intTypePromotion=1

Giáo trình Luật kinh tế - Trần Ngọc Hoàng Vũ

Chia sẻ: Huyền Thanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:288

0
15
lượt xem
3
download

Giáo trình Luật kinh tế - Trần Ngọc Hoàng Vũ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Luật kinh tế trình bày những nội dung cơ bản của pháp luật kinh tế như hành vi kinh doanh, phương thức thực hiện hành vi kinh doanh; các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh; các chế tài với hành vi vi phạm pháp luật kinh tế và vi phạm hợp đồng kinh tế. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Luật kinh tế - Trần Ngọc Hoàng Vũ

  1. Trang 1 MÔN HỌC: LUẬT KINH TẾ Mã mô học: MH 07 Vị trí, ý nghĩa, vai trò môn học: - Vị trí: Là môn khoa học cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo của nghề kế toán doanh nghiệp, được bố trí giảng dạy sau khi học các môn chung và trước khi học các môn cơ sở của nghề. - Tính chất: Luật kinh tế là môn học bắt buộc nghiên cứu những kiến thức cơ bản về hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, là cơ sở để học các môn chuyên môn của nghề Mục tiêu của mô đun/môn học: - Kiến thức: + Trình bày được những nội dung cơ bản của pháp luật kinh tế như hành vi kinh doanh, phương thức thực hiện hành vi kinh doanh. + Phát hiện các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh. + Vận dụng các chế tài với hành vi vi phạm pháp luật kinh tế và vi phạm hợp đồng kinh tế. - Kỹ năng: + Viết được hợp đồng kinh tế đúng quy định pháp luật. + Phân biệt được các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. + Thực hiện được trình tự, thủ tục để giải quyết phá sản doanh nghiệp. + Giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh. - Thái độ: + Tuân thủ pháp luật kinh tế trong thực hiện hành vi kinh doanh. + Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ kinh tế. Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  2. Trang 2 + Có thái độ nghiêm túc trong học tập, xác định đúng đắn động cơ và mục đích học tập. Nội dung chính của môn học: Loại Địa Thời gian(giờ) Số Tên chương, mục bài điểm Tổng Lý Thực Kiểm TT dạy số thuyết hành tra I Những vấn đề lý luận chung về Luật kinh 3 2 1 tế Khái niệm luật kinh tế Chủ thể của Luật kinh tế Vai trò của Luật kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân II Chế định pháp lý của các loại hình 11 8 2 1 doanh nghiệp Chế định pháp lý của doanh nghiệp nhà nước Chế định pháp lý về doanh nghiệp tập thể (HTX) Chế định pháp lý về Công ty Chế định pháp lý về doanh nghiệp tư nhân Chế định pháp lý về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài III Chế định pháp lý về hợp đồng kinh tế 6 4 2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hợp đồng kinh tế Ký kết hợp đồng kinh tế Thực hiện hợp đồng kinh tế Hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng kinh tế IV Chế định pháp luật về giải quyết tranh 5 3 2 chấp kinh tế Khái quát chung về tranh chấp kinh tế trong kinh doanh Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay V Chế định pháp lý về phá sản doanh 5 3 1 1 nghiệp Khái quát về phá sản và quy định về phá Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  3. Trang 3 sản Trình tự thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp Tổng số 60T 30 20 8 2 Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  4. Trang 4 YÊU CẦU VỀ ĐÁNH GIÁ HOÀN THÀNH MÔ ĐUN/MÔN HỌC - Kiểm tra lý thuyết các nội dung về các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. - Kiểm tra bài tập thực hành về thủ tục thành lập doanh nghiệp, nội dung hợp đồng kinh tế. - Đánh giá trong quá trình học: Kiểm tra theo hình thức: Viết (Tự luận và trắc nghiệm) - Đánh giá cuối môn học: Kiểm tra theo hình thức: Viết (Tự luận và trắc nghiệm) Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  5. Trang 5 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH TẾ Giới thiệu: Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị kinh tế mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức. Chương 1 “Những vấn đề lý luận chung về Luật kinh tế “ cung cấp cho người học những khái niệm cơ bản nhất trong lĩnh vực Luật và Luật kinh tế. Chứng minh cho người học thấy được vai trò của Luật kinh tế trong đời sống hiện nay. Và cách vận dụng để xử lý được các tình huống kinh doanh liên quan tới Luật