intTypePromotion=3

Đề tài: Vai trò của người phụ nữ Việt Nam

Chia sẻ: Manh Tuan | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:27

0
377
lượt xem
70
download

Đề tài: Vai trò của người phụ nữ Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài: vai trò của người phụ nữ việt nam', luận văn - báo cáo, khoa học xã hội phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Vai trò của người phụ nữ Việt Nam

  1. MỤC LỤC • Phần 1: Mở đầu • Phần 2: Vai trò của người phụ nữ qua các giai đoạn khác nhau  GĐ1: Phong kiến.  GĐ2 : Trong các cuộc kháng chiến ch ống th ực dân xâm lược. • Phần 3: Vai trò của người phụ nữ trong nền kinh t ế thị trường. • Phần 4: Quan điểm cá nhân về vai trò của người phụ nữ. • Phần 5: Kết luận
  2. LỜI MỞ ĐẦU Đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội luôn được bắt đ ầu tr ước h ết t ừ ph ạm vi gia đình và trong suốt cuộc đời của họ, gia đình là môi trường sống hết sức quan tr ọng. M ỗi gia đình luôn là một tế bào của xã hội, Vì vậy mà người phụ nữ trong gia đình cũng đ ược ví nh ư nh ững h ạt nhân của tế bào đó. Đồng thời, gia đình cũng là n ơi th ể hi ện th ực ch ất s ự bình đ ẳng và nâng cao đ ịa v ị của người phụ nữ. Có thể thấy những thay đổi về kinh tế - xã hội di ễn ra gần đây m ặc dù đã có tác động lên cả nam giới và phụ nữ nhưng những suy nghĩ, quan đi ểm, thái đ ộ c ủa con ng ười trong xã hội về vấn đề giới và vai trò vị trí của người phụ nữ dường như còn mơ hồ, chưa rõ nét. Như vậy, xã hội, nam giới và bản thân người phụ n ữ cần phải xác đ ịnh cho rõ vai trò, v ị trí c ủa phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện đại, nhất là trong giai đo ạn hi ện nay – giai đo ạn đ ất n ước đang trong xu thế hội nhập và phát triển. Phụ nữ Vi ệt Nam từ x ưa đ ến nay không ch ỉ bi ết đ ến vi ệc gia đình, sinh con đẻ cái, mà trong điều kiện lịch sử kinh t ế n ước ta, ch ị em luôn luôn làm tròn nhi ệm vụ của người lao động chân chính, người vợ, người m ẹ, người n ội tr ợ trong gia đình, chăm sóc con cái, người già và trong thời chiến họ đã làm tròn nhi ệm vụ c ủa người dân yêu n ước, ng ười n ữ chiến sĩ. Ngày nay, kế thừa những phẩm chất tốt đẹp c ủa người phụ n ữ truyền th ống, ph ụ n ữ Vi ệt Nam ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong gia đình và ngoài xã h ội. Đ ất n ước đang t ừng ngày đ ổi mới, người phụ nữ cũng mang trong mình một trọng trách, m ột vai trò quan tr ọng trong vi ệc duy trì tổ ấm của một gia đình. Họ đã và đang phấn đấu cho một gia đình ấm no và h ạnh phúc góp ph ần vào sự phát triển của xã hội. Chủ đề “Người phụ nữ”là chủ đề gây được sự chú ý của đông đảo các nhà nghiên c ứu, nhà phê bình, đã có rất nhiều tác phẩm và công trình nghiên c ứu v ề vấn đ ề này. Trong m ỗi tác ph ẩm và nghiên cứu đã đi lý giải vấn đề “phụ nữ” ở những khía cạnh khác nhau. Nhưng mỗi tác ph ẩm đ ều để lại cho người đọc những giá trị có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. “ Vai trò của người phụ nữ Việt Nam ” đang được coi là m ột đ ề tài khá m ới m ẻ và phong phú nhằm nâng cao vai trò và vị trí của người phụ n ữ trong gia đình nói riêng và xã h ội nói chung. Do vậy xuất phát từ mong muốn nâng cao và phát huy vai trò của người phụ n ữ Việt Nam trong gia đình hiện nay để khẳng định vị trí của người phụ n ữ trong gia đình nên em đã ch ọn đ ề tài:”Vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại kinh tế thị trường”. NỘI DUNG  Hình ảnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Ở Việt Nam, cũng như trong toàn thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, ng ười ta r ất coi trọng “truyền thống lịch sử”, trong đó có”truyền thống phụ n ữ” và “người ph ụ n ữ truyền th ống”.
  3. Có nhiều nguyên nhân lịch sử và văn hóa giải thích vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống. Văn minh Đông Nam Á bản địa có đặc tr ưng là văn minh nông nghi ệp đ ộc canh cây lúa, giống cây đòi hỏi nhiều công sức lao động thủ công đến n ỗi thành viên n ữ khó b ị g ạt ra ngoài lề sản xuất. Đông Nam Á cũng có chế độ mẫu hệ phổ biến và dai d ẳng; Anh hùng, b ất khuất, không chỉ trong đấu tranh vũ trang; trung hậu, đảm đang, không ch ỉ trong cu ộc s ống gia đình; người phụ nữ Việt Nam đã khẳng định mình trong nhiều lĩnh vực và cũng được th ừa nhận m ột cách đáng kể, khác biệt khá rõ so với láng giềng Á Đông như Trung quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Chế độ phụ quyền Nho giáo thiết lập nam tôn n ữ ti từ luật pháp, lệ làng đ ến luân th ường đ ạo lý. Nhưng tôn ti chính thống không hoàn toàn triệt tiêu th ực t ế ăn sâu t ừ c ội ngu ồn gia đình, làng xã. Người phụ nữ Việt Nam tham gia lao động sản xuất làm ra của cải vật chất và thường là ngu ồn yêu thương chăm sóc chồng con, đỡ đần cha già mẹ yếu, là chỗ d ựa cho gia đình v ề nhi ều ph ương diện. Mẹ hiền vợ đảm thì ai cũng hiểu là những người phụ n ữ Vi ệt lặn lội thân cò, ch ịu th ương chịu khó, thức khuya dậy sớm, cùng lúc làm nhiều việc mà việc nào cũng chu tất, vẹn toàn, là người giỏi giang, hiệu quả mà thầm lặng hy sinh. Vô số ca dao hát về tình yêu đôi lứa trong đó ph ụ n ữ là đối tượng yêu thương, mong nhớ, khát khao, cả giận hờn, oán trách hay th ương c ảm, xót xa. Ch ế độ phong kiến tập trung quyền hành vào ông Vua để thống tr ị nhân dân, và trong gia đình thì quy ền hành tập trung vào người đàn ông gia trưởng đề áp b ức ph ụ n ữ. T ừ Lu ật H ồng Đ ức đ ến Lu ật Gia Long là quá trình phát triển ngày càng phản động c ủa chế độ phong kiến đ ối v ới ph ụ n ữ. Nh ững cực hình, chỉ áp dụng riêng đối với phu nữ: thả bè trôi sông, gọt gáy bôi vôi, ng ựa xé, voi giày... Đến tuổi lấy chồng, người con gái không có quyền được lựa chọn người chồng. Với t ục “Cha m ẹ đặt đâu con ngồi đấy” và với lệ thách cưới người con gái trở thành một vật trao đổi mua bán. Một khi việc “gả bán” đã xong, người con gái rời nhà cha m ẹ, s ống cu ộc đ ời “xu ất giá tòng phu”, người vợ không còn giữ được địa vị tương xứng với vai trò c ủa mình trong gia đình, trái l ại còn bị ngược đãi đủ điều. “Lấy chồng từ thuở mười lăm, chồng chê tôi bé chẳng n ằm cùng tôi”, “Bảy mươi mười bảy bao xa, bảy mươi có của, mười ba cũng vừa” - Suốt đời họ ph ải ch ịu nh ững hậu quả tai hại về thể xác và tinh thần. Và, với quan niệm “tài trai lấy năm l ấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, những người phụ nữ nạn nhân c ủa chế đ ộ đa thê (b ất k ể là v ợ c ả hay vợ lẽ). Suốt đời chìm đắm trong những mối mâu thuẫn, bất hòa, khổ đau nhi ều khi ch ỉ vì nh ững chuyện rất vụn vặt. Khi người chồng chết, người phụ nữ mất h ết quy ền th ừa k ế tài s ản và ph ải phục tòng người con trai. Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng nghìn năm v ới nh ững quan ni ệm b ất công, khe khắt “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tong tử”, quan ni ệm tr ọng nam khinh n ữ “Nh ất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, đã dành mọi ưu tiên, ưu đãi cho người đàn ông và đ ẩy ng ười ph ụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đình cũng như xã hội. N ỗi ni ềm ấy đ ược h ọ gửi gắm vào những câu ca dao than thân: “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” “Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày” Có biết bao nhiêu nỗi khổ mà người phụ n ữ phải ch ịu đ ựng, n ỗi kh ổ v ật ch ất “ngày ngày hai buổi trèo non”, “ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương”. Nhưng n ỗi kh ổ l ớn nh ất, xu ất hi ện v ới t ần số cao nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thân phận mong manh, b ị đ ộng, ít giá tr ị. Những người phụ nữ ở đây bị “đồ vật hoá”, được định giá theo giá tr ị s ử d ụng. Thân ph ận h ọ ch ỉ được ví với “hạt mưa sa”. Ta có thể cảm nhận được bao n ỗi xót xa c ủa ng ười ph ụ n ữ khi c ất lên những lời ca ấy. Không phải người phụ nữ không ý thức được vẻ đ ẹp và phẩm giá đáng quý c ủa mình. Họ luôn ví mình với “tấm lụa đào”, “giếng nước trong”...nhưng những ph ẩm chất ấy đâu có được xã hội , người đời biết đến và coi trọng. Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam ch ịu trong s ự đau kh ổ, nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ n ữ trong xã h ội xưa là m ột h ằng s ố chung, ở tất cả các vùng miền. Có ai đó đã nói, n ếu dùng m ột t ừ đ ể nói v ề s ố ph ận c ủa nh ững người phụ nữ trong xã hội phong kiến thì đó là “tủi nhục”. Quãng th ời gian h ọ s ống trên đ ời đ ược
  4. đong đếm bằng những nỗi đau khổ mà họ phải gánh chịu. Khi còn nh ỏ, s ống trong gia đình, ng ười thiếu nữ đã phải chịu sự bất công của quan niệm “tr ọng nam khinh n ữ”. Khi đi lấy ch ồng, h ọ còn chịu thêm trăm điều cay cực. Quan niệm “xuất giá tòng phu”, “l ấy ch ồng làm ma nhà ch ồng” đã khiến bao người phụ nữ xa quê phải ngậm ngùi nuốt đắng cay, thấm thía n ỗi buồn, nh ớ khi nghĩ về quê mẹ: “Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về với mẹ mà không có đò” “Chiều chiều ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” Nhưng dù sống trong bất hạnh, tâm hồn người ph ụ n ữ v ẫn sáng lên l ấp lánh ánh sáng c ủa trái tim đôn hậu, cao thượng, vị tha. Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ trong tiếng hát than thân đ ầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của người phụ n ữ v ẫn v ươn lên, to ả sáng khi ến cho tiếng hát than thân kia không mang vẻ bi lụy mà vẫn to ả sáng, ấm áp tình đ ời, tình ng ười. Ca dao đã phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp đó của họ những con người thu ỷ chung son s ắt, giàu nghĩa tình.Người phụ nữ đảm đang, vị tha, chung thuỷ đã thể hiện cảm nghĩ của một cách gi ản d ị mà vẫn có sức cuốn hút lạ thường cả khi khó khăn họ vẫn nhẫn nại. Tóm lại, người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến chịu đựng rất nhiều đau kh ổ b ởi những quan niệm khắt khe của Nho giáo vì vậy họ không có chỗ đứng trong xã hội. Nhưng h ọ v ẫn cố gắng vươn lên sống tốt, sống đúng nghĩa của người phụ nữ Việt : đảm đang, chung thủy, son sắt, giàu tình nghĩa, chịu đựng và hy sinh cao cả.  Hình ảnh người phụ nữ trong các cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam c ổ truyền là người n ữ sĩ đ ấu tranh ch ống gi ặc ngoại xâm. Một nhà thơ đã viết: “Trên đất nước nghìn năm chảy máu, Nghìn năm người con gái vẫn cầm gươm” Từ thế kỷ III trước công nguyên, trong những thời kỳ mà s ử cũ g ọi là “B ắc thu ộc”, cùng v ới c ả dân tộc, những người phụ nữ Việt Nam đã kiên quyết đ ứng lên ch ống b ọn th ống tr ị ph ương B ắc để giành lấy quyền sống. Vì khi có nạn ngoại xâm, phụ n ữ là người trực ti ếp ch ịu h ậu qu ả n ặng nề nhất. Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tràn vào Thăng Long ”làm c ỏ nhân dân kinh thành”, vào thành Đông Đô, giặc Minh đã cướp bắt đàn bà con gái, m ỗ bụng đàn bà có thai, gi ết ch ết c ả m ẹ lẫn con, cắt tai đem nộp cho chủ tướng (năm 1909). Tướng giặc Trương Phụ bắt phụ nữ ta đưa về nước làm tôi đòi, tì thiếp (năm 1414). Nhà Minh ra lệnh buộc phụ n ữ Vi ệt Nam phải bím tóc, m ặc áo ngắn, quần dài, theo phong tục của chúng. Thế kỷ XVIII, gi ặc Mãn Thanh và lũ tai sai bán n ước trói phụ nữ vào cột ở giữa chợ, giết cả mẹ lẫn con vì họ đã đi theo nghĩa quân Tây Sơn... Mở đầu truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là hai v ị n ữ anh hùng dân t ộc: bà Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Đông Hán giành l ại quy ền t ự chủ cho đất nước. Chứng minh khả năng cách mạng to lớn của phụ n ữ: không nh ững chi ến đ ấu dũng cảm chống ngoại xâm mà còn động viên, đoàn k ết và lãnh đạo qu ần chúng r ất tài gi ỏi. Dân tộc ta, còn ghi nhớ những gương phụ nữ kiệt xuất (36 nữ tướng) cùng đ ứng lên v ới Hai Bà gánh vác sự nghiệp đánh giặc cứu nước. Các nữ tướng như Lê Chân được th ờ ở Hải Phòng. Thi ều Hoa được thờ ở Vĩnh Phú, Thánh Thiên được thờ ở Hà Bắc, Lê Thị Hoa đ ược th ờ ở Thanh Hóa... Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc với câu nói hào hùng đầy khí phách c ủa Bà: “Tôi mu ốn c ưỡi c ơn gió m ạnh, đ ạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để c ứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, ch ứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Tài làm tướng chỉ huy chi ến đấu ở trận ti ền của bà khiến giặc Ngô phải khiếp sợ gọi bà là Bà Vương (Vua Bà). Bà hàng n ước thành C ổ L ộng (Nam Hà) làm nội ứng cho nghĩa quân Nam Sơn của Lê Lợi – Nguy ễn Trãi h ạ thành. Và nhi ều ph ụ nữ khác ở thời Trần, thời Lê, thời Tây Sơn đã trực ti ếp đánh gi ặc theo nhi ều cách. Đ ấy là nh ững
