intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Quản trị học - TS. Vũ Thế Phú

Chia sẻ: Sdfv Sdfv | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:122

1.268
lượt xem
377
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Quản trị học do TS. Vũ Thế Phú biên soạn. Nội dung trình bày về bản chất của quản trị, sự phát triển của lý thuyết quản trị, doanh nghiệp và nhà kinh doanh, ra quyết định quản trị,...Mời bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Quản trị học - TS. Vũ Thế Phú

  1. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA QUA TRUYỀN HÌNH - TRUYỀN THANH – MẠNG INTERNET GIÁO TRÌNH QUẢN TRỊ HỌC PGS. TS. VŨ THẾ PHÚ PGS. TS. VŨ THẾ PHÚ Năm 2006
  2. Quản Trị Học PHẦN MỞ ĐầU 1. NỘI DUNG MÔN HỌC  Bài 1: Bản Chất Của Quản Trị  Bài 2: Sự Phát Triển Của Lý Thuyết Quản Trị  Bài 3: Doanh Nghiệp Và Nhà Kinh Doanh  Bài 4: Nhà Quản Trị  Bài 5: Ra Quyết Định Quản Trị  Bài 6: Hoạch Định  Bài 7: Tổ Chức  Bài 8: Cơ Cấu Tổ Chức Quản Trị  Bài 9: Quản Trị Nguồn Nhân Lực  Bài 10: Thông Tin Quản Trị  Bài 11: Lãnh Đạo  Bài 12: Kiểm Tra 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC Việc nghiên cứu phương pháp của quản trị học rất quan trọng. Bởi vì, phải chọn đúng các vì sao để chúng giúp cho quản trị học tiến xa hơn nữa. Phương pháp luận đúng sẽ là một hệ phóng từ đó vút lên các “tên lửa”: Những công trình nghiên cứu cụ thể về quản trị. Quản trị học lấy phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích logic làm phương pháp luận chung để nghiên cứu các vấn đề quản trị. Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu, giải quyết các vấn đề quản trị phải có quan điểm lịch sử, quan điểm tổng hợp và quan điểm hệ thống. Cần phải nghiên cứu các vấn đề quản trị trong những điều kiện lịch sử cụ thể có tính đến những kinh nghiệm cụ thể, những thành tựu và triển vọng. Quan điểm này nghiên cứu vấn đề toàn diện, nghiên cứu các hiện tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Như vậy, khi nghiên cứu một vấn đề gì đó, phải tính đến tất cả các yếu tố: Kinh tế, chính trị, tâm lý và xã hội, luật pháp… Trang 3
  3. Quản Trị Học Quan điểm và phương pháp hệ thống giữ một vai trò quan trọng trong quản trị. Nó cho phép xem xét hệ thống quản trị và bị quản trị như là một tổng thể toàn vẹn của các yếu tố có liên hệ qua lại với nhau được thống nhất bởi mục đích chung tìm ra đặc tính của hệ thống, các mối liên hệ bên trong, bên ngoài của hệ thống. Khi nghiên cứu các vấn đề quản trị cần có quan điểm hệ thống: Phải tính đến những đặc điểm của toàn bộ hệ thống, các bộ phận trong hệ thống và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Nhờ phương pháp luận đúng, quản trị có thể khai thác các tiềm năng giống như quá trình tách các hạt nhân nguyên tử để phóng ra các năng lượng khổng lồ mà trước đó chúng chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng trong hệ thống này hoặc hệ thống khác mà thôi. Trang 4
  4. Quản Trị Học BÀI 1 BẢN CHẤT CỦA QUẢN TRỊ Mục đích yêu cầu  Phân biệt được hoạt động quản trị và khoa học quản trị  Nắm được mục đích và tầm quan trọng của quản trị  Hiểu được những định nghĩa chính của quản trị  Thấy được quản trị là một nghệ thuật  Nắm vững khái niệm hiệu quả của quản trị 1. KHÁI NIỆM 1.1. HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ VÀ KHAO HỌC QUẢN TRỊ  Hoạt động quản trị đã có từ rất xa xưa do yêu cầu của lao động tập thể cùng với sự xuất hiện của các Bộ lạc, các tập thể người. Quản trị ra đời cùng với sự xuất hiện của sự hợp tác và phân công lao động. Đó là một yêu cầu tất yếu khách quan. Lao động tập thể đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng, sự điều khiển, sự chỉ dẫn cụ thể đối với từng cá nhân để hoàn thành công việc chung.  Theo C.Mác: “Một nghệ sĩ chơi đàn thì tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng.  Ai cũng biết “cai trị” là một nghệ thuật có từ thời cổ xưa gắn liền với các Nhà nước phong kiến cổ đại ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp… Những công trình cổ như Kim tự tháp Ai Cập, Vạn lý trường thành… thể hiện nghệ thuật điều khiển, chỉ huy, tổ chức của những nhà quản trị tài giỏi đến mức nào! Có thể nói, sản xuất xã hội và nhân loại không thể tồn tại và phát triển nếu không có quản trị. Quản trị ngày nay đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Gia đình, đoàn thể, đội bóng, đoàn văn công, nhà thờ; chùa chiền, tổ sản xuất, hợp tác xã, xí nghiệp… Tất cả mọi lĩnh vực đều cần đến quản trị. Một nhà kinh tế của Thụy Điển nói rằng: Ngày nay, thậm chí trong mỗi bước đi hay bấm công tắc đèn đều có liên quan đến quản trị. Tuy nhiên, khoa học quản trị hay “Quản trị học” chỉ mới xuất hiện những năm gần đây và người ta coi quản trị học là một trong những ngành khoa học mới mẻ nhất của nhân loại. Trang 5
  5. Quản Trị Học Năm 1911 ở Mỹ, Frederick W.Taylor cho ra đời cuốn “Những nguyên tắc quản trị khoa học” (The Principles scientific Managerment). Sau đó ít lâu vào năm 1916 ờ Pháp Henri Fayol, người được coi là “Sáng lập gia” của khoa học quản trị hiện đại đã cho xuất bản một tác phẩm lừng danh “Quản trị tổng quát” và “Quản trị công nghiệp” (Administration Industrielle et Générale). Trong những năm 1918 – 1923 ở nước Nga, những nguyên tắc quản trị xã hội chủ nghĩa được V.I.Lénine nêu lên trên một loạt các bài báo và các bài phát biểu của Người. Những tác phẩm xuất sắc này cùng với những công trình nghiên cứu nổi tiếng khác đã đặt cơ sở lý luận cho khoa học quản trị hiện đại. 1.2. MỤC ĐÍCH CỦA QUẢN TRỊ Khi nói đến sản xuất không chỉ nói đến việc sản xuất ra những sản phẩm gì, mà điều quan trọng hơn là nói đến việc sản xuất ra sản phẩm đó như thế nào? Năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh ra sao. Điều này có liên quan trực tiếp đến mục đích quản trị. Chúng ta biết rằng, tham gia vào bất kỳ một quá trình sản xuất nào để chế tạo ra sản phẩm, bao giờ cũng phải có đầy đủ 3 yếu tố:  Đối tượng lao động (nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ)  Tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…)  Sức lao động hay nhân công. Để minh họa chúng ta dùng sơ đồ sau đây: - Số lượng Đối tượng - Chất lượng lao động - Giá thành - Doanh số - … Tư liệu Quá trình Quá trình - … lao động sản xuất sản xuất - Lợi nhuận Sức lao động Đầu vào Đầu ra Trang 6
  6. Quản Trị Học Nhiệm vụ của quản trị là sử dụng hợp lý và tiết kiệm nhất đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động để giảm chi phí đầu vào và nâng cao kết quả sản xuất đầu ra, thể hiện ở số lượng sản phẩm nhiều, chất lượng sản phẩm cao, giá thành sản phẩm hạ. Nói cách khác, sở dĩ cần có quản trị là đạt hiệu quả tối đa. Quản trị đảm bảo được điều đó chính là nhờ ở chỗ có mục tiêu rõ ràng, kế hoạch chu đáo, tổ chức hợp lý, phối hợp chặt chẽ nên sử dụng sức lao động, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu một cách có hiệu quả nhất. 1.3. TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ Quản trị có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Một, doanh nghiệp quản trị tốt, sản xuất sẽ phát triển, kinh doanh có hiệu quả. Một Quốc gia quản trị giỏi, nền kinh tế sẽ tăng trưởng với tốc độ cao, hàng hóa nhiều, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ luôn được cải thiện và nâng cao. Ngược lại, một doanh nghiệp quản trị kém sẽ kìm hãm sự phát triển nền kinh tế quốc dân, không giải quyết được những khó khăn trở ngại, không khai thác được những tiềm năng to lớn của đất nước để phát triển nền kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân. Định nghĩa quản trị:  Quản trị là một khái niệm rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị. Sau đây là một số định nghĩa phổ biến nhất:  Quản trị là một tiến trình làm việc với con người và thông qua con người để hoàn thành mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn luôn thay đổi. Trọng tâm của tiến trình này là sử dụng hiệu quả những nguồn tài nguyên có hạn. Những thành phần chính trong định nghĩa này (hình 1.1) bao gồm:  Làm việc với và thông qua người khác.  Hoàn thành những mục tiêu của tổ chức.  Khai thác tối đa những nguồn tài nguyên có hạn.  Luôn xem xét đến kết quả và hiệu quả.  Biết đối phó và thích nghi với môi trường luôn luôn biến động, thay đổi. Khai Môi trường thác tối đa nguồn thay đổi tài nguyên có hạn Hoàn thành các mục tiêu của tổ Làm việc với chức Xem xét hiệu quả Trang 7 và thông qua và kết quả người khác
  7. Quản Trị Học Hình 1.1: Những thành phần chính của tiến trình  Quản trị là lãnh đạo hệ thống trên cở sở hoạch định, tổ chức, nhân sự, điều khiển và kiểm tra công việc nhằm đạt các mục tiêu đã vạch ra (hình 1.2) Kiểm tra Hoạch Lãnh đạo Hình 1.2: Các chức năng định Quản trị quản trị Tổ Nhân sự chức  Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước. Trong quản trị, người ta có thể chia ra hệ thống quản trị (chủ thể quản trị) và hệ thống bị quản trị (đối tượng quản trị). Giữa hệ thống quản trị và hệ thống bị quản trị bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau bằng các dòng thông tin (Hình 1.3) Hệ thống quản trị (Chủ thể quản trị) Thông tin phản Thông tin chỉ hồi huy Hệ thống bị quản trị (Đối tượng quản trị) Hình 1.3 Quan hệ giữa chủ thể quản trị và đối tượng quản trị 2. QUẢN TRỊ LÀ MỘT KHOA HỌC HAY MỘT NGHỆ THUẬT 2.1. QUẢN TRỊ LÀ MỘT KHOA HỌC Trang 8
  8. Quản Trị Học Quản trị học ngày nay đã phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một môn khoa học độc lập. Trong quá trình phát triển của mình, quản trị học đã phối hợp với nhiều môn khoa học khác, sử dụng những luận điểm và thành tựu của chúng để giải quyết nhiều vấn đề của lý luận và thực tiễn quản trị. Quản trị học đã dựa trên cơ sở lý luận của Triết học, kinh tế học. Quản trị học phát triển và gắn bó chặt chẽ với nhiều môn học kinh tế cụ thể như: Kinh tế công nghiệp, kinh tế nông nghiệp, kinh tế thương nghiệp… kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, kinh tế và tổ chức sản xuất các xínghiệp, tổ chức lao động khoa học. Quản trị học cũng phát triển trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với khoa học Thống kê, Hạch toán, Tài chính, Phân tích hoạt động kinh tế… Quản trị học cũng sử dụng nhiều thành tự của các ngành khoa học tự nhiên, và khoa học kỹ thuật như: Toán học, Điều khiển học, Tin học, Công nghệ học… Quản trị học còn áp dụng nhiều luận điểm và kết quả nghiên cứu của các môn Xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, luật học, marketing… Ngoài ra, sự phát triển của khoa học quản trị không chỉ dựa vào các nhà khoa học mà còn dựa trên cơ sở tổng kết khoa học, sự hoạt động sáng tạo của các nhà quản trị giỏi. 2.2. QUẢN TRỊ HỌC LÀ MỘT NGHỆ THUẬT Trong thực tiễn quản trị, bên cạnh lý luận quản trị còn có nghệ thuật quản trị. Nói khác đi, lãnh đạo con người là một khoa học vì ở đây người ta có thể tìm ra những nguyên tắc, những phương pháp, những qui luật chung nào đó. Nhưng đồng thời đó cũng là một nghệ thuật vì người quản trị khi giải quyết các nhiệm vụ đã xuất phát từ những đặc điểm, các tình huống cụ thể, có tính đến những đặc điểm cá nhân của người chấp hành. Trong lĩnh vực nghệ thuật quản trị người ta cũng có thể tìm thấy những nguyên tắc nào đó nhưng không phải là sự “áp dụng máy móc”, “rập khuôn”, sự thực hiện theo “công thức cho sẵn” mà là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nguyên tắc đó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. 2.3. NGHỆ THUẬT QUẢN TRỊ LÀ GÌ/ Có thể nói vắn tắt, nghệ thuật là cái “bí quyết”, “cái mẹo”, cái “biết làm thế nào” (Know – how) để đạt mục tiêu với một hiệu quả mong muốn cụ thể. Chúng ta có thểhiểu như sau: Khoa học là sự hiểu biết kiến thức có hệ thống, còn nghệ thuật là sự tin lọc kiến thức. Nghệ thuật quản trị trước hết là tài Trang 9
  9. Quản Trị Học nghệ của nhà quản trị trong việc giải quyết những nhiệm vụ đề ra một các khéo léo và có hiệu quả nhất. Ở đây muốn nói đến tài năng cuả quản trị gia, năng lực tổ chức, kinh nghiệm giúp họ giải quyết sáng tạo xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nghệ thuật quản trị có liên quan mật thiết đến khái niệm “điển hình quản trị”, “tình huống cụ thể”. Những kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước là những nguồn vô tận của các “điển hình” giải quyết sáng tạo khéo léo nhiều vấn đề quản trị khó khăn, phức tạp. Có rất nhiều loại “điển hình” quản trị. Chúng ta có thể phân loại, nêu lên một số điển hình của nghệ thuật quản trị sau đây:  Nghệ thuật sử dụng con người (đặt đúng chỗ, sử dụng đúng khả năng…).  Nghệ thuật tích lũy và sử dụng vốn  Nghệ thuật khai thác các tiềm năng, giải quyết các khó khăn, ách tắc trong sản xuất kinh doanh.  Nghệ thuật giao tiếp.  Nghệ thuật bán hàng, “câu khách”  Nghệ thuật ra quyết định (nhanh, đúng, kịp thời…) và thực hiện quyết định (sáng tạo, linh hoạt…).  Nghệ thuật tạo thời cơ và lợi dụng thời cơ.  Nghệ thuật cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh. Nghệ thuật quản trị nghiên cứu không chỉ những kinh nghệm thành công mà còn cả những kinh nghiệm thất bại trong kinh doanh. Vai-nhích, một quản trị gia nổi tiếng nói “Việc nghiên cứu những thất bại còn quan trọng hơn là nghiên cứu những thành công, bởi vì thành công có thể được lặp lại hay không lặp lại, còn thất bại, sai lầm nhất thiết không được để cho lặp lại”. Đặc điểm chủ yếu của nghệ thuật quản trị là ở chỗ, nghệ thuật là những “mẹo” gắn liền với những tình huống cụ thể với tất cả sự đa dạng, sự khéo léo, sự uyển chuyển và sáng tạo. Quản trị là một nghệ thuật còn người quản trị là người nghệ sĩ tài năng. Quản trị khác với những hoạt động sáng tạo khác ở chỗ nhà “nghệ sĩ quản trị” phải sáng tạo không ngừng trong thực tiễn sản xuất kinh doanh. Trang 10
  10. Quản Trị Học Trên cơ sở nghệ thuật quản trị người ta rèn luyện được kỹ năng biến lý luận thành thực tiễn. Nghệ thuật bao giờ cũng phải dựa trên một sự hiểu biết khoa học làm nền tảng cho nó. Khoa học và nghệ thuật quản trị không đối chọi, loại trừ nhau mà chúng bổ sung cho nhau. Khoa học được cải tiến thì nghệ thuật cũng được cải tiến theo. Một người giám đốc nếu không có trình độ hiểu biết lý luận làm nền tảng thì khi tiến hành quản trị ắt phải dựa vào may rủi, trực giác hay những việc đã làm trong quá khứ. Nhưng nếu có trình độ hiểu biết thì ông ta có điều kiện thuận lợi hơn để đưa ra những quyết định quản trị có luận chứng khoa học và có hiệu quả cao. Từ mối liên hệ giữa khoa học và nghệ thuật quản trị, cái gì đối với người lãnh đạo là quan trọng: khoa học hay nghệ thuật quản trị? Muốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, người lãnh đạo phải có kiến thức, phải nắm vững khoa học quản trị. Nhưng nghệ thuật quản trị cũng không kém phần quan trọng vì thực tiễn muôn hình muôn vẻ, tình huống, hoàn cảnh luôn thay đổi và không bao giờ lặp lại. Một quản trị gia nổi tiếng nói rằng: “Một vị tướng thì không cần biết kỹ thuật điều khiển tên lửa như thế nào, kỹ thuật lái máy bay ra sao và xe tăng làm thế nào để vượt qua các chướng ngại vật. Nhưng để làm tướng thì phải khi nào ta dùng pháo và loại pháo cỡ nào sẽ mang lại hiệu quả mong muốn. Khi nào thì ta dùng máy bay, khi nào cần phải dùng xe tăng hạng nặng. Sự phối hợp chúng như thế nào và có thể mang lại những hiệu quả gì? Phải làm gì để có thể sử dụng tốt nhất các loại vũ khí đó? Người làm tướng phải nắm chắc những kiến thức loại này và phải luôn luôn sáng tạo. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế cũng vậy”. Nhận thức quản trị vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật đã tạo khả năng nâng cao không ngừng hiệu quả sản xuất kinh doanh. 3. HIỆU QUẢN CỦA QUẢN TRỊ Hiệu quả thường được so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra: K Trong đó:  H: Hiệu quả H= C  K: Kết quả đạt được  C: Chi phí bỏ ra Trang 11
  11. Quản Trị Học Thông thường, kết quả (Effectiveness) đòi hỏi sự hoàn thành một mục tiêu đã được đề ra. Chẳng hạn như việc vung một cây búa tạ đập vào tường có thể là một cách có hiệu quả để giết một con ruồi bay vo ve đến khó chịu. Tuy chiếc búa tạ có thể giết được ruồi nhưng sức lực bị lãng phí một cách vô ích và những bức tường có thể bị hỏng, bị vỡ nát cũng cần phải được xem xét. Hiệu quả (Efficiency) bao giờ cũng được đánh giá trong mối quan hệ giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra. Một chiếc vĩ đập ruồi (Fly – Swatter) là một dụng cụ rất nhẹ nhàng và có hiệu quả cao để diệt ruồi. Sức lực bỏ ra ít hơn nhiều, nhưng kết quả vẫn đạt được như mong muốn. Trong thực tế kinh doanh, bao giờ người ta cũng phải xem xét mối quan hệ giữa kết quả của đầu ra với chi phí của đầu vào. Nâng cao kết quả của đầu ra giảm chi phí đầu vào để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chẳng hạn, tỷ lệ giữa lợi nhuận thu được với chi phí bỏ ra càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Chúng ta đều biết rằng, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quản trị, vừa là người quản trị, vừa là người bị quản trị. Hiển nhiên, hiệu quả của quản trị xét cho cùng lệ thuộc vào chỗ: Người quản trị làm việc có chất lượng đến đâu hiệu quả quản trị phụ thuộc vào cả chủ thể lẫn khách thể của quản trị. Hiệu quả của quản trị lệ thuộc vào trình độ giải quyết những mối liên hệ tác động qua lại giữa những người quản trị và bị quản trị, vào sự hiểu biết lẫn nhau giữa họ, vào sự cố gắng muốn giải quyết thành công những nhiệm vụ đặt ra của thực tiễn sản xuất kinh doanh. CÂU HỎI THẢO LUẬN BÀI 1 1. Vì sao có thể nói Quản trị học là một trong những ngành khoa học còn rất non trẻ, mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20? 2. Vì sao mục đích của quản trị là năng suất, chất lượng và hiệu quả? 3. Nghệ thuật quản trị là gì? Cho ví dụ về nghệ thuật quản trị trong một số lĩnh vực quản trị. 4. Xác định hiệu quả quản trị như thế nào? Trang 12
  12. Quản Trị Học BÀI 2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ Mục đích yêu cầu  Nắm được lý thuyết cổ điển về quản trị.  Hiểu được 14 nguyên tắc quản trị tổng quát của Heroy Payol.  Nắm được lý thuyết tâm lý xã hội trong quản trị.  Nắm được lý thuyết định lượng về quản trị. 1. LÝ THUYẾT CỔ ĐIỂN VỀ QUẢN TRỊ Lý thuyết cổ điển về quản trị là khái niệm dùng để chỉ những học thuyết về quản trị được đưa ra vào những thập niên đầu của thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Tuy đã có những học thuyết quản trị mới nhưng lý thuyết cổ điển vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong quản trị hiện đại. Cho đến nay nhiều quan điểm và nguyên tắc của lý thuyết cổ điển vẫn được áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn quản trị. Lý thuyết cổ điển có 2 trường phái chính:  Trường phái quản trị một cách khoa học của Frederick Taylor và các cộng sự viên ở Hoa Kỳ.  Trường phái quản trị tổng quát của H.Fayol và Max Weber ở Châu âu. 1.1. THUYẾT QUẢN TRỊ MỘT CÁCH KHOA HỌC Học thuyết quản trị một cách khoa học gắn liền với tên tuổi của Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915), với tác phẩm nổi tiếng “Những nguyên tắc quản trị một cách khoa học” của ông được xuất bản vào năm 1911 tại Hoa Kỳ. Công trình này đã được các nhà quản trị toàn thế giới đón nhận một cách trân trọng. Tốt nghiệp ngành Luật, lại là một kỹ sư cơ khí, Taylor đã nghiên cứu cách tổ chức sản xuất và lao động sao cho tốt và đạt năng suất lao động cao hơn. F.Taylor cho rằng 2 nguyên nhân chính khiến năng suất lao động của công nhân thấp và làm cho công việc quản trị kém hiệu quả. Đó là:  Công nhân không biết phương pháp làm việc  Công nhân làm việc thiếu hăng hái nhiệt tình. Trang 13
  13. Quản Trị Học Taylor qui trách nhiệm này thuộc về các nhà quản trị. Khi giao công việc cho công nhân viên, các nhà quản trị đã không quan tâm chú ý đến khả năng của họ và yêu cầu của công việc. Các nhà quản trị đã không biết quản trị một cách khoa học và mâu thuẫn, xung đột thường xảy ra giữa các nhà quản trị và công nhân viên. Từ nhận thức đó, Taylor cho rằng phải thay đổi cách thức quản trị lâu nay theo kiểu “gặp đâu làm đó”, “làm sai thì sửa” bằng phương pháp quản trị khoa học. Thực tế cho thấy rằng, nhờ sớm tiếp nhận những nguyên tắc quản trị khoa học của Taylor mà các công ty của Hoa Kỳ đã có những lợi thế hơn các công ty ở những nước khác và năng suất cũng như hiệu quả và chất lượng của quản trị sản xuất, kinh doanh tại Hoa Kỳ là điều thèm muốn của nhiều nước trên thế giới. 1.2. LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ TỔNG QUÁT Đây là tên gọi để chỉ cách thức quản trị doanh nghiệp do Henry Fayol ở Pháp và Max Weber ở Đức nêu lên. Trong khi Taylor cho rằng năng suất lao động thấp do công nhân không biết cách làm việc và không được kích thích kinh tế đầy đủ, thì Henry Fayol cho rằng năng suất và hiệu quả làm việc của con người làm việc chung trong tập thể tùy thuộc vào sự sắp xếp, tổ chức của nhà quản trị. Việc sắp xếp, tổ chức đó Fayol gọi là quản trị tổng quát. Ông đã chia công việc kinh doanh làm 6 loại:  Công việc kỹ thuật (sản xuất).  Công việc thương mại (mua bán, trao đổi).  Công việc tài chính (tạo và sử dụng vốn có hiệu quả).  Công việc an ninh (bảo vệ tài sản và nhân viên).  Công việc kế toán (và thống kê).  Công việc quản trị (với chức năng hoạch định, tổ chức phối hợp, lãnh đạo và kiểm tra). H.Fayol đã nêu lên 14 nguyên tắc của quản trị tổng quát. Nội dung của các nguyên tắc này được tóm tắt như sau:  Phân chia công việc: Sự phân chia công việc, đảm bảo chuyên môn hóa trong sản xuất và trong quản trị đều rất cần thiết. Nó đảm bảo công việc được hoàn thành nhanh chóng và có chất lượng cao. Trang 14
  14. Quản Trị Học  Thẩm quyền và trách nhiệm: Thẩm quyền và trách nhiệm có quan hệ mật thiết với nhau. Quyền hạn phải gắn liền với trách nhiệm. Giao trách nhiệm mà không giao quyền hạn thì công việc không hoàn thành được. Có quyền quyết định mà không chịu trách nhiệm về các quyết định đã đưa ra thì sẽ dẫn đến thói vô trách nhiệm và những hậu quả xấu.  Kỷ luật: Fayol cho rằng kỷ luật là sự tôn trọng những thỏa mãn nhằm đạt tới sự tuân lệnh, tính chuyên cần. Kỷ luật đòi hỏi có những người lãnh đạo tốt ở mọi cấp quản trị. Kỷ luật chặt chẽ bảo đảm năng suất, chất lượng và hiệu quả trong kinh doanh.  Thống nhất chỉ huy: Nguyên tắc này chính là nguyên tắc thủ trưởng. Mỗi nhân viên chỉ được nhận mệnh lệnh từ một thượng cấp mà thôi.  Thống nhất điều khiển: Theo nguyên tắc này thì một nhóm hoạt động có cùng một mục tiêu phải có người đứng đầu và phải có kế hoạch thống nhất. Nguyên tắc này liên quan đến đoàn, nhóm hơn là đối với cá nhân, nhân viên như ở nguyên tắc trên.  Cá nhân lệ thuộc lợi ích chung; Nguyên tắc này tự nó giải thích rõ. Tuy nhiên theo H.Fayol khi có sự khác biệt không thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung thì cấp quản trị phải hòa giải hợp lý.  Thù lao: Cách trả công phải công bằng, hợp lý và mang lại sự thỏa mãn tối đa có thể cho cả chủ và thợ.  Tập trung và phân tán: Nguyên tắc này nói lên mức độ quan hệ thẩm quyền giữa tập trung và phi tập trung. Chuẩn mực của mối quan hệ này phải dẫn đến “năng suất toàn bộ” cao nhất.  Cấp bậc, tuyến hay “xích lãnh đạo”: Trong quản trị phải có cấp bậc, phải có xích lãnh đạo từ cấp cao nhất xuống cấp thấp nhất. Phải đảm bảo nguyên tắc, không được đi trật khỏi đường dây. Sự vận dụng phải linh hoạt, không cứng đờ.  Trật tự hay sắp xếp người và vật vào đúng chỗ cần thiết; H.Fayol cho rằng vật nào, người nào cũng có chỗ riêng của nó. Phải đặt đúng người và vật vào đúng chỗ của nó. Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc sắp xếp, sử dụng người và dụng cụ máy móc.  Công bằng: Sự công bằng trong cách đối xử với cấp dưới và với nhân viên như lòng tử tế đối với họ là sự cần thiết tạo nên lòng trung thành và sự tận tụy của công nhân viên đối với doanh nghiệp.  Sự ổn định nhiệm vụ; Sự ổn định nhiệm vụ là nguyên tắc cần thiết trong quản trị. Nó đảm bảo cho sự hoạt động với mục tiêu rõ ràng và có điều kiện Trang 15
  15. Quản Trị Học để chuẩn bị chu đáo. Sự thay đổi luôn không cần thiết và thiếu căn cứ sẽ tạo nên những nguy hiểm do thiếu ổn định kèm theo những lãng phí to lớn.  Sáng kiến: Sáng kiến được quan niệm là sự nghĩ ra và thực hiện công việc một cách sáng tạo Fayol khuyên các nhà quản trị phải biết phát huy sáng kiến của công nhân viên, nên “hy sinh lòng tự kiêu cá nhân” để cho phép cấp dưới thực hiện sáng kiến của họ. Điều này rất có lợi cho công việc.  Tinh thần đoàn kết: Đoàn kết tạo nên sức mạnh. Tinh thần hợp tác đồng đội sẽ mang lại những hiệu quả to lớn. H.Fayol nói rằng, ông không có ý định nêu ra tất cả mọi nguyên tắc quản trị có thể có. Ông chỉ nêu lên những nguyên tắc chung tổng quát cần thiết nhất trong quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, ông cũng một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết của sự vận dụng sáng tạo. 1.3. NHẬN XÉT CHUNG VỀ LÝ THUYẾT CỔ ĐIỂN Các tác giả của lý thuyết cổ điển đều nhấn mạnh rằng, người ta có thể nâng cao hiệu quả của quản trị bằng cách sắp xếp hợp lý và kiểm tra công việc của con người đồng thời có thể kích thích họ bằng lợi ích kinh tế. Đối với công việc, để có năng suất cao, cần phải chuyên môn hóa phải được hướng dẫn chu đáo và được thường xuyên kiểm tra. Cần có sự phối hợp chặt chẽ và có cơ cấu tổ chức hợp lý. Tuy có những nhược điểm là xem tổ chức như một hệ thống khép kín, chưa thấy được ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, yếu tố tâm lý xã hội nhưng lý thuyết cổ điển đã đóng vai trò hết sức to lớn trong sự hình thành và phát triển của quản trị học hiện đại. Nhờ sự ứng dụng các nguyên tắc của lý thuyết cổ điển tình trạng quản trị luộm thuộm, tùy tiện đó được khắc phục, quản trị đã có nề nếp, có cơ sở khoa học căn bản. 2. LÝ THUYẾT TÂM LÝ XÃ HỘI TRONG QUẢN TRỊ Lý thuyết này còn được gọi là lý thuyết quan hệ con người. Lý thuyết tâm lý xã hội bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60 và hiện nayvẫn còn được nghiên cứu nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những sự hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con người, một yếu tố quan trọng để quản trị hữu hiệu. Trang 16
  16. Quản Trị Học Lý thuyết tâm lý xã hội cho rằng yếu tố tinh thần, yếu tố tâm lý xã hội có ảnh hưởng lớn đối với năng suất lao động của công nhân viên. Những kết quả nghiên cứu tại nhà máy Hawthorne ở Chicago do giáo sư Elton Mayo của trường đại học kinh doanh Havard thực hiện đã cho nhiều kết luận và khám phá quan trọng làm nền tảng cho việc quản trị. Người ta đã chọn 2 nhóm nữ công nhân để đưa vào cuộc nghiên cứu. Kết quả cho thấy khi các điều kiện vật chất được cải thiện, năng suất lao động đã nâng cao hơn. Tuy nhiên khi làm cuộc thí nghiệm ngược lại các nhà nghiên cứu thấy rằng năng suất của các nữ công nhân này vẫn tiếp tục gia tăng dù các điều kiện vật chất đã bị hạ thấp xuống như lúc khởi đầu. Từ thực tiễn nghiên cứu, Mayo thấy rằng ánh sáng điều kiện làm việc ít có quan hệ đến năng suất. Ông cho rằng giữa tâm lý và hành vi có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Khi con người làm việc chung trong tập thể thì tập thể đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra tác phong của cá nhân. Con người muốn được người khác quan tâm, kính trọng, muốn làm việc trong bầu không khí thân thiện giữa các đồng sự. Họ sẽ làm việc tốt hơn, có năng suất cao hơn, phát huy sáng kiến nhiều hơn nếu họ được tham gia, được tự chủ trong công việc. Công nhân viên có nhiều nhu cầu vầ tâm lý xã hội cần được thỏa mãn. Lý thuyết hành vi đã có những đóng góp quan trọng và sự nghiên cứu và thựchành quản trị. Nhờ những đóng góp này, ngày nay nhà quản trị hiểu rõ hơn về sự động viên con gười, vềnhững ảnh hưởng của tập thể đối với hành vi, về mối quan hệ con người trong công việc, từ mối quan hệ thủ trưởng với nhân viên đến mối quan hệ giữa các đồng sự ngang hàng. Các nhà quản trị đã hiểu rằng con người sẽ làm việc tốt hơn trong mối quan hệ thân thiện. Nhà quản trị phải chọn lựa cách thức lãnh đạo thích hợp, phải quan tâm hơn nữa đối với việc sử dụng quyền hành và sự thông đạt trong tổ chức. 3. LÝ THUYẾT ĐỊNH LƯỢNG TRONG QUẢN TRỊ Nhóm lý thuyết này còn có nhiều tên gọi khác nhau như lý thuyết hệ thống, điều khiển học, vận trù học hay nghiên cứu tác vụ. Lý thuyết định lượng trong quản trị được xây dựng trên nhận thức cơbản rằng: “quản trị là quyết định” và muốn quản trị có hiệu quả, các quyết định của quản trị phải đúng. Để có thể làm được những quyết định đúng, nhà quản trị phải có quan điểm hệ thống khi xem xét sự việc, khi thu thập vàxử lý thông tin. Trang 17
  17. Quản Trị Học Lý thuyết định lượng đã được hỗ trợ tích cực bởi sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật điện toán giúp cho việc giải nhiều mô hình toán phức tạp với tốc độ nhanh. Quan điểm cơ bản của lý thuyết định lượng quản trị khác biệt rất xa so với quan điểm củà nhóm lýthuyết trên. Cả 2 lý thuyết cổ điển và tâm lý xã hội đều cho rằng hiệu quả trong quản trị tùy thuộc vào năng suất của người lao động. Nhưng lý thuyết định lượng cho rằng hiệu quả quản trị tùy thuộc vào sự đúng đắn trong các quyết định của nhà quản trị. Các lý thuyết gia cổ điển khi phân tích khảo sát các yếu tố biệt lập nhau và nghĩ rằng khi tập hợp lại những phân tích này, họ có thể tìm thấy và hiểu được sự vật toàn cục. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng khi không có hoặc có rất ít tác động tương hỗ giữa các yếu tố, do đó có thể tách biệt chúng ra. Đồng thời những mối liên hệ giữa các yếu tố có tính chất tuyến tính (đó là điều kiện của sự tái tạo cái toàn thể bằng cách cộng các yếu tố tạo thành). Theo lý thuyết định lượng, hệ thống là tập hợp phức tạp các yếu tố:  Tạo thành một tổng thể.  Có mối liên hệ tương tác.  Tác động lẫn nhau để đạt được mục tiêu Doanh nghiệp là một hệ thống. Đó là hệ thống mở có liên hệ đến môi trường (với khách hàng, với nhà cung cấp, với các đối thủ cạnh tranh…). Nó có mục tiêu đặc thù: tạo ra lợi nhuận. Hệ thống doanh nghiệp bao gồm nhiều phân hệ có mối liên hệ tương tác với nhau như: phân hệ công nghệ, phân hệ nhân sự, phân hệ tài chính, phân hệ tổ chức, phân hệ quản trị, phân hệ kiểm tra… Môi trường Hệ thống (Doanh nghiệp) Đầu vào Quá trình biến đổi Đầu ra (NVL, vật tư,..) (sản phẩm) Môi trường Trang 18
  18. Quản Trị Học Hình 2.1 sơ đồ Doanh nghiệp theo cách tiếp cận hệ thống Đối với doanh nghiệp thí những yếu tố đầu vào là vật tư, nhân công và vốn. Quá trình biến đổi sẽ làm cho những yếu tố đầu vào trở thành những dịch vụ hay sản phẩm. Sự thành công của hệ thống doanh nghiệp phụ thuộc khá nhiều về mối quan hệ tác động qua lại với môi trường. Những sản phẩm và dịch vụ ở đầu ra được tiêu thụ và doanh nghiệp sẽ có những khoản thu dưới dạng doanh số dùng để bù đắp cho những chi phí các yếu tố đầu vào. Nếu dư thừa doanh nghiệp sẽ có lời để phát triển và cải thiện đời sống công nhân viên. Nếu không đủ bù đắp chi phí thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn và có thể không tồn tại được. Tóm lại, lý thuyết định lượng quản trị có thể tóm tắt trong các nội dung sau đây:  Nhấn mạnh đến phương pháp luận khoa học trong việc giải quyết các vấn đề quản trị.  Áp dụng cách tiếp cận hệ thống để giải quyết các vấn đề.  Sử dụng các mô hình toán học  Định lượng hóa các yếu tố có liên quan bằng toán học và thống kê.  Sử dụng máy tính điện tử làm công cụ.  Đi tìm các quyết định quản trị tối ưu. Các lý thuyết quản trị tuy xuất hiện tuần tự theo thời gian nhưng chúng không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau. Sự quản trị hiệu quả đạt được trên cơ sở của sự vận dụng sáng tạo cả ba nhóm lý thuyết ấy vào những tình huống cụ thể. Trang 19
  19. Quản Trị Học CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP 1. Trình bày tóm tắt lý thuyết cổ điển về quản trị. 2. Phân tích hai nguyên tắc quản trị của H.Fayol:  Thẩm quyền và trách nhiệm.  Thống nhất chỉ huy. 3. Trình bày lý thuyết tâm lý xã hội trong quản trị. 4. Trình bày lý thuyết định lượng về quản trị. 5. Đọc và phân tích tình huống số 10 trong giáo trình. Trang 20
  20. Quản Trị Học BÀI 3 DOANH NGHIỆP VÀ NHÀ KINH DOANH Mục đích yêu cầu:  Hiểu được những khái niệm căn bản về doanh nghiệp.  Hiểu được định nghĩa và kinh doanh.  Nắm vững các phương pháp tạo lập doanh nghiệp. 1. KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP 1.1. ĐỊNH NGHĨA Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh, một tổ chức kinh tế có chức năng sản xuất, mua bán hàng hoá hay dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu con người và xã hội với mục đích phục vụ và kiếm lời. Doanh nghiệp có ba đặc điểm chủ yếu:  Đặc điểm kỹ thuật: Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động, các doanh nghiệp được tổ chức trên cơ sở sự lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất nhất định nhằm bào đảm sự hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh: đối tượng lao động, tư liệu lao động và nhân công.  Đặc điểm kinh tế: Doanh nghiệp được tạo lập với mục đích được tạo lập và kiếm lời. Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh, phải bảo đảm sao cho thu nhập của doanh nghiệp bù đắp được chi phí và có lãi, bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển được liên tục và đáp ứng những nhu cầu hàng hoá và dịch vụ đối với xã hội ngày một tốt hơn, nhiều hơn, rẻ và đẹp hơn. Đó là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội.  Đặc điểm pháp lý: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Nó có quyền giao dịch, ký kết các hợp đồng kinh tế mua bán hàng hoá và dịch vụ với các tổ chức và các đơn vị khác nhau trong khuôn khổ của luật pháp cho phép. Doanh nghiệp có quyền mở tài khoản và kết toán ở ngân hàng, có quyền tố tụng trước pháp lực những đơn vị khác vi phạm đến lợi ích của mình. Doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những vi phạm của mình đối với thế chế của nhà nước. 1.2. PHÂN LOẠI DOANH NGHIỆP Các doanh nghiệp được phân loại theo nhiều các khác nhau. Trang 21
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2