ào ào mua vào đẩy giá càng lên cao và lên nhanh nhưng khi giá ch ứng khoán xuống thì lại “giẫm đạp lên nhau, ùa nhau bán tháo" đ ể cắt lỗ đẩy giá chứng khoán giảm sâu hơn. Vì vậy, luận văn sẽ tập trung chủ yếu v ào nhóm các nhà đầu tư cá nhân, để tìm hiểu về các hành vi tài chính của họ trên thị trường trong từng thời kỳ mà trọng tâm là giai đoạn 2007 – 2009, giai đoạn bùng nổ tăng trưởng, suy sụp và dần hồi phục của thị trường chứng khoán Việt Nam.
  9. -5- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chủ yếu tập trung nghi ên cứu về hành vi của các nhà đầu cá nhân đã và đang mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt v à các Công ty Chứng khoán khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với trọng tâm l à giai đoạn 2007 – 2009, giai đoạn ghi nhận nhiều kịch tính và đầy biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp khảo sát thực tế: qua quá trình gần 10 năm công tác trong ng ành tài chính - chứng khoán, tác giả đã có nhiều cơ hội tiếp xúc và tư vấn đầu tư cho nhiều đối tượng khách hàng thuộc nhóm các nhà đầu tư cá nhân trong nước. Từ đó, tác giả đã phần nào nắm bắt được thực trạng về nhu cầu v à khả năng đầu tư của khách hàng trong từng thời kỳ để đi sâu nghi ên cứu về hành vi tài chính của họ trên thị trường. Phương pháp điều tra: luận văn sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Dựa tr ên số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát, tác giả sẽ phân tích dữ liệu với SPSS. 4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến h ành vi tài chính của nhà đầu tư cá nhân, đánh giá một cách khách quan hành vi đầu tư của họ. Từ đó, đưa ra những nhận định và khuyến nghị thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong tiến tr ình ra quyết định của các nhà đầu tư cá nhân và giúp cho họ tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư tài chính. Kết cấu luận văn: Luận văn được chia thành 4 chương với nội dung cụ thể như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về kinh tế học hành vi. Chương 2: Sơ lược về sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam. Chương 3: Khảo sát sự tác động của các nhân tố hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
  10. -6- CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tài chính học hành vi: Trong thời kỳ cổ điển, kinh tế học đ ã có mối liên kết gần gũi với tâm lý học. Chẳng hạn như Adam Smith viết cuốn “Lý thuyết về tình cảm luân lý” (The Theory of Moral Sentiments), văn bản quan trọng mô tả những nguy ên lý tâm lý học của các hành vi cá nhân, xuất bản vào năm 1759, được viết ra với thể v ăn hào nhoáng, chải chuốt, chứa đựng nhiều giai thoại, mang tính chất phân tích. Trong tác phẩm này Adam Smith đã mô tả các nguyên tắc về "bản chất con người" và đặt vấn đề về nguồn gốc của khả năng tạo ra các phán xét luân lý, kể cả các phán xét h ành vi của chính mình trong việc tư lợi và tự bảo tồn. Adam Smith cho rằng trong mỗi ng ười chúng ta có một "con người bên trong" (an inner man) đóng vai trò như một người khách quan không thiên vị, thường chấp nhận hay lên án các hành động của chính ta và của người khác. Qua tác phẩm này, Adam Smith đã đưa ra nhận xét quan trọng mà sau này ông đã lặp lại trong tác phẩm “Tài sản của các quốc gia”: (The Wealth of Nations): "con người tự tìm kiếm mình thường bị dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình ... mà không hay biết, không do chủ đích để làm gia tăng các lợi ích của xã hội…” Trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, các nh à kinh tế học bắt đầu đặt mình bên ngoài tâm lý học nhằm hướng tới những nghiên cứu kinh tế như một khoa học tự nhiên, bắt đầu với những giải thích về h ành vi kinh tế được suy ra từ các giả định về tính tự nhiên của các thực thể (tác nhân) kinh tế. Khái niệm con ng ười kinh tế đã được đề xuất, tâm lý của con ng ười được xem xét cơ bản dựa trên lý trí. Những đại diện tiêu biểu trong thời kỳ này là: Francis Edgeworth, Vilfredo Pareto, Irving Fisher và John Maynard Keynes. Năm 1979, Daniel Kahneman, giáo sư khoa Tâm l ý học tại ĐH Princeton, và Amos Tversky đã trình bày “Lý thuyết kỳ vọng”, mô tả sự lựa chọn của con ng ười