  5. người phụ nữ ở ven sông Bạch Đằng, đem hết thóc gạo trong nhà lương ăn cho quân sĩ, và mách Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giờ nước thủy triều của dòng sông quê hương, giúp nhà Tr ần lập nên chiến công sông Bạch Đằng lẫy lừng. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta và cấu kết với phong kiến thống tr ị nhân dân ta, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã cùng với dân tộc, phát huy truyền th ống đánh gi ặc c ứu n ước. Ng ười phụ nữ Việt Nam, không những chỉ xuất hiện khi vận n ước lâm nguy mà ngay c ả trong đ ấu tranh dưới mọi hình thức chống áp bức bất công. Sự phản kháng ch ế đ ộ phong ki ến, l ễ giáo Kh ổng Mạnh khi âm thầm, lúc quyết liệt diễn ra suốt hàng nghìn năm. Từ giữa thế kỷ XIX, tri ều đình nhà Nguyễn phản động đã đầu hàng nhục nhã khi thực dân Pháp xâm l ược n ước ta. N ước ta đã tr ở thành một nước thuộc địa và nửa phong kiến. Cảnh ngộ người ph ụ n ữ Vi ệt Nam trong g ần 100 năm bị thực dân Pháp thống trị lại càng bi đát. Trong gần 100 năm th ống tr ị đ ất n ước ta, th ực dân Pháp dìm cả dân tộc ta vào cuộc sống nô lệ, đói nghèo lạc hậu, dốt nát mê tín. Chúng m ở sòng bạc, nhà chứa, tiệm nhảy nhiều hơn bệnh viện, nhà hộ sinh, cấm ngặt sách báo ti ến b ộ, cho t ự do tiêu thụ rượu, thuốc phiện. Trước cảnh nước mất nhà tan, quyền sống bị tước đoạt nhân phẩm bị chà đạp, nhiều phong trào yêu nước đã nổi dậy phong trào nào cũng ph ụ n ữ tham gia đông đ ảo. Tuy nhiên các phong trào đó đều thất bại không có đường lối và ph ương h ướng gi ải phóng dân t ộc đúng đắn. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên đưa ánh sáng c ủa ch ủ nghĩa Mác - Lênin đến cho dân tộc ta, phu nữ . Toàn thể nhân dân Việt Nam bị áp bức bóc lột, trong đó giai c ấp công nhân và giai cấp nông dân là lực lượng chủ yếu vùng dậy đấu tranh ch ống b ọn th ống tr ị th ực dân phong kiến. Phụ nữ Việt Nam chiếm số đông trong nhân dân lao đ ộng không nh ững b ị áp b ức v ề dân tộc, về giai cấp mà còn bị giáo lý phong ki ến kìm hãm trói bu ộc, nên h ọ có tinh th ần đ ấu tranh cách mạng mạnh mẽ. Có phụ nữ tham gia thì cách mạng m ới thành công, m ặt khác, ch ỉ khi nào cách mạng thành công, dân tộc được độc lập, giai cấp được gi ải phóng, thì phụ n ữ m ới đ ược gi ải phóng. Những luận điểm trên đây của chủ nghĩa Mác - Lênin đ ược vận d ụng vào đi ều ki ện Vi ệt Nam trở thành nội dung tư tưởng chính trị của các tổ chức tiền thân những năm 1928 - 1929 và các đoàn thể quần chúng. Tư tưởng ấy thâm nhập vào các phong trào của công nhân, nông dân, h ọc sinh, buôn bán nhỏ đã trở thành động lực tinh thần cổ vũ các phong trào ấy tiến lên m ạnh m ẻ. T ừ đấy, phụ nữ Việt Nam cùng với toàn thể dân tộc đã có phương hướng hoạt động cứu nước rõ ràng: Cách mạng giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ. Chiến tranh đã đi qua nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong những ca khúc vi ết trong kháng chiến chống Mỹ đã đủ sức dựng lại giá trị chân thực c ủa người ph ụ n ữ Vi ệt Nam trong l ửa đ ạn. Năm 1967, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, Nguyễn Văn Tý đã viết bài Ti ễn anh lên đ ường khắc họa hình ảnh người phụ nữ đồng bằng khi tiễn đưa chồng đi đánh giặc. B ằng chất Chèo, với giai điệu giản dị, lời ca mộc mạc đã khắc h ọa tâm t ư người v ợ h ậu ph ương: "Yên tâm v ững bước mà đi/ Hỡi người mà em yêu/ Việc nhà việc n ước có bao nhiêu em sẽ làm tròn". Và h ọ đã thật sự làm thay cho chồng: "Anh thấy chưa/ Chúng em học cày rồi/ Này ch ớ có lo mùa t ới/ Đây thiếu những người cuốc bẫm cày sâu". Cũng như Nguyễn Văn Tý, nhạc sĩ An Chung đã nhìn th ấy niềm vui của người phụ nữ với công việc đồng áng trong ca khúc Đường cày đảm đng. Nh ững cô gái quan họ của anh hiện lên lung linh: "Quê hương ta bi ết bao nhiêu cô gái xinh đ ẹp đ ảm đang/ Việc nước, việc nhà vẹn toàn/ Nắng mưa nhọc nhằn vẫn tươi duyên…". Nét t ươi duyên đó, pha chút kiêu hãnh được tìm thấy ở ca khúc Bài ca Hà Nội. Chi ến tranh d ường nh ư nh ường b ước cho tâm hồn bay bổng của cô gái Hà Nội: "Ơi cô gái/ Súng trên vai sao vuông đ ầu mũ/ Em đi v ề đâu, mà mắt em tươi sáng/Em đi về đâu, mà chân bước hiên ngang/ Nh ững hôm mi ệt mài trên bãi t ập/ Chiến công này hẳn có tay em…". Với chất liệu Tây Bắc nhất là t ừ đi ệu hát then, Văn Ký đã làm hiện lên người phụ nữ dân tộc duyên dáng nhưng không kém phần vất vả trên m ặt tr ận di ệt gi ặc dốt qua bài Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi: "Cô tìm ai?/ Tìm người yêu đang đ ứng đ ợi bên b ờ suối chắc?/ Không! Không ! Không !/ Cô đi tìm dạy đàn em nh ỏ ch ưa bi ết ch ữ trên đ ỉnh núi cao …". Ở miền Nam, trên tuyến đầu chống Mỹ, hình ảnh người ph ụ n ữ hi ện lên qua các ca khúc th ật sống động. Đó là Bài ca nữ anh hùng miền Nam c ủa Lê Lôi, T ải đ ạn ra chi ến tr ường c ủa Thanh
  6. Anh, Rừng xanh vang tiếng ta lư của Phương Nam…Họ hi ện lên thật hiên ngang, bất khu ất tr ước kẻ thù. Phụ nữ đồng bằng rồi phụ nữ đô thị đánh gi ặc. Phụ nữ Tây Nguyên cũng đánh gi ặc, ch ẳng thua kém ai. Hẳn ai cũng nhớ tới bài hát Cô gái vót chông của Hoàng Hi ệp vang lên r ộn ràng, t ươi nhộn. Rồi nhớ đến Bóng cây Kơ-nia của Phan Huỳnh Điểu. Người con gái Tây Nguyên lên rẫy nhớ chồng nơi xa vẫn một lòng chung thủy son sắt với Đảng và Cách mạng.Có thể nói qua ca khúc viết về phụ nữ trong thời kỳ chống Mỹ, đã hiện lên hình ảnh bất khuất, trung hậu, đảm đang c ủa ph ụ nữ Việt Nam xưa và nay. Còn bao nhiêu hình ảnh khác được khắc h ọa ở Cô gái m ở đ ường c ủa Xuân Giao, Chào em cô gái Lam Hồng của Ánh Dương… th ể hiện nh ững người ph ụ n ữ c ủa m ột thời kỳ anh hùng đã qua. Bản chất của người phụ nữ bất kể thuộc dân t ộc nào, th ời đại nào, đ ều yêu hòa bình, s ản sinh và nuôi dưỡng những con người của các thế hệ nối ti ếp nhau, và hầu như đ ều có chung m ột nguyện ước: loài người sống bình an bên nhau. Chiến tranh đã đem đ ến cho ng ười ph ụ n ữ ở b ất cứ đất nước nào, những đau khổ lớn hơn nam giới gấp nhiều lần. Vi ệt Nam có câu "gi ặc đ ến nhà, đàn bà cũng đánh". Khi người phụ nữ bắt buộc phải cầm vũ khí thì ý nghĩa c ủa cu ộc chi ến đ ấu đó thật là sâu sắc, vì họ cầm vũ khí chính là để bảo vệ hòa bình, gi ữ gìn s ự s ống cho nh ững con người chân chính mà họ đã sinh ra, chống lại những thế lực phi nhân mu ốn h ủy ho ại con ng ười. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt nam, phụ nữ miền Nam là l ực lượng xung kích, là "đội quân tóc dài" trên mặt trận đấu tranh chính trị; trong đ ấu tranh vũ trang, phụ nữ miền Nam cũng không kém nam giới về mưu trí và lòng dũng c ảm. "Người m ẹ c ầm súng", đó là một biểu tượng dường như nghịch lý, nhưng rất chân thực, thể hiện sự hòa hợp của tính chất rất anh hùng mà cũng rất mực nhân hậu trong người phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ Việt Nam "giỏi việc nước, đảm việc nhà" Trong những năm đen tối ở miền Nam, phụ n ữ phải gánh ch ịu nhi ều đau kh ổ do các chính sách hà khắc, man rợ của địch, là người đấu tranh ngoan c ường, chẳng nh ững trên lĩnh v ực đ ấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đồng th ời còn gi ữ vai trò quan tr ọng trên t ất c ả các lĩnh v ực âm th ầm khác trong cuộc đấu tranh trường kỳ. - Che giấu, nuôi dưỡng cán bộ: Vào những năm đầu dưới chính quyền Ngô Đình Di ệm, nhân dân mi ền Nam s ống trong không khí ngột ngạt bởi chính sách khủng bố đàn áp, truy lùng Việt cộng. Chúng muốn bi ến nhân dân miền Nam thành lực lượng chống đối cách mạng. Nhưng nhân dân, nhất là ph ụ n ữ, ch ị em đã dùng trăm phương nghìn kế để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cách mạng. Giặc bắt chị em đi truy cán b ộ, khi gặp cán bộ, chị em không tri hô, không chỉ gi ặc bắt mà còn tìm m ọi các đ ể ch ỉ đ ường cho cán b ộ chạy trốn, ẩn nấp. Trong nhà tù, giặc đánh đập, tra tấn bắt khai báo, ch ị em th ề chết không khai, không nhìn mặt. Trong thôn, ấp phường, khóm, lợi dụng thế công khai h ợp pháp, ch ị em v ận đ ộng tổ chức những đội dân canh chống cướp bảo vệ xóm làng, thực chất là tổ chức bảo vệ che giấu cán bộ, trừng trị bọn đi lùng sục tìm bắt cán bộ. Khắp miền Nam, không n ơi nào l ại không có nh ững hình ảnh người phụ nữ, dù bị địch thường xuyên bao vây, rình mò, vẫn ng ụy trang đón cán b ộ vào nhà, đào hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn nuôi dưỡng, che gi ấu ho ặc ti ếp t ế l ương th ực, th ực phẩm cho lực lượng cách mạng ở khu du kích. Có biết bao nhiêu tấm gương chói l ọi trong lĩnh v ực này như mẹ Huỳnh Thị Lục dân tộc Châu Mạ (Tây Ninh), m ẹ Nguy ễn Th ị Rành ở C ủ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh), mẹ Nhu, mẹ Cộng (Quảng Nam - Đà Nẵng), m ẹ Th ạch Th ị Thanh (Trà Vinh), má Nguyễn Thị Nhâm người mang mật danh JB4 (Đồng Nai).v.v... - Phục vụ chiến trường: Khi chiến tranh mở rộng, chiến trường đòi hỏi một đ ội ngũ dân công đông đ ảo đ ể ph ục v ụ chiến đấu. Số đông dân công đó là phụ nữ, nhất là n ữ thanh niên, đ ược t ổ ch ức trong các đ ội: n ữ dân công, nữ thanh niên xung phong. Chị em làm các việc cấp dưỡng, nuôi quân, ti ếp t ế đ ạn d ược, tiếp tế lương thực, tải thương, xây dựng công sự chuẩn bị chiến trường... Ưu điểm nổi bật c ủa các đội nữ dân công, nữ thanh niên xung phong là bám sát tiền duyên, nhanh chóng đ ưa th ương binh, t ử sĩ về tuyến sau, biểu lộ một tình yêu thắm thiết và tinh thần trách nhiệm cao. Về n ữ dân công không thể không nhắc đến đội xe đạp thồ gồm 22 chị em ở Sông Bé, ho ạt đ ộng t ừ năm 1967 đ ến
  7. năm 1971, vượt qua bom đạn và muôn vàn khó khăn thiếu thốn đã đưa từ hỏa tuyến v ề phía sau an toàn trên 100 thương binh, vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, l ương th ực, đ ạn d ược cho chi ến trường. Các đội nữ dân công thường trực của từng xã thuộc các t ỉnh Bình D ương, Tây Ninh, Bà Rịa... các đơn vị nữ ở các tiểu đoàn vận tải thuộc Khu 8, Khu 9; các đ ội n ữ thanh niên xung phong miền Tây đi phục vụ chiến trường với khẩu hiệu: "xung phong đi tr ước, v ượt m ọi gian nguy, đâu cần cũng đi, tiến lên hoàn thành nhiệm vụ". Đặc bi ệt các đ ội n ữ dân công ph ục v ụ trên tuy ến đường Trường Sơn đảm bảo chi viện của miền Bắc cho miền Nam, trong đó t ấm gương c ủa ch ị em người Thượng thật đáng kính và xúc động: Có chị em trước ngực địu con, sau l ưng cõng hàng mà vẫn tháng ngày thoăn thoắt trên đường rừng núi như những chiến sĩ chân đ ồng vai s ắt. Nhi ều chị em vận tải hàng với khối lượng của mình mà vẫn đảm bảo đi đến n ơi đ ến ch ốn, lập nên nh ững kỷ lục kỳ diệu. Trên các đường dây giao liên, đặc biệt là giao liên công khai trên chi ến tr ường đô thị, vai trò đặc biệt của phụ nữ không thể nào thay thế được. Không thể không nhắc tới 10 cô gái thanh niên xung phong ở Ngã ba Đồng Lộc hi sinh tuổi trẻ c ủa mình cho s ự nghi ệp gi ải phóng dân tộc - Chăm lo công tác hậu phương: Trong khi nhân dân miền Nam dồn sức cho tiền tuyến đánh địch, phụ nữ mi ền Nam là lực lượng sản xuất chủ yếu ở nông thôn, gánh vác công việc đồng áng dưới bom đạn và chất độc hóa học của địch, đảm bảo cung cấp lương thực, vừa nuôi gia đình, vừa đóng góp cho cách m ạng. Khi cách mạng mở rộng vùng giải phóng, đông đảo phụ n ữ đã tham gia công tác xây d ựng và b ảo v ệ chính quyền cách mạng, quản lý xóm làng. Tỷ lệ phụ n ữ trong nhiều hội đ ồng nhân dân và ủy ban gi ải phóng là 40%. Các chị vừa lo việc nước vừa gách vác việc nhà thay chồng nuôi con, làm tròn thiên chức làm mẹ với con cái, thủy chung với chồng thoát ly đánh gi ặc. Ph ụ n ữ Vi ệt Nam gi ỏi vi ệc nước, đảm việc nhà thật xứng đáng với tám chữ vàng: " Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang". Phong trào phụ nữ miền Nam trong những năm chống M ỹ c ứu n ước th ực ch ất là m ột cu ộc vận động cách mạng sâu sắc và rộng lớn nhất của gi ới n ữ, th ể hi ện đ ược s ự kết h ợp hài hòa gi ữa ba mặt: dân tộc, giai cấp và giới; là một bộ phận khắng khít c ủa phong trào cách m ạng r ộng l ớn của nhân dân miền Nam, nhân dân Việt Nam nói chung, đấu tranh cho m ục tiêu th ống nh ất n ước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân ta đ ời đ ời bi ết ơn những bà mẹ Việt Nam chẳng những "đã sản sinh ra và c ống hi ến cho T ổ qu ốc nh ững ng ười con ưu tú đã và đang chiến đấu anh dũng, bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta đ ể l ại" mà t ự mình đã cống hiến cho Tổ quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt v ời để đánh đu ổi b ọn gi ặc ngo ại xâm giải phóng đất nước, bảo vệ nền độc lập tự do của T ổ quốc, nêu những g ương sáng cho con cháu mai sau. Ở khu vực Á Đông, hiếm có dân tộc nào phụ nữ lại đóng vai trò quan tr ọng trong xã h ội như ở Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ph ụ n ữ Vi ệt Nam đã có nh ững đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất n ước. Ngay từ những bu ổi đ ầu l ập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà Trưng bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đu ổi quân thù. Thế kỷ 20, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không ti ếc máu xương, sẵn sàng chi ến đ ấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập tự do c ủa T ổ qu ốc. Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó đ ể v ượt lên c ảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và đàng hoàng h ơn. Đảng, Bác H ồ phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung h ậu, đảm đang” trong th ời kỳ kháng chiến và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam. Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ
  8. nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò c ủa ph ụ n ữ Vi ệt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam.  Phụ nữ Việt Nam trong nền kinh tế thị trường Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế gi ới, trong công cu ộc xây d ựng đ ất n ước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, phụ n ữ Vi ệt Nam ti ếp t ục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Vai trò này đang đ ược khẳng đ ịnh một cách rõ nét hơn bao giờ hết Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan tr ọng c ủa người ph ụ n ữ trong gia đình. H ọ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định c ủa gia đình. Là ng ười v ợ hi ền, h ọ luôn hi ểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi cũng như những đắng cay cùng ch ồng, khi ến ng ười ch ồng luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã h ội. Không ch ỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thi ết th ực giúp ch ồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng. Là nh ững người m ẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo. Người m ẹ ngày nay còn là m ột người bạn lớn luôn ở bên con để hướng dẫn, động viên kịp thời. Bất c ứ ai trong chúng ta đ ều có thể tìm thấy ở những người phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm h ồn và s ự cân b ằng bình yên trong cuộc sống. Chính họ đã ti ếp sức cho chúng ta v ượt qua nh ững khó khăn đ ể s ống m ột cuộc sống hữu ích. Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan tr ọng trong gia đình, ng ười ph ụ n ữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Ngày càng có nhi ều người tr ở thành chính tr ị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động … Trong nhi ều lĩnh v ực, sự có m ặc c ủa ng ười ph ụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công ngh ệ d ịch v ụ … Theo H ội Liên hi ệp Phụ nữ Việt Nam, sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành động của H ội ngh ị th ế gi ới l ần th ứ 4 v ề phụ nữ tại Bắc Kinh, vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Hiện nay, ph ụ n ữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát tri ển c ủa đất n ước, th ể hi ện ở s ố n ữ chi ếm t ỉ l ệ cao trong lực lượng lao động. Với hơn 50% dân số và gần 50% lực l ượng lao đ ộng xã h ội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực c ủa đ ời s ống xã h ội và gi ữ nh ững ch ức v ụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Chỉ cần điểm qua m ột vài con số: Hi ện có t ới 33,1% đ ại bi ểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong nh ững n ước có t ỷ l ệ n ữ đ ại bi ểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%. Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; ti ến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo n ữ cũng ước tính tới gần 30%. Ph ụ n ữ chi ếm ưu th ế trong m ột số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, ph ụ n ữ chi ếm s ố đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa h ọc t ự nhiên và kinh t ế. N ếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn r ất nhi ều so v ới nam gi ới. Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. S ố h ộ nghèo do ph ụ n ữ làm ch ủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004.... Đây là những con s ố sinh đ ộng, là b ằng ch ứng chứng minh hiệu quả của những chính sách l ớn của Đảng và Nhà n ước đã t ạo đi ều ki ện cho ph ụ nữ Việt Nam phát triển Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ N ữ Vi ệt Nam Trong Th ế K ỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và Hội phụ nữ Vi ệt Nam t ổ ch ức d ưới s ự h ỗ tr ợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Vi ệt Nam Hà Th ị Khi ết đã tôn vinh người phụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung c ủa đất n ước, có s ự đóng góp tích c ực c ủa các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. Là một lực lượng lao động xã hội đông đ ảo, ph ụ n ữ Vi ệt Nam đã t ỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời s ống xã h ội, thích ứng v ới s ự hội nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân lo ại”. Nh ư vậy có th ể nói, trong xu th ế h ội nh ập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội. Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động c ứng nhắc theo gi ới, cho phép ph ụ n ữ tham gia vào
  9. nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có th ể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhi ều th ời gian nhàn r ỗi h ơn đ ể tham gia vào các hoạt động khác. Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên th ị tr ường lao đ ộng v.v… Chính nhờ Đảng có sự lựa chọn đường lối đúng đắn cho s ự phát tri ển c ủa đ ất n ước mà vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam không ngừng đ ược nâng cao. Tuy nhiên, đó cũng ch ỉ mới là những bước khởi đầu thuận lợi. Hiện thời chúng ta v ẫn còn nhi ều h ạn ch ế c ần ph ải đ ược khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới, nhất là về mặt tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể cả nam giới và nữ giới. Không chỉ có nam giới chưa nhận thức hoặc có thái đ ộ không chấp nhận vai trò, vị trí của phụ nữ mà ngay chính bản thân nhi ều ph ụ n ữ cũng hi ểu bi ết m ơ h ồ t ừ đó có những thái độ lệch lạc và không thể có cách gi ải quyết đúng đ ắn các v ấn đ ề n ảy sinh trong cu ộc sống có liên quan đến vai trò, vị trí về gi ới của mình. Bà Rose Marie Greve, Giám đ ốc T ổ ch ức Lao động quốc tế (ILO) trong buổi tọa đàm “Vai trò của Phụ n ữ Vi ệt Nam trong th ế k ỷ XXI” nói trên, đã từng nhận định: “Đã đạt được rất nhiều thành tựu, nh ưng phía tr ước chúng ta v ẫn còn nhi ều việc phải làm. Bất bình đẳng giới vẫn còn là một trong những nguyên nhân chính d ẫn đ ến đói nghèo và là một trong những cản trở cho sự phát tri ển bền v ững. Người ph ụ n ữ c ần ph ải đ ược b ộc lộ hết khả năng của mình cũng như thực thi và