pháp Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, chủ thể và vai trò của Luật kinh tế; - Trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của Luật kinh tế; - Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Luật kinh tế đối với hoạt động kinh doanh của xã hội; - Vận dụng đối chiếu được với các tình huống kinh doanh thực tế. Nội dung chính: I. Khái niệm, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế (Luật kinh doanh) 1. Khái niệm Hệ thống pháp luật của một nước gồm nhiều qui định được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc, có mối liên hệ nhau, trong đó một hệ thống pháp luật gồm nhiều ngành luật; mỗi ngành luật gồm nhiều chế định pháp luật; mỗi chế định pháp luật gồm nhiều qui phạm pháp luật. Như vậy, một ngành luật gồm nhiều chế định pháp luật cùng loại hay gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuộc một lãnh vực của xã hội. Luật kinh tế (hay luật kinh doanh) là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm tổng thể các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế với các tổ chức kinh tế hoặc giữa các tổ chức kinh tế với nhau hay nói khác đi Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  6. Trang 6 luật kinh tế (hay luật kinh doanh) gồm những qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lãnh vực kinh doanh. 2 Đối tượngđiều chỉnh của Luật kinh tế Là những quan hệ xã hội cùng loại, thuộc một lĩnh vực của đời sống xã hội cần có sự điều chỉnh bằng pháp luật. Mỗi ngành luật sẽ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội đặc thù. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế vừa mang yếu tố tài sản vừa mang yếu tố tổ chức kế hoạch bao gồm: - Các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa. - Các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế XHCN với nhau. Những yếu tố này thể hiện trong các nhóm quan hệ ở mức độ khác nhau Cụ thể: - Trong nhóm quan hệ quản lý kinh tế: Yếu tố tổ chức kế hoạch là tính trội còn yếu tố tài sản không đậm nét vì trong quan hệ lãnh đạo yếu tố tài sản chỉ thể hiện ở những chỉ tiêu pháp lệnh mà nhà nước cân đối vật tư tiền vốn cho các tổ chức kinh tế XHCN để các tổ chức kinh tế này thực hiện nhiệm vụ kế hoạch của nhà nước giao. - Trong nhóm quan hệ ngang: Yếu tố tài sản lại thể hiện rõ nét còn yếu tố tổ chức kế hoạch mờ nhạt hơn Yếu tố tổ chức kế hoạch trong quan hệ ngang chỉ thể hiện ở chỗ: + Nhà nước bắt buộc các đơn vị kinh tế có liên quan phải ký kết hợp đồng kinh tế. + Khi ký kết hợp đồng kinh tế phải dựa vào chỉ tiêu pháp lệnh. Trường hợp kế hoạch nhànước thay đổi hoặc huỷ bỏ thì hợp đồng đa ký cũng phải thay đổi hoặc sửa đổi theo (nhưvậy quan hệ hợp đồng theo cơ chế cũ không được hiểu theo đúng nghĩa truyền thống: Tự do khế ước, tự do ý chí). 3. Phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là cách thức, biện pháp tác động vào quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật đó. Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  7. Trang 7 Để phù hợp với đặc điểm của đối tượng điều chỉnh, luật kinh tế áp dụng phương pháp điều chỉnh riêng. Theo quan niệm truyền thống phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế là phương pháp kết hợp hài hoà giữa phương pháp thoả thuận bình đẳng với phương pháp mệnh lệnh hành chính . Nghĩa là khi điều chỉnh một quan hệ kinh tế cụ thể, luật kinh tế phải sử dụng đồng thời cả 2 phương pháp thoả thuận và mệnh lệnh - Phương pháp bình đẳng thỏa thuận Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quan hệ pháp luật mà chỉ định ra khuôn khổ và các bên tham gia quan hệ pháp luật có thể thỏa thuận với nhau (về nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật, cách thức giải quyết khi có tranh chấp xảy ra…) trong khuôn khổ đó cá bên tham gia pháp luật bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. - Phương pháp quyền uy phục tùng (mệnh lệnh) Một bên trong quan hệ pháp luật (Nhà nước) có quyền ra mệnh lệnh, còn bên kia phải phục tùng. II. Chủ thể của luật kinh tế 1.Khái niệm về chủ thể kinh tế Đặc trưng của nền kinh tế XHCN là dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và được quản lý bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung vì vậy hoạt động kinh tế không do từng công dân riêng lẻ thực hiện mà do tập thể người lao động của các tổ chức kinh tế nhà nước và tập thể, các cơ quan kinh tế và các tổ chức xã hội khác thực hiện. Chủ thể của luật kinh tế gồm: - Các cơ quan kinh tế - Các tổ chức XHCN Những cơ quan tổ chức này được gọi là pháp nhân. Pháp nhân là một khái niệm được sử dụng để ám chỉ một loại chủ thể pháp lý độc lập để phân biệt với các chủ thể của con người (bao gồm cá nhân và tập thể). Như vậy pháp nhân là 1 thực thể trừu tượng được hư cấu, thể hiện tình trạng tách bạch về mặt tài sản của nó với tài sản còn lại của chủ sở hữu, người đa sáng tạo ra nó Theo quan niệm truyền thống thì cá nhân không được công nhận là chủ thể của luật kinh tế bởi lẽ trong nền kinh tế XHCN không tồn tài thành phần kinh tế tư nhân. Ngày nay Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì những quy định của luật kinh tế trước đây không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường- Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  8. Trang 8 một nền kinh tế có những bản sắc khác hẳn với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Đó là - Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá + Đa hình thức sở hữu + Đa thành phần kinh tế + Đa lợi ích - Các thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo nhằm đảm bảo sự cân đối nhất định cho toàn bộ nền kinh tế. - Trong nền kinh tế thị trường hình thức tổ chức kinh doanh rất đa dạng và phong phú. Chủ thể kinh doanh không còn bó hẹp ở các tổ chức kinh tế quốc doanh và tập thể (HTX) mà mở rộng đến các loại hình kinh doanh của tư nhân, nước ngoài…Như vậy chủ thể của luật kinh tế sẽ đa dạng hơn nhiều so với cơ chế trước đây. - Tự do kinh doanh, chủ động sáng tạo trong kinh doanh của các chủ thể kinhdoanh, sự cạnh tranh và phá sản của các doanh nghiệp là những đặc tính tất yếu của nền kinh tế thị trường mà nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không thể có. Những đặc tính này chứng tỏ: + Các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có thể tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, tự quyết định quá trình kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình và có nghĩa vụ đóng góp với nhà nước mà không bị chi phối bởi hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước. +Những quan hệ kinh tế được thiết lập với mục đích chủ yếu là kinh doanh kiếm lời. Tuy nhiên khác với một số nước trong nền kinh tế thị trường những đặc tính trên nằm trong 1 giới hạn nhất định có nghĩa là nền kinh tế thị trường của Việt Nam phải đảm bảo có sự quản lý của nhà nước và theo định hướng XHCN. Nhận thức được đúng đắn những đặc tính cố hữu của nền kinh tế thị trường nói chung cùng với những sắc thái riêng của nền kinh tế thị trường của Viịet Nam các nhà làm luật đa có thay đổi đáng kể trong việc xem xét các vấn đề lý luận về luật kinh tế nhằm phát huy được vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế của luật kinh tế. 2. Phân loại chủ thể luật kinh tế Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  9. Trang 9 Chủ thể là thuật ngữ để chỉ các cá nhân, tổ chức, theo qui định của pháp luật, tham gia vào các quan hệ pháp luật để thực hiện các nội dung của qui phạm pháp luật tương ứng. Chủ thể của luật kinh doanh là những cá nhân, tổ chức tham gia trong quá trình kinh doanh gồm có : 2.1. Cá nhân : Cá nhân (hay thể nhân) là những con người riêng biệt, cụ thể. Cá nhân muốn tham gia trong quan hệ pháp luật kinh doanh cần hội đủ những điều kiện: - Đủ (hoặc từ) 18 tuổi trở lên - Cá nhân phải ở trong tình trạng minh mẩn, sáng suốt, ý thức được việc mình (tức cá nhân có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi). - Cá nhân không ở trong trường hợp bị cấm kinh doanh như đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc đang ở trong thời gian bị tòa án tước quyền hành nghề vì vi phạm pháp luật - Cá nhân không rơi vào trường hợp bị hạn chế tham gia một số hoạt động kinh doanh (ví dụ : cán bộ, công chức Nhà nước không được tham gia thành lập và quản lý các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp). - Cá nhân muốn tham gia trong quan hệ pháp luật kinh tế phải đăng ký kinh doanh hợp lệ theo qui định của pháp luật. Cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài ở Việt Nam trong một số trường hợp được pháp luật cho phép tham gia kinh doanh tại Việt Nam cũng phải hội đủ các điều kiện như công dân Việt Nam 2.2. Pháp nhân : Pháp nhân là con người giả định gắn cho những tổ chức hội đủ các điều kiện luật định để trở thành chủ thể tham gia vào một số quan hệ pháp luật do Nhà nước qui định. Theo điều 74 BLDS năm 2015 những điều kiện để tổ chức trở thành pháp nhân (có tư cách pháp nhân) là : - Được thành lập hợp pháp - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ - Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó (gọi là có tài sản riêng). - Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Pháp nhân được tham gia giao dịch khi đã được thành lập hợp pháp. Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  10. Trang 10 Pháp nhân không được giao dịch khi phát sinh các sự kiện pháp lý làm chấm dứt pháp nhân, đó là các trường hợp : hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia pháp nhân, giải thể pháp nhân, pháp nhân bị tuyên bố phá sản. a. Hợp nhất pháp nhân : Chỉ việc hai hoặc nhiều pháp nhân hợp thành một pháp nhân mới cùng loại. Sau khi hợp nhất, các pháp nhân bị hợp nhất không còn tồn tại, quyền và nghĩa vụ (đã xác lập) chuyển cho pháp nhân hợp nhất b. Sáp nhập pháp nhân : Chỉ việc một hoặc nhiều pháp nhân nhập vào một pháp nhân cùng loại. Sau khi sáp nhập, pháp nhân bị sáp nhập không còn tồn tại, quyền và nghĩa vụ (đã xác lập) chuyển cho pháp nhân nhận sáp nhập c. Chia pháp nhân : Chỉ việc một pháp nhân phân chia thành nhiều pháp nhân mới cùng loại. Sau khi chia, pháp nhân bị chia không còn tồn tại, quyền và nghĩa vụ (đã xác lập) chuyển cho các pháp nhân mới d. Giải thể pháp nhân : Chỉ trường hợp pháp nhân chấm dứt hoạt động theo qui định của pháp luật Có 2 trường hợp giải thể : - Giải thể tự nguyện : Khi pháp nhân vì một lý do nào đó (khách quan hoặc chủ quan) muốn chấm dứt hoạt động. - Giải thể bắt buộc : Khi pháp nhân vi phạm pháp luật, bị buộc phải chấm dứt hoạt động. đ. Pháp nhân bị tuyên bố phá sản : Chỉ trường hợp pháp nhân là Doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Việc tuyên bố pháp nhân bị phá sản do Tòa án quyết định. Pháp nhân thực hiện giao dịch thông qua: - Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân: là người được bổ nhiệm hoặc được chọn đứng đầu pháp nhân (Chủ tịch HĐQT, Hội đồng thành viên, Gíam đốc,…), hành vi người này đương nhiên phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý cho pháp nhân Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  11. Trang 11 - Người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân: là người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền để qua đó hành vi của người này phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý cho pháp nhân. 2.3. Tổ chức không có tư cách pháp nhân: Đó là các tổ chức không hội đủ các điều kiện để trở thành pháp nhân. Các tổ chức này không được coi là có tài sản riêng nên trong giao dịch, khi phát sinh trách nhiệm về tài sản, nguồn tài sản được dùng để giải quyết là tài sản của cơ quan chủ quản của tổ chức này hoặc tài sản của các thành viên góp vào tổ chức và cả tài sản riêng của các thành viên có liên quan. 2.4. Hộ gia đình: Hộ gia đình kinh doanh được gọi là “hộ kinh doanh cá thể” và có thể gồm một cá nhân hoặc gồm những thành viên trong gia đình góp tài sản, công sức để hoạt động kinh tế chung trong các lãnh vực sản xuất, kinh doanh do pháp luật qui định. Trường hợp hộ kinh doanh cá thể gồm những thành viên trong gia đình thì trong các giao dịch đó, hộ gia đình xuất hiện với tư cách chủ thể và hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng tài sản của cả hộ. Nếu tài sản chung của hộ giải quyết không đủ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản của mình. Ngươì đại diện của hộ trong trường hợp nầy là chủ hộ hoặc người được chủ hộ ủy quyền. 2.5. Thương nhân: Trong luật thương mại Việt Nam còn qui định chủ thể là các thương nhân Theo điều 6 Luật thương mại 2005 (áp dụng từ 01/01/2006), thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Như vậy, để được gọi là thương nhân, phải hội đủ các điều kiện sau : - Chủ thể : có thể là cá nhân hoặc các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp (có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân). - Tham gia hoạt động thương mại : hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Hoạt động (thương mại) một cách độc lập, thường xuyên: Trong Luật thương mại chưa nêu cụ thể thế nào là thể hiện tính độc lập nhưng có thể nêu một số dấu hiệu như sau: chủ thể hoạt động độc lập là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp cho các hành vi của mình, có quyền tự do quyết định nội dung Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  12. Trang 12 hoạt động hoặc thời gian làm việc của mình. Thương nhân vì thế khác với người làm công hoặc nhân viên trong đơn vị. Ví dụ: trong một cửa hàng, chủ cửa hàng là thương nhân vì người nầy chịu trách nhiệm trực tiếp đối với những hành vi liên quan đến giao dịch của cửa hàng, còn những người bán hàng hoặc nhân viên không chịu trách nhiệm về hoạt động của cửa hàng nên không được coi là thương nhân . Yếu tố thường xuyên cũng không được Luật thương mại định nghĩa cụ thể như thế nào nhưng được hiểu là thừơng xuyên khi chủ thể tiến hành các hoạt động thương mại trên cơ sở có kế hoạch lâu dài, như một nghề nghiệp để tạo thu nhập. Ví dụ: một hộ gia đình cho một nhóm sinh viên thuê nhà để ở trong mùa thi thì không được xem là thường xuyên nhưng nếu hộ gia đình nầy sử dụng nhà cho thuê làm nơi trưng bày hàng hóa liên tục thì được xem là thường xuyên . - Thực hiện việc đăng ký kinh doanh : Đăng ký kinh doanh là một thủ tục để thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thương nhân và đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử thương mại. Ban đầu mục đích của thủ tục nầy là thống kê các dữ kiện có ý nghĩa pháp lý liên quan đến hoạt động của thương nhân, công khai hóa chúng và qua đó bảo vệ quyền lợi các bên liên quan. Dần dần, thủ tục nầy được Nhà nước dùng để xem xét cho ra đời một thương nhân. Việc đăng ký kinh doanh có thể thực hiện tại Tòa án hoặc một cơ quan quản lý Nhà nước tùy theo qui định của pháp luật . 3. Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế quốc dân 3.1 Nguồn của Luật kinh tế Nguồn cơ bản của các bộ luật (không riêng gì luật kinh tế) là Hiến pháp. Với luật kinh tế thì toàn bộ những hoạt động có liên quan tới lĩnh vực kinh tế (con người,sự vật,hiện tượng) là cơ sở hình thành lên những điều khoản chế tài của luật kinh tế 3.2 Vai trò của Luật kinh tế trong quản lý kinh tế Trong nền kinh tế kế họach hóa tập trung hay nền kinh tế thị trường, luật kinh tế đều có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, tầm quan trọng của luật kinh tế càng thể hiện rõ nét trong nền kinh tế thị trường qua các vai trò sau : 3.2.1. Cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước thành các qui định áp dụng cho các chủ thể kinh doanh: Các quan điểm của Đảng và Nhà nước muốn áp dụng được trong thực tế trong lãnh vực kinh doanh cần phải được cụ thể bằng các qui định của pháp luật qua đó giúp cho nền kinh tế thị trường vận động đúng theo định hướng Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  13. Trang 13 Nhà nước. Vai trò của luật kinh tế càng quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi Nhà nước quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước vì nhờ đó đảm bảo cho Nhà nước kiểm soát các hoạt động kinh doanh có hiệu quả, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước. 3.2.2. Tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể kinh doanh: Hoạt động kinh doanh đòi hỏi tính mạo hiểm và có khi gánh chịu rủi ro rất cao mà trong đó tính hợp pháp và bất hợp pháp của hành vi có khi nằm trong ranh giới rất mong manh. Do vậy, để giúp các nhà kinh doanh hoạt động, cần có một hành lang pháp lý đầy đủ để qua đó các chủ thể an tâm. Luật kinh doanh đóng vai trò tạo hành lang an toàn nầy. 3.2.3. Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh: Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể đúng qui định của pháp luật, luật kinh tế xác định cho mỗi chủ thể kinh doanh một vị trí pháp lý nhất định trong đó ghi nhận vai trò của từng loại chủ thể trong hệ thống các cơ quan, tổ chức kinh tế. Việc xác định địa vị pháp lý của các chủ thể cũng nhằm giúp các cơ quan Nhà nước có biện pháp quản lý phù hợp đối với hoạt động của từng loại chủ thể . 3.2.4. Điều chỉnh các hành vi kinh doanh, giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh: Hoạt động kinh doanh trong thực tế diễn ra rất đa dạng và thường có mối liên hệ nhau. Để giúp các quan hệ nầy phát triển đúng hướng, luật kinh tế ghi nhận quá trình hình thành, thực hiện và chấm dứt chúng và các hệ quả phải giải quyết (ví dụ: các qui định về hợp đồng kinh tế). Luật kinh tế cũng dự liệu những trường hợp có thể phát sinh trong tương lai qua hoạt động sản xuất kinh doanh để dự liệu các giải pháp phù hợp, tránh gây xáo trộn trong xã hội (ví dụ; các qui định về giải thể, phá sản doanh nghiệp). Ngoài ra, luật kinh tế cũng qui định cách tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và chính đáng của các bên kinh doanh. CÂU HỎI Câu 1. Khái niệm Luật kinh tế? Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế? Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  14. Trang 14 Câu 2. Thể nhân là gì? Pháp nhân là gì? Điều kiện để thể nhân, pháp nhân trở thành chủ thể của Luật Kinh tế? Câu 3. Nêu và phân tích vai trò của Luật kinh tế trong nền kinh tế quốc dân? Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  15. Trang 15 CHƯƠNG 2. CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP Giới thiệu: Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do kinh doanh và bình đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được bảo đảm trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về tổ chức doanh nghiệp. Pháp luật về doanh nghiệp là một nội dung quan trọng của pháp luật kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Chương 2 “ Chế định pháp lý của các loại hình Doanh nghiệp “ sẽ cung cấp cho chúng ta nội dung của vấn đề này Mục tiêu: - Trình bày được các chế định pháp lý của các loại hình doanh nghiệp hiện nay - Vận dụng nhận biết và phân biệt được các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay Nội dung chính: Chế định pháp lý của Doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần công ty trách nhiệm hữu hạn. (Điều 1 Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003) - Khoản 22 điều 4, luật Doanh nghiệp 2005: Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Khoản 8 điều 4 Luật doanh nghiệp nhà nước 2014: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. 1.2. Đặc điểm và vai trò của Doanh nghiệp nhà nước - Doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh doanh, có tư cách pháp nhân; là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ vốn chi phối. (Có quyền kiểm soát quá trình ra quyết định). - Doanh nghiệp nhà nước được thành lập dưới Công ty TNHH 1 thành viên. Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  16. Trang 16 Tính đặc biệt của doanh nghiệp nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước là tổ chức đóng vai trò chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ. Về tư cách pháp nhân, doanh nghiệp nhà nước có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước không được quyền phát hành cổ phần. Thay vào đó, doanh nghiệp nhà nước được huy động vốn bằng cách tuân thủ các nguyên tắc sau: + Căn cứ chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; + Phương án huy động vốn phải bảo đảm khả năng thanh toán nợ; + Người phê duyệt phương án huy động vốn phải chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra bảo đảm vốn huy động được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả; + Việc huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước phải thực hiện thông qua hợp đồng vay vốn với tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; trường hợp vay vốn từ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thì thực hiện theo quy định của pháp luật về tín dụng đầu tư phát triển và quy định khác của pháp luật có liên quan; + Việc huy động vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài, vay hoặc phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công và quy định khác của pháp luật có liên quan; + Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật. 1.3. Thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước. Hiện nay muốn thành lập doanh nghiệp Nhà nước phải tuân theo quy định của luật doanh nghiệp 2015 1.4. Tổ chức và quản lý Doanh nghiệp nhà nước Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  17. Trang 17 - Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình công ty TNHH 01 thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu. - Chủ sở hữu bổ nhiệm từ 03 đến 7 ngườ người đại diện theo Ủy quyền với nhiệm kỳ 5 năm để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. (có quyền thay thế người đại diện theo Ủy quyền bất cứ lúc nào). - Nếu Trường hợp có ít nhất 03 người được bổ nhiệm làm đại diện theo uỷ quyền thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; trong trường hợp này, Hội đồng thành viên gồm tất cả người đại diện theo uỷ quyền. - Trường hợp một người được bổ nhiệm làm người đại diện theo uỷ quyền thì ngườiđó làm Chủ tịch công ty; trong trường hợp nàycơ cấutổ chức quản lý của công ty bao gồm Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên. 1.5. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước. Theo quy định chung của luật doanh nghiệp và những quyền và nghĩa vụ riêng theo từng loại hình doanh nghiệp. - Quyền của doanh nghiệp + Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. + Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. + Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. + Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. + Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh. + Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. + Tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ. Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  18. Trang 18 + Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp. +Từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định. + Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. +Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. + Các quyền khác theo quy định của pháp luật. - Nghĩa vụ của doanh nghiệp + Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. + Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán. + Đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. + Bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm. + Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố. + Thực hiện chế độ thống kê theo quy định của pháp luật về thống kê; định kỳ báo cáo đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo mẫu quy định; khi phát hiện các thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó. + Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh. Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  19. Trang 19 + Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. 2. Chế định pháp lý về Doanh nghiệp tập thể ( HTX ) 2.1. Khái niệm Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã a. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã. b. Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã. c. Khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật doanh nghiệp. 2.2 Đặc điểm - Hợp tác xã trước hết là một tổ chức kinh tế, nó được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như tất cả mọi loại hình doanh nghiệp khác; - Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên; - Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. - Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao. Hợp tác xã khác với các loại hình doanh nghiệp ở chỗ những thành viên tham gia hợp tác xã thể hiện sự hợp tác có tính toàn diện; cùng góp vốn, góp sức và cùng có nhu cầu , lợi ích. Trong khi đó sự hợp tác của các công ty TNHH chỉ đơn Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
  20. Trang 20 thuần là sự góp vốn, công ty cổ phần là sự đóng cổ phần, còn các thành viên không nhất thiết phải trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh hay dịch vụ; - Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ. Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm. - Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ. 2.3. Thành lập và giải thể HTX 2.3.1. Thành lập - Trước khi hoạt động, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã dự định đặt trụ sở chính. - Người đại diện hợp pháp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã dự định thành lập nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đến cơ quan đăng ký hợp tác xã và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có thể gửi hồ sơ đăng ký qua địa chỉ thư điện tử của cơ quan đăng ký hợp tác xã nhưng phải nộp hồ sơ bằng văn bản khi đến nhận giấy chứng nhận đăng ký để đối chiếu và lưu hồ sơ. - Hồ sơ đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bao gồm: + Giấy đề nghị đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; +Điều lệ; Giáo trình Luật kinh tế Trần Ngọc Hoàng Vũ
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2