  11. -7- như thế nào khi rơi vào tình huống buộc phải quyết định giữa sự lựa chọn bao h àm cả sự rủi ro, chẳng hạn như trong các quyết định tài chính. Năm 2002, giáo sư Vernon Smith (75 tu ổi) của Đại học George Mason v à giáo sư Daniel Kahneman (68 tu ổi) của Đại học Princeton đ ã nhận chung giải Nobel kinh tế. Hai ông có chung công tr ình nghiên cứu về “Ảnh hưởng của tâm lý tới quyết định chi tiêu của người dân và những bằng chứng thực nghiệm từ thập kỷ 60 đến nay”. Nghiên cứu này đã vạch ra một hướng mới đối với quan hệ giữa hai ngành khoa học vốn rất ít liên quan là tâm lý học và kinh tế học. Kết quả nghiên cứu chính của hai ông liên quan tới quá trình ra quyết định trong những trường hợp không chắc chắn và cho rằng quyết định của con người có thể trệch khỏi các quyết định được dự đoán bởi lý thuyết kinh tế ti êu chuẩn một cách có hệ thống. Ngày nay, Tài chính học hành vi được áp dụng nhiều trong phân tích về các quyết định thị trường cũng như trong phân tích về sự lựa chọn công. 1.2 Lý thuyết tài chính học hành vi: (Behavioral Finance) Tài chính học hành vi, là một phân ngành kinh tế học nghiên cứu những hành vi (hành động có nhận thức) của các chủ thể kinh tế (người tiêu dùng, người phân phối hay người sản xuất) có ảnh hưởng như thế nào đến việc ra các quyết định kinh tế cũng như giá cả thị trường ra sao. Tài chính học hành vi có vai trò quan trọng trong việc dự đoán và lý giải cho xu hướng của thị trường tài chính đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay, khi các phương pháp khác như phương pháp phân tích cơ b ản và phương pháp phân tích kỹ thuật đang cho thấy những mặt hạn chế của nó. Thuyết kỳ vọng và Tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của học thuyết hành vi tài chính, học thuyết lấy cảm xúc của con ng ười làm trọng tâm nghiên cứu.
  12. -8- 1.2.1 Thuyết kỳ vọng: (The Prospect Theory) Nền tảng của thuyết kỳ vọng là hàm giá trị được Kahneman và Tversky xây dựng năm 1979 khi mô tả độ hữu dụng của một nhà đầu tư tài chính bằng một hàm hữu dụng lõm, hữu dụng biên của tài sản giảm, tức là mỗi đơn vị tăng thêm trong giá trị tài sản đầu tư sẽ mang lại một giá trị hữu dụng tăng thêm ít hơn so v ới sự tăng lên trước đó trong giá trị tài sản đầu tư nhưng sẽ mang đến sự đau khổ v à dằn vặt nhiều hơn khi một giá trị tài sản bị sụt giảm do thua lỗ. Utility Reference Point Wealth Hình 1.1 : Hàm giá trị của Kahneman và Tversky Kahneman và Tversky cho rằng, hàm giá trị này có độ dốc hướng lên khi giá trị tài sản dưới điểm tham chiếu và độ dốc hướng xuống khi giá trị t ài sản ở trên điểm tham chiếu. Điểm tham chiếu đ ược quyết định bởi mỗi cá nhân nh ư một điểm so sánh, như để đo lường mức độ mục ti êu của giá trị tài sản. Khi giá trị tài sản nằm dưới điểm tham chiếu (nhà đầu tư đang thua lỗ) thì họ sẽ là người sẵn sàng chấp nhận rủi ro, tiếp tục tham gia cuộc ch ơi với hy vọng sẽ mau chóng lấy lại giá trị đầu tư ban đầu. Ngược lại, khi giá trị tài sản nằm trên điểm tham chiếu, hàm giá trị có chiều hướng lõm xuống, mô tả cho hành vi chống đỡ, ác cảm với những rủi ro trong đầu tư khi nhanh chóng ra quyết định bán cổ phiếu để kiếm lời mà không phân tích đến khả năng gia tăng thêm giá trị đầu tư để tăng thêm cơ hội thu được nhiều lợi nhuận hơn.
  13. -9- Tóm lại: hàm giá trị của Kahneman v à Tversky là cơ s ở quan trọng cho việc giải thích một số hành vi tài chính của nhà đầu tư như: sự ghét lỗ và sự tiếc nuối. 1.2.1.1 Sự ghét lỗ: (Loss Aversion) Qua thực nghiệm chỉ ra rằng những khoản lỗ th ì nặng hơn gấp hai lần so với khoản lãi. Lỗ 1$ thì đau khổ gấp hai lần so với lãi được 1$ (Kahneman và Tversky, 1991). Sự ghét lỗ đề cập đến một sự thật l à con người thường có xu hướng quá nhạy cảm đối với sự sụt giảm t ài sản của họ hơn sự gia tăng. Điều này được phản ánh bởi hàm giá trị của của thuyết kỳ vọng rằng có một sự lệch lạc ở giá trị ban đầu. Sự ghét lỗ có thể giúp chúng ta giải thích vì sao con người luôn có khuynh hướng cảm thấy khổ sở, đau buồn khi phạm phải một sai lầm trong phán đoán. Lỗ 1$ th ì đau khổ gấp nhiều lần so với lãi được 1$ và do vậy, họ thường có xu hướng nắm giữ cổ phiếu bị lỗ trong khi có thể bán chúng hoặc có lợi nhu ận từ sớm hơn vì nhà đầu tư luôn nghĩ rằng, những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ cản thấy tiếc nuối khi phải bán lỗ cổ phiếu. Vì thế, khi đối mặt với tình trạng thua lỗ, họ càng kỳ vọng vào lợi nhuận trong tương lai và thể hiện sự liều lĩnh của mình. Lý thuyết này lý giải cho xu hướng “giữ cổ phiếu lỗ quá lâu” của các nhà đầu tư. 1.2.1.2 Sự tiếc nuối: (Regret) Con người thường có chiều hướng cảm thấy đau khổ và dằn vặt một khi mắc lỗi, thậm chí chỉ là những lỗi nho nhỏ. Họ cảm thấy hết sức ăn năn, hối hận về một quyết định mang đến kết quả tệ bạc cho họ. Một khi họ mắc sai lầm và thua lỗ, mong ước lớn nhất của họ là giá cả hồi phục lại giá cả ban đầu mà họ đã đầu tư, họ chỉ mong hòa vốn. Do đó, ngay khi cổ phiếu vừa tăng giá họ đ ã vội vàng bán đi thay vì giữ lại với hy vọng sẽ kiếm đ ược nhiều lợi nhuận lớn hơn. Nhưng nếu giá cổ phiếu lại xuống sâu th êm nữa, thay vì phải bán đi để cắt lỗ thì họ lại trì hoãn, chần chừ không dám bán vì nghĩ rằng bán giá này sẽ là bán giá đáy, bán xong s ẽ không mua lại được giá thấp hơn hoặc nghĩ rằng thị trường chắc sẽ tốt hơn trong nay, mai
  14. - 10 - và giá cổ phiếu của mình sẽ mau chóng gia tăng trở lại , họ lo sợ và nuối tiếc khi phải bán lỗ cổ phiếu. Họ c àng nuối tiếc thì càng thể hiện sự liều lĩnh của mình khi đối mặt với thua lỗ. 1.2.2 Tâm lý dựa vào kinh nghiệm: (Heuristics) Các nhà đầu tư thường hành động theo kinh nghiệm. Kinh nghiệm v à sự lệch lạc, càng kinh nghiệm, càng ít lệch lạc. Tâm lý dựa vào kinh nghiệm phản ánh tiến trình ra quyết định dựa trên những điều mà con người đúc kết từ sự khắc phục những lỗi lầm. Phương pháp kinh nghiệm rất hữu ích cho việc giải thích v ì sao nhiều khi thị trường lại hành động theo kiểu vô lý trí, điều này đối lập với mô hình thị trường hiệu quả trong thông tin. Hành vi bầy đàn là một hình thức của tâm lý dựa v ào kinh nghiệm ở đó hành động của cá nhân bị dẫn dắt theo h ành vi của đa số và ra quyết định dựa trên tâm lý của đám đông. Tuy nhi ên, hành vi bầy đàn cùng với tâm lý dựa vào kinh nghiệm sẽ dẫn dắt con người đến chỗ lạc lối khi đi theo xu h ướng chung của thị trường vì sự quá tự tin về những việc mà họ đánh giá. Sự quá tự tin cũng có thể bị vạch ra bởi “sự biể u hiện của tâm lý nhận thức” một xu hướng cho con người để cố gắng phân loại các sự kiện theo loại h ình hoặc cách thức biểu hiện của cách phân loại đ ược biết đến nhiều nhất. Trong thị tr ường chứng khoán chẳng hạn, các nhà đầu tư phân loại theo nhóm các cổ phiếu có lịch sử tăng trưởng về lợi nhuận nh ưng lại bỏ qua sự hợp lý là có rất ít công ty giữ được tốc độ tăng trưởng theo thời gian. Cho n ên sự tự tin là một bộ phận cấu thành nên tâm lý dựa vào kinh nghiệm và sẽ được mô tả cụ thể ở phần dưới đây cùng với tình huống điển hình, hành vi tâm lý bầy đàn và tâm lý thích dựa vào những giá trị đã thiết lập khi ra quyết định đầu tư. 1.2.2.1 Tình huống điển hình: (Representativeness): Tình huống điển hình là sự đánh đồng hiệu quả kinh doanh v à hiệu quả đầu tư tài chính trong khi hai khái niệm này là hoàn toàn khác nhau. Hiệu quả kinh doanh
  15. - 11 - được đánh giá qua các chỉ số về doanh thu v à lợi nhuận còn hiệu quả đầu tư tài chính là chênh lệch giá. Tình huống điển hình còn thể hiện ở sự ra quyết định dựa tr ên những kinh nghiệm có được trong quá khứ mà bỏ sót nhiều sự kiện trong hiện tại, đánh giá sự việc một cách riêng lẽ, không kết hợp thành hệ thống và tính đến mối liên hệ với tổng thể. 1.2.2.2 Sự quá tự tin: (Overconfidence and Over & Underreaction) Tâm lý chung của con người là thích thổi phồng, phóng đại tài năng của họ và đánh giá thấp những kết quả tồi tệ có thể xảy ra mà họ không kiểm soát được. Sự kết hợp của sự tự tin và lạc quan làm cho con người đánh giá quá cao kiến thức của họ nhưng lại đánh giá thấp những rủi ro tiềm tàng và thổi phồng khả năng của họ về việc kiểm soát được các sự việc, điều n ày dẫn đến khối lượng giao dịch quá mức v à thị trường bong bóng. Một người càng quá tự tin vào chính bản thân anh ta, thì càng gặp nhiều rủi ro và sai lầm trong quyết định vì sự tự tin thường không tạo ra mối quan hệ nào với kiến thức thực tế. Đặc tính chung của con người là phản ứng lại quá mức đối với những sự kiện , những thông tin không lường trước và đầy kịch tính. Vì vậy, sự quá tự tin có thể giúp giải thích phần nào sự gia tăng quá mức của giá cả trong thị trường bong bóng (đầu cơ). 1.2.2.3 Bám vào những giá trị đã thiết lập: (Anchoring) Được định nghĩa như là việc hình thành một giá trị và đánh giá các vấn đề dựa vào giá trị đã được thiết lập trước đó.Vì sự thật là con người ai cũng có trong đầu một vài điểm tham chiếu, chẳng hạn nh ư giá IPO, giá chào sàn trước đây của cổ phiếu. Một khi có được thông tin mới họ sẽ điều chỉnh giá cả cổ phiếu l ên trên điểm tham chiếu. Trong trường hợp thị trường thiếu vắng những thông tin tốt hơn những thông tin trước đây thì giá cả quá khứ là căn cứ để đưa ra quyết định cho giá cả ngày hôm nay. Vì vậy, việc bám vào những giá trị đã thiết lập gần như là sự gợi nhớ
  16. - 12 - về giá cả quá khứ. Bằng chứng điển h ình cho lý thuyết này là trường phái phân tích kỹ thuật, sử dụng giá cả quá khứ của chứng khoán để dự đoán xu h ướng giá trong tương lai. I.2.2.4 Hành vi bầy đàn: (Herb Behavior) Con người thường bị ảnh hưởng bởi môi trường xã hội đồng thời xã hội cũng có sự ảnh hưởng hết sức to đến sự đá nh giá hành vi của một cá nhân. Khi con ng ười đối diện với sự đánh giá của một nhóm ng ười, họ thường có chiều hướng thay đổi những câu trả lời sai lầm của họ so với ý kiến của đám đông. Đây l à một hành vi tâm lý. Tâm lý bầy đàn (hay tâm lý đám đông) là một sự tồn tại khách quan trong bất cứ một thị trường nào không riêng gì thị trường tài chính. Các bằng chứng xã hội mà các nhà tâm lý học đưa ra từ các cuộc khảo sát hoàn toàn chứng minh được điều đó.Chẳng hạn như thí nghiệm : Cho một người đứng ở một góc p hố và nhìn lên bầu trời trống không trong 60 giây. Một số ng ười đi đường đã dừng lại để xem người kia nhìn gì nhưng rồi đa số cũng bước qua. Lần tiếp theo, các nh à tâm lý học cho năm người làm như vậy ở góc phố đó. Lần này số người dừng lại để quan sát đôn g gấp 4 lần. Khi cho 15 người đứng ở góc phố đó, có tới 45% số ng ười qua đường dừng lại và khi tăng số người đứng ở góc phố thêm một lần nữa, có tới hơn 80% người đi đường phải ngẩng đầu quan sát theo. V ì sao lại như vậy? Vì người ta cho rằng nếu có nhiều người cùng nhìn lên bầu trời thì chắc chắn rằng trên bầu trời phải có gì đó. Đó là lý do vì sao càng có đông người, đám đông càng dễ bị ảnh hưởng: thêm một người là thêm một bằng chứng cho thấy có điều g ì đó quan trọng đang xảy ra. Họ tin tưởng rằng nếu càng có nhiều người cùng thực hiện một việc gì đó thì việc đó nhất định đúng. Bằng chứng n ày cho thấy tất cả mọi người dường như là nếu không biết điều gì đang diễn ra thì tốt hơn hết là nên bắt chước những gì người khác đang làm. Chừng nào lòng tham và sự sợ hãi còn ngự trị trong con người thì chừng ấy còn tồn tại tâm lý đám đông. Nhưng khi đám đông hành đ ộng ngược lại với những điều
  17. - 13 - nhà đầu tư phân tích thì quyết định đúng đắn và khôn ngoan nhất là nhà đầu tư nên rời bỏ khỏi đám đông đó. Th à từ bỏ một khoản lời tiềm năng còn hơn là mất một khoản vốn trước mắt. Nhưng ra quyết định chấp nhận bỏ lỡ một c ơ hội kiếm tiền mười mươi là một tâm lý vô cùng khó kh ăn. Một nghịch lý trong kinh doanh vẫn th ường xảy ra: Bản năng tự nhiên của con người và mong muốn được hòa nhập với đám đông lại là những tình huống đưa các nhà đầu tư tài chính đến bờ vực phá sản. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Tài chính học hành vi là một phân ngành kinh tế học, sử dụng các lý thuyết về tâm lý hành vi để lý giải cho những bất thường xảy ra trên thị trường chứng khoán. Thuyết kỳ vọng và tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của tài chính học hành vi. Các nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực n ày là Daniel Kahneman va Amos Tversky. Mặc dù lý thuyết tài chính học hành vi không cung cấp cho các nhà đầu tư một phương thức đầu tư kỳ diệu, nhưng lại có thể giúp cho họ cẩn trọng hơn đối với các hành vi của mình và tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư tài chính.
  18. - 14 - CHƯƠNG 2 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRI ỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Ra đời vào ngày 20/07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam đến nay đ ã hơn 9 năm tuổi. Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam, không ngừng mở rộng quy mô v à cải thiện về thể chế luật pháp để trở th ành kênh huy động vốn quan trọng phục vụ cho con đ ường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đồng thời là kênh đầu tư mới được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm, chú ý. Tuy nhiên, cũng giống như các thị trường mới nổi khác, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trãi qua bao thăng trầm, chung quy lại có thể phân chia sự phát triển của thị trường thành ba giai đoạn chính yếu sau: 2.1. Giai đoạn 2000 - 2005: Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 48/1998/NĐ- CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán cùng với Quyết định thành lập hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại H à Nội và TP. Hồ Chí Minh. Ngày 20/07/2000, TTGDCK Tp.HCM chính thức đi vào hoạt động, và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 02 loại cổ phiếu ni êm yết là REE (Công ty Cổ phần Cơ Điện lạnh) và SAM (Công ty Cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông) và một số ít trái phiếu Chính phủ đ ược niêm yết giao dịch. Từ mức khởi đầu là 100 điểm, VN-Index đã nhanh chóng leo lên mức 570 điểm vào giữa tháng 06/2001. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chỉ số n ày đã trượt dốc xuống còn 200 điểm vào đầu năm 2002 và tiếp tục tạo đáy 130 điểm v ào tháng 4/2003. Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian n ày chẳng khác gì một ngôi sao băng, lóe sáng rồi vụt tắt.
  19. - 15 - Trong giai đoạn này hầu như có rất ít nhà đầu tư tổ chức, cá nhân biết đến hay am hiểu nhiều về chứng khoán và cũng có rất ít các quỹ đầu tư trong và ngoài nước được cấp phép và hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nh ưng theo thời gian, sự quan tâm của nh à đầu tư đến thị trường chứng khoán ngày một nhiều. Sự quan tâm này không hoàn toàn dựa trên nền tảng sự tăng trưởng của nền kinh tế mà bắt nguồn từ suy nghĩ đơn thuần của những người lần đầu tham gia vào thị trường chứng khoán rằng đây l à nơi mà họ có thể thu được lợi nhuận kỳ vọng một cách nhanh chóng, dễ dàng và đôi khi hơn cả sự mong đợi. Quan niệm “đầu tư chứng khoán như chơi một canh bạc, may mắn thì thắng” và xem đây như là cách nhanh nhất để trở nên giàu có, họ mua chứng khoán với mong muốn điều kỳ diệu ấy sẽ xảy ra để họ nhanh chóng đ ược đổi đời. Tâm lý này khiến cho nhu cầu mua chứng khoán tăng cao trong khi l ượng cung còn quá nhỏ và khan hiếm. Chính điều này đã làm cho giá các loại cổ phiếu đang niêm yết trên sàn lúc bấy giờ tăng liên tục trong nhiều tháng liền và vượt xa giá trị nội tại của nó. Nhận thấy sự xuất hiện của “bong bóng t ài chính” có thể sẽ là một trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững của thị tr ường, đồng thời cũng để nhằm hạn chế sự đầu cơ quá mức trên thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nh à nước đã đưa ra một loạt các biện pháp mạnh tay nh ư: giảm biên độ giao dịch, quy định khối lượng giao dịch tối đa cho mỗi loại chứng khoán…Mặc dù những chính sách này xuất phát từ mục đích bảo vệ nhà đầu tư nhưng nó lại có những tác động hết sức ti êu cực đến thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư và làm cho giá cổ phiếu giảm mạnh. Từ cuối năm 2001, tâm lý nhà đầu tư hầu như bị tổn thương nghiêm trọng và dẫn đến tình trạng thị trường dần rơi vào trạng thái “đóng băng”. Cảnh chợ chiều này đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở n ên chậm phát triển. Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2003 to àn thị trường mới chỉ có 73 loại chứng khoán (trong đó có 21 mã cổ phiếu được niêm yết, 02 loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và 50 loại trái phiếu chính phủ) với tổng mức vốn hóa chỉ khoảng 6.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 1.6% GDP. Chỉ số n ày thực sự quá nhỏ bé so với mức 20% - 30% GDP của các nước trong khu vực và nếu xét
  20. - 16 - về cơ cấu thì thị trường cổ phiếu hầu như bị lấn át bởi giao dịch của thị tr ường trái phiếu. Sự ảm đạm của thị trường còn được thể hiện ngay trong quy mô giao dịch, v ì trong khoảng thời gian kể từ khi thị trường được thành lập đến tháng 05/2003, khối lượng giao dịch của to àn thị trường một ngày chưa đến 100.000 cổ phiếu (mặc d ù thị trường lúc này đã có 26 công ty được niêm yết). Tính thanh khoản thấp khiến nhà đầu tư thực sự chán nản và mệt mỏi khi cần bán để thu hồi vốn, chứ mong g ì nghĩ đến chuyện sẽ hiện thực hóa lợi nhuận các khoản đầu t ư của mình thị trường chứng khoán. Sau ba năm đi vào ho ạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ có 14.500 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó chỉ có 90 nh à đầu tư tổ chức và 35 nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thì trong 14.500 tài khoản này thì chỉ có trên dưới 1.000 tài khoản chứng khoán là có giao dịch thường xuyên. Các thể chế tài chính trung gian vẫn còn quá ít ỏi. Tính đến cuối năm 2003, mới chỉ có 13 Công ty Chứng khoán, 2 Công ty Quản lý Quỹ Đầu t ư, 5 Ngân hàng lưu ký và 1 một Ngân hàng chỉ định thanh toán là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Các Công ty Chứng khoán hoạt động chủ yếu l à ở Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội. Lúc này, nghiệp vụ môi giới là nghiệp vụ chủ yếu của các Công ty Chứng khoán còn hoạt động của các nghiệp vụ khác (nh ư bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư…) hầu như còn rất hạn chế và nhỏ bé. Sự yếu kém của thị tr ường chứng khoán còn thể hiện ngay trong chức năng c ơ bản của nó là huy động vốn. Và chính các doanh nghiệp niêm yết trên sàn trong giai đoạn này cũng chưa có thói quen huy động vốn thông qua phát hành thêm cổ phiếu. Theo thống kê, thì đến cuối năm 2003, mới chỉ có 5 công ty niêm yết phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng th êm vốn điều lệ của doanh nghiệp. Năm 2004 được đánh giá là thời gian giá cổ phiếu dần hồi phục sau giai đoạn suy giảm trong các năm 2002 và 2003. Giao d ịch cổ phiếu trên sàn có xu thế ổn
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2