hưởng các quyền của mình. Thiếu bình đẳng về giới gây cản trở cho phát triển và ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các thành viên trong gia đình và xã hội”. Người phụ nữ chịu sự tác động của của môi trường xã hội và ngược lại, người phụ n ữ cũng tác động tới sự vận động của xã hội. Sự tác động c ủa xã hội đ ối v ới ph ụ n ữ bao g ồm c ả hai m ặt: tích cực và tiêu cực. Người phụ nữ của thời hiện đại càng không thể tách rời với thực tế gia đình và xã hội. Bởi chính tại hai môi trường này, người phụ nữ m ới thể hiện, th ực hi ện đ ược những ch ức năng của mình. Điều cần làm là làm sao để gia đình và xã h ội tạo đ ược nh ững đi ều ki ện thu ận l ợi nhất cho phụ nữ phát huy được khả năng của mình. Đó là: người ph ụ n ữ có công vi ệc ổn đ ịnh đ ể đảm bảo cuộc sống, có cơ hội học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, các đoàn thể, câu lạc bộ, có thời gian h ưởng th ụ văn hóa, văn nghệ, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp cho bản thân... Hiện nay, những thành tựu khoa h ọc k ỹ thu ật hiện đại đã phần nào hỗ trợ người phụ nữ trong công việc nội trợ, gi ảm bớt sức lao đ ộng c ủa người phụ nữ trong gia đình. Song, phụ nữ vẫn là người làm chính công vi ệc nhà, t ừ vi ệc b ếp núc tới việc dạy dỗ con cái, chăm lo đời sống tinh thần cho các thành viên trong gia đình. C ộng v ới th ời gian làm việc ngoài xã hội, quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ các giá tr ị văn hóa tinh th ần, vi ệc học tập nâng cao trình độ kiến thức của phụ nữ là rất hiếm hoi, thậm chí ở một s ố đ ối t ượng ph ụ nữ như công nhân, buôn bán, quỹ thời gian này gần như không có. Bên cạnh đó, nguy cơ bạo l ực gia đình đang là mối đe dọa cho một số không nhỏ phụ n ữ. Trong khi đó, ở đâu b ạo l ực gia đình xu ất hiện, ở đó đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ bị tổn th ương. Đ ể ng ười ph ụ n ữ đ ảm đ ương được vai trò của mình, đồng thời phát huy được hết khả năng bản thân để phát tri ển trong th ời hi ện đại, yếu tố tự thân của mỗi phụ nữ là rất quan trọng. Chỉ khi nào tính tích c ực, ch ủ đ ộng c ủa ng ười phụ nữ được khơi dậy, phụ nữ mới vừa có thể đảm đương tốt công việc ngoài xã h ội, v ừa duy trì được mối quan hệ gia đình bền chặt, một tổ ấm hạnh phúc. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Thực tế một xã hội văn minh hiện đại và phát tri ển bền vững phải đ ược xây d ựng trên m ột n ền nếp xã hội kỷ cương với những chuẩn mực giá trị truyền thống lành m ạnh. Gia đình là t ế bào c ủa xã hội. Người phụ nữ vẫn không được đánh giá là thành đạt nếu như họ không có tình yêu và m ột cuộc sống gia đình hạnh phúc. Với phụ nữ, hạnh phúc gia đình gần nh ư là t ất c ả. Có h ạnh phúc gia đình, người phụ nữ sẽ thăng hoa cả về trí tuệ lẫn nhan sắc. Để làm đ ược đi ều này, kh ối óc m ẫn tuệ và sự nhạy cảm của con tim phải là nơi thức tỉnh m ọi tình cảm; là n ơi làm cho trái tim gia đình tràn đầy tình yêu thương và hạnh phúc; nơi để người ch ồng sẻ chia; n ơi chăm sóc, góp ph ần giáo dục, khích lệ chồng con làm những việc tốt đẹp cho đời. Người gi ữ vai trò r ất r ất quan tr ọng trong việc chèo lái con thuyền đi đến bến bờ hạnh phúc. Đối với con, là người thầy đầu tiên t ạo d ựng cho con m ột n ền móng, m ột nhân cách s ống. Phụ nữ với vai trò làm mẹ sẵn sàng xông pha vào cuộc đời không ngại gian lao, khó nh ọc, nghi ệt
  10. ngã để trang bị cho con một tương lai sáng rỡ; phải làm được m ột vầng trăng thu huyền di ệu soi sáng những đêm thâu, tình yêu của mẹ như núi cao v ời v ợi, lòng bao dung c ủa m ẹ nh ư đ ại d ương sâu thẳm, đôi mắt của mẹ làm vì sao dẫn lối cho con trẻ vào đ ời. M ẹ là ngu ồn m ạch quê h ương... Tình mẹ thương con phải là “Thời xuân xanh của một đời, thương con chẳng nhớ đánh rơi khi nào”. Với vai trò ấy ta dễ dàng nhận ra tầm vóc cao đẹp về tình cảm, đ ức h ạnh, sức kho ẻ và trí tu ệ c ủa phụ nữ. Tất cả những yếu tố âý đến với phụ nữ như một cái duyên và nhờ cái duyên ấy mà ph ụ n ữ trở thành người khéo léo, biết lo toan, tươm tất mọi bề: từ cái ăn, cái mặc, đ ến h ọc hành, vui ch ơi, giải trí của mỗi thành viên trong gia đình. Có thể nói rằng, dù ở bất kỳ thời đại nào, phụ nữ muôn đời vẫn là phụ nữ với đầy đủ thiên chức làm mẹ, làm vợ, sinh thành và nuôi dưỡng con cái, tạo môi tr ường, đi ều ki ện thuận l ợi nh ất đ ể người chống có được vị trí xuất sắc nhất trong xã hội. Vai trò của người phụ nữ ngoài xã hội. Trải qua nhiều thời đại, càng ngày n ền văn minh c ủa con người càng ti ến b ộ. Cũng chính vì th ế mà vai trò của phụ nữ cũng thay đổi theo. Với quan ni ệm cho r ằng ng ười đàn bà ph ải ở nhà trông con, lo việc nội trợ hình như không còn phù hợp ở thế kỷ 21 này. Trong thời đại m ới, người ph ụ n ữ ngoài việc thực hiện trọn thiên chức của mình, phải không ngừng h ọc h ỏi, rèn luy ện đ ể tr ở thành người có văn hoá, hoàn thiện về tri thức, có kỹ năng s ống và khả năng bi ết tính toán, d ự li ệu, thông minh, linh hoạt, có sức khoẻ tốt để tiếp cận, nắm bắt kịp thời kiến thức khoa học đ ể ph ục v ụ cho mọi công tác. Phải nói rằng, khi xã hội có bình đẳng gi ới, một tầng l ớp ph ụ n ữ m ới hình thành. Đó là những phụ nữ nhận thức rõ vai trò của mình đối với c ộng đ ồng. Họ không ng ừng nghiên c ứu, trau dồi khả năng và không ít người trong số họ đã đ ạt đ ến nh ững đ ịa v ị r ất cao trong m ọi lĩnh v ực. Trong cách mạng ta không bao giờ quên nữ chi ến sỹ c ộng sản Nguyễn Th ị Minh Khai, n ữ AHLLVT Võ Thị Sáu, người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Đ ồng kh ởi Nguyễn Th ị Đ ịnh. Và hi ện nay, trên lĩnh vực chính trị không ai không biết Bà Michelle Bachelet T ổng thống Chi Lê, bà Merkel Th ủ tướng Đức; ở lĩnh vực khoa học có nhà khoa học n ữ Hyde c ủa môn sinh lý h ọc, bà Mari Curie 2 l ần đạt giải Nobel về vật lý và hoá học... Ngay trong thành ph ố chúng ta, đã có nhi ều ch ị gi ữ ch ức v ụ rất quan trọng trong bộ máy tổ chức của Đảng, đi ều hành c ủa chính quy ền và các ch ị đã hoàn thành chức trách của mình. Tôi cho rằng người phụ n ữ thành đạt h ọ có đi ều ki ện chia s ẻ gánh n ặng tr ụ cột kinh tế gia đình với chồng, là nhà giáo dục có ki ến th ức c ủa các con. Ng ười ph ụ n ữ hi ện đ ại có tác phong, thái độ ứng xử, giao tiếp cũng như phương pháp giải quyết mọi vấn đề đầy cá tính. H ọ giàu nghị lực, bản lĩnh, sẵn sàng đương đầu v ới những khó khăn th ử thách trong cu ộc s ống. H ọ năng động, tự chủ, độc lập, không lệ thuộc hay ỷ lại vào người khác. Họ bi ết tranh th ủ s ự ủng h ộ động viên nhiệt tình của gia đình và đồng nghi ệp để biến những ước m ơ, những đam mê c ủa mình thành hiện thực. Trong xã hội cũng như trong gia đình, họ luôn phấn đấu cho s ự bình quy ền. Và như thế phụ nữ đã và đang trở thành một nguồn nhân lực trong xã hội chẳng thua kém gì nam gi ới. (g ần đây, độ tuổi về hưu của các lao động n ữ được nâng từ 55 tu ổi lên 60 tu ổi. Chính ph ủ cũng phát động chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cho 10 năm t ới, chi ến l ược t ập trung ph ản ánh các quyền của phụ nữ trong công tác giáo dục, chăm sóc sức kho ẻ cũng nh ư vai trò chính tr ị và lãnh đạo của phụ nữ. Đó là điều kiện, là cơ hội để phụ nữ dễ dàng c ống hi ến, thăng ti ến, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Và mặc nhiên, không một ai không cảm thán về vẻ đẹp vô ngần của tình c ảm, s ự thu ần khi ết và cao quý về đức hạnh, sự mẫn tuệ và khả ái của tâm hồn của ph ụ n ữ. Chính vì v ậy, tôi cho r ằng t ất cả phụ nữ chúng ta hôm nay, ai ai cũng khát khao vươn đến điểm sáng của ĐỨC, TÂM, TRÍ đ ể tr ở thành thành người phụ nữ “Năng động, sáng tạo, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ CNN, HĐH đất nước.  Quan điểm cá nhân về vai trò người phụ nữ NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI KHÓ KHĂN CỦA PHỤ NỮ HIỆN NAY  Bất bình đẳng
  11. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam hi ện nay v ẫn còn khá l ớn, m ột b ộ ph ận nam gi ới vẫn cho rằng: sinh ra là phận gái thì phải phục tùng đàn ông trên c ả hai ph ương di ện gia đình và xã hội. - Trong phân công lao động gia đình: Theo kết quả điều tra xã hội học của Trung tâm nghiên c ứu khoa h ọc v ề gia đình và ph ụ n ữ ti ến hành năm 2002 thì trong gia đình hiện nay, người vợ là người làm chính các công vi ệc nhà. th ực phẩm chăm sóc con cái. Người đàn ông có tham gia vào các công vi ệc gia đình nhưng v ới t ỷ l ệ r ất thấp,.Kết quả nghiên cứu trên cho thấy những người vợ nông thôn làm việc nhà v ới t ỷ l ệ cao h ơn hẳn so với những người vợ ở thành phố. Nghĩa là sự bất bình đẳng giới trong công vi ệc gia đình có sự chênh lệch giữa các khu vực…Thời gian làm việc của người vợ ít nhất là ba gi ờ tr ở lên m ỗi ngày, chiếm 64.5%, trong khi đó tỷ lệ này ở người chồng là 14%. Chúng ta hãy th ử làm m ột phép tính đơn giản, nếu mỗi ngày người phụ nữ bỏ ra từ 3 đ ến 10 ti ếng cho công vi ệc gia đình thì trong suốt cuộc đời họ sẽ mất 2/3 quãng đời vào những công việc “không tên” đó. Ng ười ph ụ n ữ cùng tham gia lao động xã hội như nam giới nhưng lại là người “nghệ sĩ đ ộc di ễn” trên sân kh ấu gia đình. - Trong việc làm: Ở Việt Nam, số nam giới làm cán bộ quản lý cao hơn năm lần so v ới n ữ gi ới. Các gia đình mong muốn có con trai, đặc biệt là con đầu lòng, đây là một trong các nguyên nhân d ẫn t ới t ỷ l ệ phá thai nữ rất cao ở Việt Nam, và sự mất cân bằng gi ới tính. Theo th ống kê m ới nh ất, t ỷ l ệ tr ẻ em nam/n ữ hiện tại là 120/100, dự báo đến năm 2030, sẽ mất cân bằng giới tính trong hôn nhân (thừa nam thiếu nữ). Còn nhiều phụ nữ phải làm trong các ngành nghề độc hại không phù hợp. - Trong giáo dục: Bình đẳng giới trong GD&DT còn nhiều vấn đề cần xem xét. Về khách quan, việc nhìn nhận vai trò của nữ giáo viên chưa đúng, nhiều Hiệu trưởng không muốn nhận giáo viên là n ữ vì s ợ liên quan đến chế độ nghỉ sinh nở, con đau ốm ảnh hưởng đến vi ệc gi ảng dạy, ho ặc khi đ ề b ạt, c ử đi h ọc còn e dè trong việc chọn nữ giáo viên. Trẻ em gái ít cơ hội được đến tr ường so v ới nam gi ới. N ếu tính trung bình cho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ n ữ bi ết chữ thấp h ơn 29% so v ới nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam gi ới và t ỷ l ệ nh ập h ọc ti ểu h ọc, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơn tương ứng là 9%, 28% và 49% so v ới nam. Về chủ quan, nhiều chị em chưa thoát ra khỏi tâm lí t ự ti, an ph ận, không c ần ph ấn đ ấu, không ch ịu khó học tập để nâng cao trình độ, chưa nhận thức hết vai trò và ch ưa thay đ ổi cách nhìn m ới v ề chính mình. Mặt khác, các chính sách trong GD&ĐT ngoài ảnh h ưởng chung đ ối v ới xã h ội còn có ảnh hưởng trực tiếp đến bình đẳng giới. Vì vậy, có một nhà giáo dục đã viết: Giáo dục một người đàn ông, ta được m ột gia đình, giáo d ục một người phụ nữ ta được cả một thế hệ. Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát t ừ vi ệc bình đẳng giới trong giáo dục.  Bạo hành gia đình Vụ trưởng Vụ Gia đình (Bộ VHTT&DL) cho biết, theo báo cáo chưa đầy đ ủ c ủa các S ở VHTT&DL cả nước, chỉ tính 9 tháng đầu năm 2011 đã có 33.904 v ụ BLGĐ. Cũng theo bà, m ặc dù có đến gần 34.000 vụ BLGĐ nhưng mới chỉ xử lý được 4.185 vụ. Hi ện v ẫn còn t ồn tại nhi ều khó khăn, bất cập trong việc giải quyết dứt điểm các vụ bạo lực này. Theo Dân số - Gia đình và Trẻ em, 30% số phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng cưỡng bức bằng nhi ều hình th ức do người ch ồng gây ra.Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc và T ổng cục Th ống kê thì 58% ph ụ n ữ Vi ệt Nam là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhiều vụ bạo hành thương tâm diễn ra, để lại di chứng rất nặng n ề cho người phụ nữ. Những nạn nhân bị bạo lực, nhất là phụ n ữ đang phải ch ịu m ột lo ạt các v ấn đ ề sức khỏe và thu hẹp khả năng tham gia vào đời sống xã h ội. Nh ưng không ph ải ai cũng dám đ ứng lên kêu cứu và đòi quyền bình đẳng. Gần m ột nửa s ố ph ụ n ữ b ị bạo hành ch ưa t ừng k ể v ới ai v ề hành vi bạo lực của chồng; 87% phụ nữ từng bị chồng đánh ch ưa t ừng tìm đ ến b ất kỳ c ơ quan t ổ chức nào để nhận sự giúp đỡ. Nguyên nhân được các gia đình lựa chọn nhiều nhất là gia đình có người cờ bạc rượu chè (81.1 %), gia đình nghèo đói, thiếu việc làm (75.7%), gia đình coi nhẹ việc
  12. giáo dục nề nếp gia phong (69.7%) và có người ngoại tình (69.5%). " Gốc rễ sâu xa của BLGĐ là sự thiên kiến, định kiến về giới đã ăn sâu vào tiềm thức nhiều thế hệ trong gia đình và xã hội. Bởi vậy chỉ có thể chấm dứt vấn nạn này khi toàn xã hội kiên trì, đồng lực thay đổi định kiến giới".  Buôn bán phụ nữ  Hàng năm, có hàng nghìn phụ nữ Việt Nam bị buôn bán trái phép qua biên gi ới (t Trung Qu ốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan… Rất nhi ều ph ụ n ữ và tr ẻ em Vi ệt Nam sinh sống tại vùng biên đã bị bắt cóc bán sang Trung Quốc làm v ợ ho ặc ph ục v ụ trong các đ ộng mại dâm. Tình trạng này thực sự trở lên đáng báo động khi s ố người b ị buôn bán ngày càng gia tăng. Theo báo cáo Liên hợp quốc, năm 2004, có kho ảng 50.000 phụ nữ bị đưa đi làm gái tại Campuchia, trong đó có nhiều cô gái Việt nam. Unicef thống kế có kho ảng m ột phần ba gái m ại dâm ở Campuchia dưới 18 tuổi, và hầu hết là người Việt Nam. Ước tính có khoảng 10% số vụ hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Trung Quốc có thể là kết quả của nạn buôn người.  Mại dâm Mại dâm là một hiện tượng xã hội được coi là lâu đời. Ở Vi ệt Nam, theo tài liệu lưu trữ năm 1954 ở Hà Nội có 11800 gái mại dâm chuyên nghiệp, ở Miền Nam trước ngày gi ải phóng là 200.000 (trong đó riêng Sài Gòn là 100.000) . Kết quả nghiên c ứu năm 2001 ở Vi ệt Nam cho bi ết 51% gái mại dâm có liên quan tới ma túy và 27% nhiễm HIV. Hi ện nay, n ạn m ại dâm di ễn ra ph ổ biến, công khai nhiều nơi rất phức tạp, đặc biệt ở các thành phố lớn khu thương mại, công nghiệp tập trung. Con số gái mại dâm bao nhiêu chưa thống kê được nhưng biết rằng nó lên đến hàng vạn. ĐỊNH HƯỚNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP Xây dựng, khẳng định và phát triển vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ mới Về phía xã hội: - Cải cách thể chế để tạo lập quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ n ữ và nam gi ới. C ải cách pháp lý sẽ tăng cường bình đẳng giới rõ nét nhất qua: Lu ật hôn nhân gia đình, lu ật ch ống b ạo hành, bạo lực, quyền về đất đai, luật lao động, quyền chính trị. Vi ệc này sẽ t ạo môi tr ường cho s ự bình đẳng về cơ hội và quyền lực, hai yếu tố thiết yếu để đạt được bình đẳng gi ới trên các ph ương diện khác như giáo dục, y tế và tham gia chính trị. Điều này Việt Nam chúng ta đã và đang thực hiện tốt (thể hiện ở các văn bản luật đã được thông qua và có hiệu lực thi hành, tỉ l ệ n ữ đ ại bi ểu Qu ốc hội khóa XII là 33,1%...); cần phát huy, n ỗ lực tăng tỉ l ệ n ữ ở H ội đ ồng nhân dân 3 c ấp và các c ơ quan quản lý nhà nước. Cung cấp các dịch vụ tạo thuận lợi cho vi ệc ti ếp c ận dành cho ph ụ n ữ, như: hệ thống trường lớp, cơ sở y tế, chương trình cho vay vốn… - Đẩy nhanh phát triển kinh tế nhằm khuyến khích tham gia và phân bố nguồn lực công bằng hơn. Phát triển kinh tế có xu hướng làm tăng năng suất lao đ ộng và tạo nhi ều c ơ h ội vi ệc làm cho phụ nữ, thu nhập cao hơn, và mức sống tốt hơn. Đầu tư có trọng điểm vào c ơ s ở hạ tầng và gi ảm bớt chi phí cá nhân cho phụ nữ khi thực hiện vai trò của h ọ trong gia đình s ẽ có th ể giúp h ọ có thêm thời gian để tham gia vào các hoạt động khác, dù là để tạo thu nh ập hay làm công tác xã h ội. Đi ều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành của phụ nữ. Thiết kế chính sách th ị tr ường lao động phù hợp, như về nghỉ đẻ, sa thải, dưỡng bệnh, ngh ỉ b ắt bu ộc… trong vi ệc sinh đ ẻ đ ể t ạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội tham gia công việc trên thị trường, đồng thời chăm sóc gia đình. Cung cấp bảo trợ xã hội, an sinh xã hội phù hợp. - Thực hiện những biện pháp thiết thực nhằm khắc phục sự phân biệt gi ới trong việc làm chủ các nguồn lực và tiếng nói chính trị. Nhà nước nên thiết lập một môi trường thể chế bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng đến các nguồn lực và d ịch v ụ công c ộng cho c ả nam và nữ. Tăng cường tiếng nói của phụ nữ (sử dụng sáng kiến, ý tưởng) trong quá trình hoạch định chính sách. Ngoài ra có thể: - Mở rộng các quan hệ hợp tác giao lưu, vừa phù hợp với xu h ướng th ời đ ại, v ừa chia s ẻ, trao đ ổi được kinh nghiệm quốc tế trong việc giài quyết các vấn đề về giới, đồng thời lại m ở ra nhi ều c ơ hội học tập, làm việc cho phụ nữ. Tạo điều kiện trao đổi c ởi m ở các ý t ưởng v ới ph ụ n ữ, nâng cao tính minh bạch trong hoach định chính sách - Triển khai giáo dục vấn đề về giới, bình đẳng giới và phát triển phổ biến trong xã hội
  13. - Phát huy vai trò của tổ chức Hội phụ nữ, nhất là ở cơ sở Về phía cá nhân người phụ nữ: Mỗi thời kỳ có những cơ hội và yêu cầu mang tính lịch sử, mu ốn có th ể khẳng đ ịnh và phát huy vai trò của mình, bản thân người phụ nữ trước hết phải ý thức được đầy đủ vai trò v ề gi ới c ủa mình, mới có thể nắm bắt được những cơ hội, cùng với xã hội, hướng tới cách ứng x ử bình đ ẳng gi ới. Muốn vậy, phụ nữ hiện đại cần nỗ lực nhiều mặt - Có tri thức, văn hoá. Chúng ta đang hướng tới phát tri ển n ền kinh t ế tri th ức, ph ụ n ữ khi có tri thức sẽ có bản lĩnh hơn và có nhiều cơ hội lựa ch ọn h ơn trong cu ộc s ống. Ch ẳng h ạn nh ư khi công nghệ thông tin phát triển, nhiều công việc yêu c ầu sử d ụng máy tính tăng lên, đây s ẽ là c ơ h ội tốt cho những phụ nữ biết sử dụng vi tính nhưng lại sẽ tr ở thành rào c ản cho nh ững ng ười không biết sử dụng. - Có ý thức cầu tiến, độc lập - Sống có mục đích - Có khả năng giao kết thân thiện. Một số nghiên cứu hiện nay thừa nhận m ối quan h ệ gi ữa sự tham gia tích cực của phụ nữ vào đời sống xã hội với sự giảm bớt mức độ tham nhũng - Có kỹ năng sống: tự tin, sáng tạo, biết hoạch định kế ho ạch, biết đối m ặt v ới áp l ực, bi ết chăm sóc bản thân … Để có được những điều này phụ nữ nên chịu khó học hỏi ở nhà trường, các tổ ch ức, đ ội nhóm, nhà văn hóa, câu lạc bộ…Tích cực tham gia vào các ho ạt đ ộng xã h ội đ ể tích lũy tri th ức và kinh nghiệm sống. Mở rộng các mối quan hệ giao lưu giao tiếp trong xã hội. Tạo thói quen suy nghĩ tích cực, sẵn sàng chia sẻ, siêng năng lao động, rèn luyện và chăm sóc sức khoẻ cho bản thân. KẾT LUẬN Gắn liền với những phẩm chất tốt đẹp, cùng với s ự phát tri ển đi lên c ủa đ ất n ước, vai trò, v ị th ế của người phụ nữ Việt Nam được khẳng định trong thực tế không ch ỉ trong gia đình mà còn trong đời sống xã hội. Công cuộc công nghiệp hoá, hi ện đại hoá đ ất n ước là môi tr ường, là c ơ h ội chia đều cho tất cả các giới. Trong quá trình đó, ngoài ti ếp tục xây d ựng h ệ th ống th ể ch ế phù h ợp cho sự phát triển bình đẳng giới cần loại bỏ những rào cản từ tâm lý xã hội, từ sự bó h ẹp c ủa c ơ chế...để người phụ nữ ngày càng có điều kiện phấn đấu vươn lên, toả sáng, làm rạng danh truyền thống vẻ vang của phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ mới .

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản