intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Giáo trình Luật so sánh - Ths.Tăng Thanh Phương

Chia sẻ: Tran Anh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
463
lượt xem
116
download

Giáo trình Luật so sánh - Ths.Tăng Thanh Phương

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luật so sánh là một ngành khoa học luật mà chức năng chủ yếu của nó là so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt, sử dụng những sự tương đồng và khác biệt đã tìm ra nhằm giải thích nguồn gốc, đánh giá cách giải quyết trong các hệ thống pháp luật...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Luật so sánh - Ths.Tăng Thanh Phương

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TẬP LUẬT SO SÁNH Biên soạn: Ths. Tăng Thanh Phương Lưu hành nội bộ Năm 2010
  2. PHẦN I: PHẦN CHUNG Chương 1 Tổng quan về so sánh luật 1. Khái niệm luật so sánh Luật so sánh là một ngành khoa học luật mà chức năng chủ yếu của nó là so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt; sử dụng những sự tương đồng và khác biệt đã tìm ra nhằm giải thích nguồn gốc, đánh giá cách giải quyết trong các hệ thống pháp luật, phân nhóm các hệ thống pháp luật hoặc tìm ra những vấn đề cốt lõi, cơ bản của các hệ thống pháp luật và xử lý những vấn đề mang tính chất phương pháp nảy sinh trong quá trình so sánh luật, bao gồm cả những vấn đề khi nghiên cứu luật nước ngoài. 2. Đối tượng của luật so sánh - Đối tượng vĩ mô: các hệ thống pháp lý (theo nghĩa tương đối, hệ thống pháp lý là luật được áp dụng ở 1 nước). Ví dụ: tìm hiểu sự khác biệt của hệ thống pháp lý của Pháp và Anh. Sự khác biệt có thể do mỗi hệ thống pháp lý chịu ảnh hưởng từ các yếu tố văn hóa, kinh tế, chính trị, tôn giáo,... khác nhau. - Đối tượng vi mô: giải pháp của mỗi hệ thống luật đối với từng vấn đề pháp lý đặc thù. Ví dụ: tìm hiểu các giải pháp khác biệt của luật Pháp và luật Đức đối với khái niệm chiếm hữu. Sự khác biệt có thể do quan điểm về vấn đề (ảnh hưởng từ các yếu tố văn hóa, kinh tế, chính trị, tôn giáo,...), cách nhìn nhận vấn đề, cách sử dụng công cụ kỹ thuật tư duy được dùng để phân tích vấn đề không giống nhau trong các hệ thống luật. 3. Phương pháp - So sánh bằng khái niệm: + Dùng chính khái niệm của luật được so sánh để mô tả luật đó. + Dùng khái niệm luật trong nước để mô tả luật nước ngoài. - So sánh từ các căn cứ lịch sử: tìm hiểu nguồn gốc của giải pháp đặc thù đối với một vấn đề pháp lý. - So sánh dựa vào các yếu tố văn hóa, xã hội: nhằm xem xét sự tác động của các yếu tố này đến văn hoá pháp lý của mỗi hệ thống luật. 4. Lợi ích của việc so sánh luật 1
  3. - Hiểu rõ hơn về luật trong nước: Việc nhìn nhận phân tích luật trong nước trong mối quan hệ so sánh với luật nước ngoài cho phép hiểu rõ hơn về nguồn gốc, bản chất của những giải pháp lớn tạo thành nét đặc thù của luật trong nước. - Giúp hoàn thiện hệ thống luật trong nước:Việc hiểu biết luật nước ngoài cho phép người nghiên cứu luật trong nước có điều kiện cân nhắc, lựa chọn các phương án thúc đẩy sự hoàn thiện của luật trong nước, các phương án được xây dựng từ các kết quả vận dụng các thành tựu của luật nước ngoài. - Tạo điều kiện phát triển quan hệ quốc tế: Việc so sánh luật cho phép hoàn thiện sự hiểu biết về luật nước ngoài và điều đó đặc biệt có ích trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài và trong việc giải quyết các xung đột pháp lý cả về lĩnh vực tư pháp và công pháp quốc tế. - Hình thành một lý luận chung về pháp luật: Việc so sánh luật thúc đẩy sự phát triển một hệ thống pháp luật chung trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực luật thương mại. 5. Phân loại các nền luật học 5.1. Lợi ích và tiêu chí phân loại Việc phân loại các nền luật học cho phép hình dung sự tồn tại của những nhóm hệ thống pháp lý có những điểm tương đồng cơ bản, tạo thành một trường phái phân biệt với các trường phái khác. Sự khác biệt giữa các hệ thống luật không mang ý nghĩa đối lập mà chủ yếu thể hiện tính đa dạng của văn hoá pháp lý và của văn hoá nói chung. Việc phân loại các nền luật học thường dựa vào các nhóm tiêu chí chủ yếu sau đây: - Nhóm tiêu chí gắn liền với quan niệm về trật tự xã hội. - Nhóm tiêu chí gắn liền với quan niệm về vai trò của luật. - Nhóm tiêu chí gắn liền với quan niệm về các nguồn của luật. - Nhóm tiêu chí gắn liền với cách cấu trúc quy phạm pháp luật. 5.2. Cách phân loại truyền thống: luật phương Tây và luật phương Đông 5.2.1. Luật phương Tây - Sự thống nhất của luật phương Tây: luật phương Tây bao gồm các nền luật pháp dựa trên một quan niệm đặc thù về trật tự xã hội và một số nguyên tắc đặc thù thiết lập trên cơ sở quan niệm đó như: nguyên tắc tôn vinh vai trò của cá nhân trong 2
  4. đời sống pháp lý, nguyên tắc về tính thế tục của đời sống pháp lý, nguyên tắc tôn trọng tự do cá nhân. - Sự phân cực của luật phương Tây: Sự phân cực của luật phương Tây thành hai hệ thống lớn – luật la tinh và luật Anh-Mỹ - có nguồn gốc từ sự khác biệt trong việc xây dựng và sử dụng các công cụ kỹ thuật để phân tích, mô tả đối tượng của luật. + Luật la tinh, được hiểu là luật của các nước Châu Âu và Châu Mỹ la tinh. Các nước theo luật la tinh chịu ảnh hưởng sâu sắc của luật La Mã. Luật của các nước này đặc trưng bởi các khái niệm trừu tượng và việc xây dựng các quy tắc tổng quát, bởi việc coi trọng luật viết so với các nguồn khác của luật cũng như bởi việc phân biệt luật nội dung và luật tố tụng. Trong các nước theo luật la tinh, người ta thường thừa nhận sự tồn tại của luật tự nhiên, tức là các quy tắc có giá trị phổ quát, gọi là lẽ phải, lẽ công bằng. Về hình thức, luật la tinh thường được chứa đựng trong các bộ luật + Luật Anh-Mỹ, là luật của Anh, Ireland, Mỹ, Canada và New Zealand. Luật ở các nước này dựa chủ yếu vào các quy tắc được rút ra từ quá trình xét xử các vụ án. Các quy tắc này có tính cụ thể rất cao và, trong nhiều trường hợp, là sự pha trộn giữa luật nội dung và luật tố tụng. Có thể nhận thấy rằng các nước theo trường phái Anh- Mỹ là các nước nói tiếng Anh. - Sự tương đồng giữa luật la tinh và luật Anh-Mỹ: Hai hệ thống luật này ngày càng có những điểm tương đồng do sự gặp gỡ và giao thoa văn hoá. + Về nguồn của luật, các nước theo văn hoá pháp lý la tinh dành cho án lệ một vị trí ngày càng quan trọng. Trong khi đó, các nước theo văn hoá pháp lý Anh-Mỹ ngày càng có xu hướng pháp điển hoá pháp luật của mình. + Về nội dung, các nước theo văn hoá pháp lý Anh-Mỹ bắt đầu dung nạp các khái niệm của luật la tinh, nhất là trong lĩnh vực sở hữu và hợp đồng. Vầ phần mình, các nước theo văn hoá pháp lý la tinh có xu hướng vận dụng các thành tựu của luật Anh-Mỹ trong lĩnh vực thương mại để hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại của mình. 5.2.1. Luật phương Đông Gọi chung là luật phương Đông các nền luật pháp không được xếp vào nhóm luật phương Tây, bao gồm luật châu Phi và luật châu Á. a. Các luật truyền thống: Luật châu Phi, luật Hồi giáo, luật Hindou, luật của các nước châu Á Viễn Đông. 3
  5. *Luật của các nước châu Á Viễn Đông (dựa trên tư tưởng Khổng- Mạnh) - Nguyên tắc tôn vinh vai trò của gia đình: trong quan niệm truyền thống, gia đình, chứ không phải cá nhân, là chủ thể của luật. Gia đình trong luật cổ là chủ sở hữu các tài sản tư và là người có các quyền và nghĩa vụ tài sản trong quan hệ với Nhà nước và với các gia đình khác. - Nguyên tắc trung dung: chủ trương rằng sự cân bằng là mục tiêu cao nhất của xã hội. Chủ nghĩa trung dung lên án các hành động cực đoan, thái quá, đề cao vai trò của việc hoà giải, thừa nhận quyền hạn rộng rãi của chủ gia đình và tôn ti trật tự gia đình, xã hội. b. Các luật hiện đại: Trong thế kỷ 20, Châu Phi và Châu Á chịu tác động rất mạnh của các trào lưu tư tưởng có nguồn gốc từ phương Tây và đã thay đổi một cách sâu sắc. Luật phương Tây tác động vào có thể là luật latinh hoặc luật Anh-Mỹ tuỳ theo nước hữu quan từng là thuộc địa của một nước châu Âu đại lục hay của Anh. Các nước theo chế độ XHCN, như Trung Quốc, Việt Nam còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luật xô viết trong thời kỳ đầu sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Đến thời kỳ hội nhập, mở cửa, các nước này tiếp nhận luật phương Tây, đặc biệt trong việc hiện đại hoá pháp luật dân sự và thương mại. Chương 2 Các hệ thống pháp luật tiêu biểu trên thế giới I. Hệ thống tiêu biểu do tầm ảnh hưởng đối với luật của các nước khác trên thế giới 1. Luật của Pháp 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Luật của Pháp là sự kết hợp giữa luật La mã, luật germanique, luật giáo hội và sự sáng tạo của các nhà luật học. Cách mạng tư sản (1789) đã thủ tiêu hệ thống pháp luật phong kiến, đồng thời thiết lập nền pháp luật mới.Các bộ luật lần lượt ra đời, nổi tiếng nhất là Bộ luật dân sự Napoléon 1804. 1.2. Luật tư - Luật dân sự: Luật dân sự Pháp giải quyết bốn vấn đề lớn: 1. Các chủ thể của luật là ai? 2. Các chủ thể của luật có những quyền gì? 3. Các quyền chủ thể được xác lập và thực hiện như thế nào? 4. Các biện pháp bảo đảm đối với việc thực hiện quyền 4
  6. chủ thể là những biện pháp gì? Luật dân sự còn được gọi là luật chung của hệ thống luật tư, nghĩa là luật được áp dụng trong tất cả các trường hợp không có quy định ngược lại trong các luật riêng. + Luật tài sản của Pháp chịu ảnh hưởng của luật La mã: chấp nhận quyền sở hữu là tuyệt đối và độc quyền, các quan niệm về quyền đối vật và quyền đối nhân. + Luật nghĩa vụ của Pháp bao gồm hai phần: phần lý thuyết chung và luật về các hợp đồng thông dụng. Lý thuyết chung lại được chia thành hai phần lớn: luật hợp đồng và luật trách nhiệm dân sự. Luật hợp đồng cũng chịu ảnh hưởng luật La mã, đồng thời có những nét đặc trưng riêng; một trong những nét đặc trưng đáng chú ý là lý thuyết về nguyên nhân của nghĩa vụ kết ước. Trách nhiệm dân sự được quy kết, trên nguyên tắc, do lỗi (BLDS Điều 1382); nhưng trách nhiệm dân sự không do lỗi cũng được thừa nhận. - Luật thương mại bao gồm các quy tắc chi phối hoạt động nghề nghiệp của thương nhân, có những khái niệm rất đặc thù như hành vi thương mại, sản nghiệp thương mại. Các công ty ở Pháp đều có tư cách pháp nhân trừ loại công ty dự phần. 1.3. Luật công Hệ thống luật công được hoàn thiện trên cơ sở Hiến pháp (Hiến pháp có hiệu lực hiện nay ở Pháp là Hiến pháp 1958). - Luật hiến pháp: Nhà nước Pháp theo chế độ cộng hoà, được tổ chức theo các nguyên tắc của lý thuyết phân quyền. + Cơ quan lập pháp bao gồm Quốc hội và Thượng viện. + Bộ máy hành pháp gồm có Tổng thống và Chính phủ: đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm; Chính phủ có các quyền hạn rộng rãi trong đối nội, còn Tổng thống có các quyền hạn rộng rãi trong đối ngoại. + Hệ thống tư pháp: đứng đầu là Toà phá án. Bên cạnh hệ thống tài phán tư pháp còn có hệ thống tài phán hành chính, do Hội đồng nhà nước đứng đầu. + Hội đồng bảo hiến: có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, đây là thiết chế độc lập với tất cả các thiết chế quyền lực. - Luật hành chính: Hệ thống hành chính được tổ chức và vận hành theo nguyên tắc phi tập trung hoá và tản quyền. Các thiết chế địa phương, bao gồm vùng, tỉnh, quận (ở các thành phố lớn) và xã được trao các quyền hạn rộng rãi để quản lý dân cư theo lãnh thổ. 5
  7. - Hệ thống tư pháp: + Toà án tư pháp được phân thành nhóm: toà án xét xử về nội dung và toà phá án. Toà án xét xử về nội dung lại phân thành các toà án hình sự và toà án dân sự. Toà án hình sự bao gồm toà vi cảnh, toà tiểu hình, toà đại hình, toà án quân sự. Toà án dân sự bao gồm các toà đệ nhất cấp và toà phúc thẩm. Toà phá án không phải là là cấp xét xử về nội dung mà chỉ đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật của các bản án của toà cấp dưới. + Toà án hành chính có ba cấp: sơ thẩm, phúc thẩm và hội đồng nhà nước. Toà án hành chính có thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính và thẩm tra tính hợp pháp của các văn bản lập quy. 2. Luật của Đức 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển Luật của Đức theo truyền thống la tinh. Việc tiếp nhận luật La mã diễn ra từ thế kỷ XIV thông qua việc giảng dạy luật tại các trường đại học. Đến thời kỳ của các nhà nước liên bang, xuất hiện học thuyết về luật tự nhiên, đặc trưng bởi tính duy lý và tính cá nhân chủ nghĩa. Dưới ảnh hưởng của học thuyết này, Đức tiến hành xây dựng các bộ luật. 2.2. Luật tư - Luật dân sự : Bộ luật dân sự Đức được ban hành vào năm 1896, có hiệu lực vào năm 1900, có ảnh hưởng lớn đến luật dân sự Trung Quốc và Nhật Bản. + Luật tài sản của Đức chịu ảnh hưởng của luật La mã: chấp nhận quyền sở hữu là tuyệt đối và độc quyền, các quan niệm về quyền đối vật và quyền đối nhân. Chế độ đăng ký bất động sản được tổ chức rất chặt chẽ. Việc đăng ký một quyền đối vật bất động sản vào sổ địa bộ có tác dụng thiết lập bằng chứng chính thức về sự tồn tại của quyền đó. + Luật hợp đồng cũng chịu ảnh hưởng của luật La mã. Luật cấm một số điều khoản có tác dụng tạo ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, đặc biệt trong trường hợp người ở vị trí bất lợi là người tiêu dùng. + Luật về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng thừa nhận ba nhóm trách nhiệm: trách nhiệm do hành vi của con người; trách nhiệm do lỗi được suy đoán và trách nhiệm do rủi ro. -Luật thương mại : Luật thương mại, được hiểu là luật tư dành cho thương nhân, được quy định chủ yếu trong Bộ luật thương mại năm 1897. Các công ty được 6
  8. thừa nhận tương tự như luật của Pháp. Người Đức là tác giả của mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn. 2.3. Luật công - Bảo vệ các quyền cơ bản : Các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp và được bảo đảm bằng một hệ thống tư pháp rất hữu hiệu. Đặc biệt, luật của Đức cho phép công dân kiện ra toà án để vô hiệu hoá một đạo luật được cho là vi phạm các quy định của hiến pháp liên quan đến các quyền của công dân. - Bảo vệ công dân : Chế độ bảo vệ công dân trong mối quan hệ với quyền lực công được xây dựng rất chặt chẽ. Nó cho phép công dân tiến hành các vụ án nhằm vô hiệu hoá các quyết định hành chính bất hợp lệ của chính quyền (khởi kiện trước toà án hành chính), cũng như yêu cầu bồi thường thiệt hại do hoạt động của chính quyền gây ra (khởi kiện trước toà án dân sự). 3. Luật của Anh 3.1. Lịch sử phát triển 3.1.1. Common law Luật chung của vương quốc. Các vua Anh giao cho các thẩm phán quyền thay mặt mình xét xử các vụ tranh chấp xảy ra trên lãnh thổ. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp ấy, các thẩm phán xây dựng hệ thống án lệ thống nhất trên toàn lãnh thổ Anh bao gồm các quy tắc pha trộn luật nội dung và luật thủ tục. Đến thế kỷ XIII, các án lệ trở nên ổn định và tạo thành khuôn mẫu mà các thẩm phán phải dựa vào để xét xử các vụ việc tương tự. 3.1.2. Equity Luật đối trọng của common law. Trong trường hợp xét thấy các phán quyết của toà án common law là không thoả đáng, người dân có quyền kêu nài đến tận nhà vua. Nhà vua hoặc Chưởng Ấn (được nhà vua Anh uỷ quyền) trực tiếp thụ lý và giải quyết các khiếu nại đó. Trong quá trình giải quyết các khiếu nại, Chưởng Ấn, xây dựng các quy tắc có tính chất khắc phục các nhược điểm của common law. Tập hợp các quy tắc này tạo thành một hệ thống luật gọi là Equity. Sự tồn tại song song của common law và equity. Equity dần dần trở thành một hệ thống luật độc lập bổ sung cho common law, thậm chí trở thành đối trọng của common law. 3.1.3. Luật viết 7
  9. Các đạo luật có nguồn gốc từ nghị viện. Luật viết có giá trị cao hơn common law và equity; tuy nhiên, người làm luật thường chỉ dừng lại ở việc củng cố, hoàn thiện common law và equity, thay vì chống lại các hệ thống luật này. Các văn bản quy phạm khác. Nghị viện có thể uỷ thác quyền lập pháp cho các bộ trưởng. Nghị viện cũng có thể đưa vào luật quốc gia các quy tắc trong các công ước quốc tế hoặc trong luật Châu Âu. 3.2. Luật tư 3.2.1 Luật dân sự. - Luật về hành vi trái pháp luật và luật hợp đồng. + Luật về hành vi trái pháp luật (tort law) là cơ sở của trách nhiệm pháp lý trong cuộc sống dân sự ngoài hợp đồng. Tư tưởng chủ đạo theo truyền thống là người nào có hành vi xâm phạm một quyền hoặc trái với đạo đức thì phải chịu trách nhiệm; tuy nhiên, hệ thống trách nhiệm dân sự hiện đại lại dựa vào khái niệm tắc trách, được hiểu là sự vi phạm đối với nghĩa vụ cư xử thận trọng, đúng mực trong xã hội công dân. + Luật hợp đồng gồm các quy tắc phi phối quan hệ kết ước. Một trong những điều kiện cơ bản để hợp đồng đơn giản có giá trị là sự tồn tại của vật đánh đổi (consideration). Trong trường hợp một bên vi phạm hợp đồng, bên kia có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng. - Luật tài sản. Người Anh không phân biệt giữa quyền đối vật và quyền đối nhân. Thừa nhận sự tồn tại của quyền sở hữu theo nghĩa của luật la tinh, người Anh đồng thời cũng thừa nhận sự tồn tại cùng một lúc của nhiều quyền khác đối với cùng một tài sản. Đặc biệt, trust, một chế định có nguồn gốc từ equity, có thể được coi là biểu tượng của luật tài sản của Anh. 3.2.2 Luật tố tụng dân sự Luật tố tụng dân sự Anh đặc trưng bởi hai tính chất đặc biệt của thủ tục: vấn đáp và cáo buộc. 3.3. Luật công 3.3.1 Luật hành chính Theo truyền thống, người công chức ở Anh trên nguyên tắc được đối xử không khác người dân thường. Bởi vậy, các hành vi của người công chức có thể bị công dân phản bác về mặt tư pháp theo cùng một cách như công dân bình thường, nghĩa là trước toà án thường luật, trừ một số trường hợp ngoại lệ được đưa ra xem xét tại toà 8
  10. án hành chính.Việc kiểm tra tư pháp đối với hoạt động của chính quyền cũng do toà án thường luật thực hiện. 3.3.2 Hê thống tư pháp Hệ thống tư pháp Anh đặc trưng bởi sự thống nhất: tư nhân và cơ quan nhà nước đều chịu sự chi phối của cùng một hệ thống tài phán. - Các nhân vật chính trong hệ thống tư pháp bao gồm các luật sự tư vấn (solicitors), đại luật sư (barristers) và thẩm phán. - Hệ thống toà án chia thành hai bậc: toà án cấp dưới và toà án cấp trên. Toà án tối cao là một thiết chế mới. + Toà án cấp dưới bao gồm toà hoà giải và toà quận. + Toà án cấp trên bao gồm toà cấp cao, toà của vương quyền và toà phúc thẩm. II. Hệ thống tiêu biểu do sức mạnh kinh tế của nước đại diện 1. Luật của Mỹ 1.1 Lịch sử hình thành Thời kỳ đầu. Vốn là thuộc địa của Anh, luật của Mỹ thực sự là một dòng của trường phái anglo-saxon.Việc Mỹ giành độc lập không hề có ảnh hưởng đối với việc tiếp tục duy trì và phát triển common law, trừ trường hợp của Bang Louisiana. Tuy nhiên, từ năm 1820, nhiều tiểu bang của Mỹ có xu hướng ghi nhận các quy tắc của common law thành các bộ luật. Thời kỳ hiện đại. Các tiểu bang có quyền hạn rộng rãi trong việc xây dựng hệ thống pháp luật riêng của bang mình, bên cạnh hệ thống pháp luật liên bang. Tuy nhiên, các tiểu bang cũng cố gắng làm thế nào để tránh sự xung đột luật lệ giữa các tiểu bang với nhau. 1.2 Luật tư - Luật dân sự: + Luật về hành vi trái pháp luật (tort law): Các hành vi trái pháp luật, trong quan niệm truyền thống, được xếp thành hai nhóm lớn: hành vi trái pháp luật của bản thân và hành vi trái pháp luật thông qua vai trò của người khác. + Luật hợp đồng: chịu ảnh hưởng luật của Anh, nhưng được hiện đại hoá. 9
  11. + Luật sở hữu bất động sản: cũng theo truyền thống Anh, nghĩa là đặc trưng bằng sự thừa nhận nhiều quyền cùng một lúc cho nhiều người khác nhau đối với cùng một bất động sản. - Luật tố tụng dân sự: Hệ thống tố tụng có nguồn gốc từ Anh, nhưng được hoàn thiện ở trình độ rất cao và đặc trưng bởi hai yếu tố: thủ tục nguyên cáo và hệ thống bồi thẩm dân sự. 1. 3. Luật công - Tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống bảo hiến. Mỹ là một nước liên bang. Thẩm quyền nhà nước được phân bổ giữa các tiểu bang và liên bang tại hiến pháp liên bang. Cả liên bang và mỗi tiểu bang đều có bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp của mình. Về phương diện lập pháp, nhà nước liên bang có quyền thiết lập hệ thống thuế thống nhất, quy định hoạt động thương mại giữa các tiểu bang, quy định các quyền tự do cá nhân quan trọng nhất và nói chung ban hành các luật có tác dụng Chức năng bảo hiến do Tối cao pháp viện đảm nhận. Tối cao pháp viện thực sự trở thành cơ quan có thẩm quyền giải thích hiến pháp. Bên cạnh đó, các toà án, trong quá trình xét xử, có bổn phận từ chối áp dụng một đạo luật, dù là của liên bang hay của tiểu bang, một khi đạo luật ấy bị cho là trái với hiến pháp, đặc biệt là hiến pháp liên bang. - Tổ chức tư pháp. Hệ thống tư pháp độc lập với bộ máy hành pháp và bộ máy lập pháp. Quy chế pháp lý của các thẩm phán cũng không giống nhau: thẩm phán liên bang do cơ quan hành pháp bổ nhiệm; thẩm phán tiểu bang do nghị viện tiểu bang hoặc thậm chí do nhân dân bầu ra. + Ở cấp tiểu bang có thẩm phán hoà giải, toà án quận và tối cao pháp viện tiểu bang. + Ở cấp liên bang có các toà án liên bang đặc khu, toà phúc thẩm liên bang và các toà án đặc biệt. 2. Luật của Trung Quốc 2.2.1. Lịch sử hình thành - Trung Quốc cổ đại và phong kiến. Trong quan niệm cổ xưa, luật được hiểu là các quy tắc dùng để xử phạt, để trấn áp. Cuộc sống bình thường của con người không dựa vào luật mà dựa vào các nghi lễ hình thành trong khuôn khổ các học thuyết của Khổng tử và Mạnh tử. Trung Quốc xây dựng khá nhiều bộ luật cổ, nổi tiếng nhất có lẽ là bộ luật nhà Đường (624), có ảnh hưởng đối với nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. 10
  12. Thời cận đại, dưới sức ép của giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức, Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng hệ thống luật pháp theo mô hình phương Tây. Năm 1911, Trung Quốc chuyển sang chế độ Cộng hoà và xây dựng các thiết chế chính trị đặc trưng của Nhà nước tư sản; hệ thống pháp luật cũng được quan tâm hoàn thiện mà đỉnh cao là việc ban hành Bộ luật dân sự năm 1930. Nội dung của bộ luật này chịu ảnh hưởng nhiều từ luật của Đức. - Kỹ nguyên xã hội chủ nghĩa. Năm 1949 chế độ XHCN được xây dựng trên lãnh thổ Trung hoa lục địa. Mô hình Nhà nước XHCN thuần tuý không tương thích với ý tưởng cai trị bằng pháp luật; bởi vậy, hệ thống pháp luật không phát triển. Tuy nhiên, sau khi có chính sách đổi mới, những người lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra học thuyết Nhà nước pháp quyền XHCN. Việc xây dựng pháp luật đã được quan tâm thực hiện và hệ thống pháp luật phát triển trên cơ sở vận dụng các thành tựu của luật phương Tây vào hoàn cảnh của Trung Quốc. 2.2.2. Luật tư - Luật dân sự. + Luật tài sản: Luật Trung Quốc tiếp nhận khái niệm quyền đối vật của luật la tinh. Tuy nhiên, chế độ sở hữu bất động sản tại Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của chế độ chính trị, có nhiều nét đặc thù. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân hoặc tập thể, các chủ thể khác của luật chỉ có quyền sử dụng. Quyền này không ngừng được mở rộng và hoàn thiện, trở thành cơ sở của chế độ sở hữu tư nhân về bất động sản. + Luật hợp đồng: chịu ảnh hưởng luật của Đức. Trong một số trường hợp, luật cho phép thẩm phán sửa đổi nội dung hợp đồng thay vì tuyên bố hợp đồng vô hiệu (ví dụ, khi hợp đồng gây thiệt hại cho một bên một cách phi đạo đức). + Luật trách nhiệm dân sự cũng chịu ảnh hưởng luật của Đức. Trách nhiệm chỉ được quy kết khi có một hành vi gây phương hại đến một quyền. Trên nguyên tắc, tác giả của hành vi chịu trách nhiệm khi có lỗi; tuy nhiên, trong một số trường hợp, trách nhiệm có thể được quy kết mà không cần lỗi. - Luật kinh doanh. Luật kinh doanh của Trung Quốc vừa chịu ảnh hưởng của luật phương Tây, vừa mang tính đặc thù Trung hoa. 2.2.3. Luật công - Tổ chức nhà nước. Nhà nước Trung Quốc là Nhà nước XHCN, đặc trưng bởi vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Từ khi áp dụng chính sách đổi mới, Nhà nước Trung Quốc cũng là một nhà nước pháp quyền, được xây dựng trên các nguyên tắc tôn trọng quyền con người và trên cơ sở vận dụng 11
  13. có chọn lọc các yếu tố của học thuyết phân quyền phù hợp với đặc điểm của Trung Quốc. + Cơ cấu hành chính của lãnh thổ quốc gia được xây dựng theo mô hình Nhà nước đơn nhất phi tập trung hoá. + Các thiết chế quyền lực đáng chú ý nhất bao gồm: Quốc hội nhân dân, Quốc vụ viện, Uỷ ban quân sự trung ương và Chủ tịch nước. - Tổ chức tư pháp. Hệ thống Toà án được tổ chức theo 4 cấp: Toà án nhân dân tối cao, toà án tỉnh và cấp tương đương, toà án trung gian và toà án địa phương. Mỗi toà án có một viện công tố, có quyền điều tra và truy tố và kiểm sát đối với lực lượng cảnh sát tư pháp cũng như các trại giam. 3. Luật của Nhật Bản 3.1 Lịch sử hình thành và phát triển - Phật giáo và các tín điều của Thần đạo truyền thống đã đặt cơ sở cho việc xây dựng các quy tắc ứng xử trong cuộc sống xã hội. Chế độ quân chủ cổ xưa được xây dựng theo mô hình Trung Quốc, cho phép việc ban hành các bộ luật theo khuôn mẫu Trung hoa, nghĩa là bao gồm các quy tắc hà khắc, mang tính trấn áp, bên cạnh các điều răn đối với quan lại trong quá trình thực hiện chức năng xã hội của mình. - Từ thế kỷ XII, xã hội phong kiến được tổ chức lại theo một hệ thống đẳng cấp chặt chẽ, mà đứng đầu là các võ sĩ đạo. Với hệ thống đẳng cấp đó, người thuộc tầng lớp dưới phục tùng tuyệt đối người thuộc tầng lớp trên. Xã hội này không có chỗ cho luật pháp. - Đến khi Minh Trị lên ngôi, Nhật mới bắt đầu cải tổ xã hội theo mô hình phương Tây và điều đó cho phép xây dựng một hệ thống pháp luật đặt cơ sở cho việc quản lý xã hội. Lúc đầu, luật của Nhật Bản chịu ảnh hưởng luật của Pháp, nhưng sau đó người Nhật đã hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình theo mô hình của Đức. - Sau chiến tranh thế giới thứ II, một cuộc cách mạng chính trị-xã hội được tiến hành dưới sự bảo trợ của Mỹ: cuộc sống xã hội được thế tục hoá, các quyền cơ bản của cá nhân được thừa nhận, luật gia đình truyền thống được thay thế bằng hệ thống pháp lý về gia đình dựa trên nguyên tắc bình đẳng,… 3.2. Luật tư. - Luật tài sản của Nhật được xây dựng theo mô hình la tinh. Các quyền đối vật được thừa nhận; khái niệm chiếm hữu hình thành theo quan niệm của Savigny nghĩa là theo cùng một trường phái với người Pháp; việc xác lập quyền sở hữu cũng chịu ảnh hưởng luật của Pháp. 12
  14. - Luật hợp đồng được xây dựng chủ yếu dựa theo luật của Đức. - Trách nhiệm dân sự được quy kết một khi có đủ ba điều kiện: có lỗi, có thiệt hại đối với một quyền nào đó (ảnh hưởng luật của Đức) và có mối liên hệ nhân quả. Một số trường hợp trách nhiệm dân sự đặc biệt được quy kết theo chế độ riêng, như trách nhiệm do hành vi của người thừa hành, trách nhiệm dân sự do tác động của nhà cửa, trách nhiệm dân sự liên quan đến việc sử dụng các sản phẩm,… 3.3. Luật công. Nhật Bản theo chế độ quan chủ lập hiến. Nhà vua, sau chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ còn là một biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, chứ không có một quyền lực nào. Quyền lập pháp thuộc về Viện dân biểu và Viện cố vấn. Thủ tướng là người đứng đầu bộ máy hành pháp, được giao các quyền hạn rộng rãi cả trong đối nội và đối ngoại, chịu trách nhiệm trước các cơ quan lập pháp. Toà án tối cao là cơ quan đứng đầu hệ thống tư pháp, được giao quyền bảo hiến, quyền tài phán tối cao và cả quyền quản lý hành chính đối với bộ máy tư pháp. Hệ thống toà án được tổ chức theo mô hình Mỹ, nghĩa là có thẩm quyền đối với mọi vụ việc, kể cả việc bảo hiến. PHẦN II- PHẦN CHUYÊN ĐỀ Chuyên đề 1 Quyền chiếm hữu trong luật các nước châu Âu và Mỹ I. Tổng quan Trong luật hiện đại của Châu Âu và Mỹ, chiếm hữu được quan niệm theo một trong hai cách: 1. Chiếm hữu là một tình trạng thực tế chứ không phải là một quyền. Chiếm hữu một quyền là việc thực hiện quyền đó trên thực tế. Chiếm hữu một quyền sở hữu là việc thực hiện quyền sở hữu trên thực tế. Trong chừng mực đó, chiếm hữu phân biệt với sở hữu: sở hữu là một quyền, trong khi chiếm hữu là biểu hiện bên ngoài của quyền đó. Sự biểu hiện bên ngoài của quyền sở hữu có thể là sự phản ánh trung thực nội dung bên trong, mà cũng có thể là sự phản ánh không trung thực nội dung đó. 2. Chiếm hữu là một quyền hình thức độc lập với quyền sở hữu là quyền nội dung Quyền chiếm hữu là quyền thực hiện sự kiểm soát vật chất đối với tài sản. Bất kỳ người nào thực hiện sự kiểm soát vật chất đối với tài sản một cách độc lập đều được coi là người chiếm hữu, dù, nếu đi vào nội dung của quyền đối với tài 13
  15. sản thì những người đó có thể được đặt tên không giống nhau: chủ sở hữu, người thuê, người nhận ký gửi...  Nội dung của quyền sở hữu theo luật các nước trên: chỉ bao gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt.  Nội dung của quyền sở hữu theo luật Việt Nam1 bao gồm cả 3 quyền: quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền chiếm hữu (Đ. 164 BLDS). II. Nguồn gốc của chế định chiếm hữu Chế định chiếm hữu có nguồn gốc từ trong Luật La Mã (Đế quốc La Mã hình thành từ thế kỷ 8 trước CN, Luật 12 Bảng được ban hành vào khoảng năm 451 đến 449 trước CN) Các cuộc chinh phục của quân đội La Mã có tác dụng mở rộng lãnh thổ của Đế quốc cổ đại. Do chiến tranh và do thiếu nhân lực khai thác, phần lớn đất đai của Đế quốc bị bỏ hoang. Để có được người khai thác, Nhà nước kêu gọi sự di thực tình nguyện. Người chiếm giữ đất được coi như có một tư cách cho phép người này được hưởng các biện pháp bảo vệ của Nhà nước, giống như các biện pháp bảo vệ dành cho chủ sở hữu, chống lại sự xâm phạm hoặc quấy nhiễu của người khác đối với sự chiếm giữ tài sản của mình. Đến thời Cổ điển, sự chiếm giữ thực tế đối với tài sản trở thành cơ sở của đa số các giao dịch pháp lý: nhiều hợp đồng coi như được giao kết bằng cách chuyển giao vật chất đối tượng của hợp đồng. Trong lĩnh vực pháp luật tài sản, chiếm hữu là cơ sở của hầu như tất cả các phương thức xác lập quyền sở hữu đối với tài sản. - Quyền sở hữu theo Luật La Mã bao gồm các quyền: + Usus: dùng, sử dụng + Frustus: hưởng thụ + Abusus: định đoạt - Chiếm hữu theo quan niệm của Luật La Mã: là quan hệ thực tế giữa một người và một vật, người đó, gọi là người chiếm hữu có quyền thực hiện các giao dịch vật chất liên quan dến tài sản chiếm hữu. Người chiếm hữu, có thể là chủ sở hữu hoặc không phải là chủ sở hữu đối với tài sản chiếm hữu. 1 - Điều 164 BLDS: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. - Điều 182 BLDS: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. - Điều 192 BLDS: Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. - Điều 195 BLDS: Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. 14
  16. - Chiếm hữu được đặc trưng bằng yếu tố khách quan (corpus) và yếu tố chủ quan (animus). + Yếu tố khách quan (corpus): đặc trưng bằng việc thực hiện các giao dịch mang tính vật chất tác động lên tài sản, những giao dịch mà một người có quyền sở hữu được phép thực hiện đối với tài sản của mình: cất giữ đồ trang sức trong nhà, canh tác trên đất, thu tiền thuê tài sản,... + Yếu tố chủ quan (animus): đặc trưng bằng thái độ tâm lý của chủ sở hữu, biểu hiện khi thực hiện các giao dịch mang tính vật chất tác động lên tài sản, thể hiện thành cung cách cư xử mang tính quyền lực đối với tài sản. Nói rõ hơn, người chiếm hữu là người ra vẻ của một chủ sở hữu đối với tài sản chiếm hữu. III. Các lợi ích của việc xây dựng chế định chiếm hữu phân biệt với chế định sở hữu: 1. Cho phép xây dựng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo biểu hiện bề ngoài: - Quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - Xâm phạm việc chiếm hữu mà không tranh chấp về quyền sở hữu 2. Bảo đảm trật tự xã hội dựa trên cơ sở sự suy đoán có quyền, góp phần duy trì trật tự xã hội: Người chiếm hữu được suy đoán là chủ sở hữu. Do vậy, nếu có tranh chấp xảy ra trách nhiệm chứng minh sẽ thuộc về người không chiếm hữu. IV. Các học thuyết về chiếm hữu trong luật cận đại: 1. Quan niệm của Savigny. Đối với Savigny, chiếm hữu được hiểu như là một tình trạng thực tế, là biểu hiện bên ngoài của quyền sở hữu. Chịu ảnh hưởng của Luật La Mã, Savigny cho rằng quan niệm về chiếm hữu phải được xây dựng trên cơ sở xem xét thái độ của người có tài sản trong mối quan hệ với tài sản đó: chỉ coi là có sự chiếm hữu một khi người có tài sản cư xử theo cung cách của một người chủ sở hữu đối với tài sản, dù, có thể, khi xem xét nội dung của quyền, người này thực ra không phải là chủ sở hữu đối với tài sản. Bởi vậy, tình trạng chiếm hữu hình thành từ hai yếu tố: yếu tố khách quan (corpus) và yếu tố chủ quan (animus). Với Savigny, không thể có chiếm hữu mà không có yếu tố khách quan, nhưng chính yếu tố chủ quan mới là yếu tố chính, là cơ sở của quan hệ chiếm hữu. 2. Quan niệm của Ihering. 15
  17. Ihering không dành cho animus vị trí mà Savigny đã dành cho nó. Theo Ihering, yếu tố chủ quan luôn phải được ức đoán mỗi khi một người thực hiện một giao dịch vật chất tác động lên tài sản trong tư thế không phụ thuộc vào một người khác (như người làm công lệ thuộc vào chủ khi sử dụng công cụ lao động do chủ cung cấp). Tư cách người chiếm hữu, do đó, phải được thừa nhận cho tất cả những người nào thực hiện một cách độc lập một quyền lực thực tế đối với tài sản và đặt tài sản dưới sự kiểm soát vật chất của mình mà không cần tìm hiểu xem đương sự có hay không có animus (đúng hơn là animus coi như được thể hiện đầy đủ trong bản thân việc thực hiện các giao dịch vật chất tác động lên tài sản trong tư thế của một người không phụ thuộc). . V. Giải pháp của các hệ thống luật tiêu biểu 1. Luật của Pháp 1.1.Quan niệm về chiếm hữu Do ảnh hưởng của Luật La Mã, quan niệm về chiếm hữu trong luật của Pháp rất giống với quan niệm của Savigny: người chiếm hữu là người thực hiện các giao dịch vật chất tác động lên tài sản theo cung cách của một người có quyền sở hữu; người thực hiện các giao dịch vật chất tác động lên tài sản mà một chủ sở hữu có quyền thực hiện, nhưng lại không theo cung cách của một người có quyền sở hữu, là người cầm giữ tài sản. Điều kiện thiết lập sự chiếm hữu. Sự chiếm hữu chỉ coi là được thiết lập một khi có đủ các yếu tố khách quan và chủ quan. Riêng yếu tố chủ quan được suy đoán cho người thực hiện việc chiếm hữu. Vả lại, các yếu tố khách quan hoặc chủ quan phải hội đủ các điều kiện: liên tục, không dựa vào vũ lực, công khai và không mập mờ. 1.2. Hiệu lực 1.2.1 Bảo vệ sự chiếm hữu - Quyền kiện yêu cầu bảo vệ sự chiếm hữu: Trong luật thực định Pháp, người chiếm hữu được bảo vệ bằng một quyền khởi kiện đặc biệt, gọi là quyền yêu cầu bảo vệ sự chiếm hữu, chống lại sự quấy nhiễu của người khác đối với sự chiếm hữu của mình. Người chiếm hữu được bảo vệ với tư cách đó và thẩm phán chỉ có quyền xem xét các điều kiện của sự chiếm hữu mà không được tìm hiểu để biết liệu người chiếm hữu thực sự là người có quyền đối với tài sản. Quyền yêu cầu bảo vệ sự chiếm hữu, trong chừng mực đó, khác với quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu: một người yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu của mình phải chứng minh được tư cách chủ sở hữu đối với tài sản tranh chấp. 16
  18. - Ngưòi được bảo vệ: + Trước luật 75-596 ngày 9/07/1975: người có corpus và animus, người có animus. + Từ khi luật 75-596 ngày 9/07/1975 có hiệu lực: người có corpus và animus, người có animus và cả người chỉ có corpus. - Hiệu lực của việc bảo vệ: Người quấy nhiễu bị buộc phải ngưng việc quấy nhiễu. Người chiếm hữu tiếp tục chiếm hữu tài sản (Việc chiếm hữu này chỉ chấm dứt khi nào người quấy nhiễu thắng kiện trong một vụ kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nếu thật sự chứngminh được quyền sở hữu tài sản của mình). 1.2.2 Suy đoán có quyền. Người chiếm hữu được suy đoán là người thực sự có quyền đối với tài sản chiếm hữu. Giải pháp này được xây dựng từ thực tiễn. Thực vậy, người chiếm hữu, do đã có quyền yêu cầu bảo vệ sự chiếm hữu, không phải kiện để tranh chấp với người khác về nội dung quyền của mình đối với tài sản mà luôn ở trong tình trạng chờ người khác tranh chấp với mình. Trong điều kiện luôn là bị đơn trong một vụ tranh chấp về quyền, người chiếm hữu phải được suy đoán là người có quyền và người đi kiện phải chứng minh điều ngược lại. 1.2.3 Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu - Đối với động sản, người chiếm hữu được coi là chủ sở hữu. Tuy nhiên, người nào đã đánh mất hoặc bị mất trộm một vật thì có quyền đòi lại vật từ người đang giữ trong thời hạn ba năm kể từ ngày đánh mất hoặc mất trộm, nhưng người giữ vật có thể kiện người đã chuyển nhượng vật cho mình. - Đối với bất động sản, thời hiệu để xác lập quyền sở hữu cho người chiếm hữu là 30 năm. Tuy nhiên, người nào ngay tình và bằng chứng thư hợp thức đã mua một bất động sản thì sau mười năm sẽ trở thành chủ sở hữu. 2. Luật của Đức. 2.1. Quan niệm về chiếm hữu Quyền thực tế. Rất hoà hợp với học thuyết của Ihering, luật của Đức thừa nhận tư cách người chiếm hữu cho cả loại người mà luật của Pháp gọi là người cầm giữ đơn giản. Bất kỳ người nào thực hiện sự kiểm soát vật chất đối với tài sản một cách độc lập (có yếu tố corpus) đều được coi là người chiếm hữu, dù, nếu đi vào nội dung của quyền đối với tài sản, thì những người đó có thể được đặt tên không giống nhau: chủ sở hữu, người thuê, người nhận ký gửi... Những người chiếm hữu được bảo vệ trong trường hợp việc chiếm hữu của mình bị người khác quấy nhiễu, dù có thể sự 17
  19. quấy nhiễu đó xuất phát từ một người thực sự có quyền đối với tài sản, chừng nào cuộc tranh cãi về quyền của các đương sự chưa kết thúc bằng một bản án của Toà án. 2.2 Bảo vệ sự chiếm hữu 2.2.1 Bảo vệ sự chiếm hữu - Quyền kiện yêu cầu bảo vệ sự chiếm hữu: tương tự trong luật của Pháp. - Ngưòi được bảo vệ: người có corpus và animus, người có corpus và cả người chỉ có animus. - Hiệu lực của việc bảo vệ: tương tự trong luật của Pháp. 2..2.2 Suy đoán có quyền. Tương tự trong luật của Pháp. 2.2.3 Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong luật của Đức chỉ được áp dụng đối với động sản: quyền sở hữu đối với các bất động sản ở Đức được xác lập bằng cách đăng ký. Luật của Đức thừa nhận rằng một người chiếm hữu ngay tình đối với một động sản trong 10 năm sẽ là chủ sở hữu của động sản đó. 3.Luật Anh-Mỹ. 3.1. Quan niệm về quyền chiếm hữu. Tình trạng chiếm hữu hình thành mỗi khi có hành vi kiểm soát vật chất đối với tài sản cho phép tin rằng người thực hiện hành vi đó thể hiện cung cách cư xử của một chủ sở hữu thông qua hành vi đó. Chiếm hữu, trong điều kiện đó, được hiểu về phương diện pháp lý như là tập hợp các quyền mà đương sự có được do quy định của pháp luật, gọi là các quyền chiếm hữu, các quyền mà việc thực hiện có tác dụng khôi phục, duy trì hoặc củng cố tình trạng chiếm hữu của đương sự đối với tài sản và việc thực hiện đó được pháp luật bảo đảm, ngay cả trong trường hợp đương sự, cuối cùng, lại không phải là chủ sở hữu thực sự đối với tài sản cũng không phải được chủ sở hữu chuyển giao tài sản đó. Quyền chiếm hữu được ghi nhận một khi có đủ các yếu tố cho thấy tài sản được đặt dưới sự kiểm soát của một người với ý thức về quyền năng của mình đối với tài sản đó. Cái gọi là “ý thức về quyền năng”, về phần mình, được xác định tùy theo trường hợp. Cần nhấn mạnh rằng trong luật Anh-Mỹ, quyền chiếm hữu luôn gắn với yếu tố vật chất: nếu A cho B mượn một quyển sách để đọc, thì B là người chiếm hữu, trong 18
  20. khi A là chủ sở hữu. Trong chừng mực đó, khái niệm chiếm hữu phân biệt với khái niệm sở hữu. 3.2 Bảo vệ sự chiếm hữu 3.2.1 Bảo vệ sự chiếm hữu - Quyền kiện yêu cầu bảo vệ sự chiếm hữu: tương tự trong luật của Pháp, Đức. - Ngưòi được bảo vệ: người có corpus và animus, người có corpus. - Hiệu lực của việc bảo vệ: tương tự trong luật của Pháp. 3.2.2 Suy đoán có quyền. Tương tự trong luật của Pháp, Đức. 3.2.3 Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. - Đối với động sản, luật nói rằng người chiếm hữu xác lập được quyền sở hữu sau thời gian 6 năm chiếm hữu liên tục: nếu chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản sau 6 năm mất quyền chiếm hữu, thì quyền kiện đòi lại sẽ không được Tòa án tiếp nhận. Song, nếu chủ sở hữu tự mình thiết lập lại quyền chiếm hữu đối với tài sản sau 6 năm nhưng trong vòng 12 năm kể từ ngày mất quyền chiếm hữu, thì người đang chiếm hữu lại không có quyền kiện đòi lại tài sản. Điều đó có nghĩa rằng người chiếm hữu một động sản chỉ cầm chắc rằng mình có quyền sở hữu sau 12 năm chiếm hữu liên tục. - Đối với bất động sản, người chiếm hữu cũng có 12 năm để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu; nhưng thời hạn 12 năm được tính từ ngày người này được thừa nhận có tư cách để chiếm hữu tài sản chứ không phải từ ngày chiếm hữu thực tế đối với tài sản đó. Chuyên đề 2 Tổng quan chế độ pháp lý về giao kết hợp đồng I. Điều kiện chung về giao kết 1. Ý chí và sự xác định 1.1. Ý chí bộc lộ và ý chí tiềm ẩn a. Luật của Anh- Mỹ Trong trường hợp có tranh cãi về sự tồn tại của hợp đồng, để xác định sự tồn tại của một hợp đồng, thẩm phán chỉ dựa vào ý chí được bày tỏ và vào cách xử sự của các bên đối với nhau, chứ không dựa vào ý chí bên trong và không được bộc lộ của các bên. 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản