intTypePromotion=3

Huy động toàn diện và đúng đắn kịp thời các nguồn lực trong sự nghiệp xây dựng đất nước - 2

Chia sẻ: Le Nhu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:19

0
55
lượt xem
10
download

Huy động toàn diện và đúng đắn kịp thời các nguồn lực trong sự nghiệp xây dựng đất nước - 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

tế xã hội. Thu nhập bình quân đầu người được đánh giá vào nhóm các nước nghéo nhất thế giới. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế xã hội giữa Việt Nam và các nước ASEAN năm 1993. Chỉ tiêu Việt Nam Indonêxia Malaixia Philipin Xingapo Thái Lan GDP bình quân đầu người USD - Phương pháp Atlas 170 19.3102.040 GDP bình quân đầu người USD - Phương pháp PPP 20.4706.390 Chỉ số HDI 0,514 0,568 0.794 0.621 0.836 0.798 Vị trí HDI trong 176 nước 116 HDI - chỉ số phát triển con người. Trước đây, việc thực hiện...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Huy động toàn diện và đúng đắn kịp thời các nguồn lực trong sự nghiệp xây dựng đất nước - 2

  1. tế xã hội. Thu nhập b ình quân đ ầu ngư ời được đ ánh giá vào nhóm các nước nghéo nhất thế giới. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế xã hội giữa Việt Nam và các nước ASEAN năm 1993. Chỉ tiêu Việt Nam Indonêxia Malaixia Philipin Xingapo Thái Lan GDP bình quân đầu người USD - Phương pháp Atlas 170 730 3 .160 830 19.3102 .040 GDP bình quân đầu người USD - Phương pháp PPP 1 .040 3 .140 8 .630 2 .660 20.4706 .390 Chỉ số HDI 0 ,514 0 ,568 0 .794 0 .621 0 .836 0 .798 Vị trí HDI trong 176 nước 116 105 57 99 43 54 HDI - ch ỉ số phát triển con người. Trước đ ây, việc thực hiện chính sách và cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp khiến cho sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành th ị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh, đời sống một bộ phận nhân dân, nhất là ở một số vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, đồng bào dân tộc, còn quá khó kh ăn vất vả. Chất lượng giáo dục đào tạo, y tế ở nhiều nơi rất thấp. Người n ghèo không đủ tiền để chữa bệnh và cho con em đi học. Trong khi đ ó nguồn tài chính từ ngân sách và các nguồn lực khác có thể huy động được cho yêu cầu phúc lợi x• hội vừa hạn chế vừa chưa được sử dụng có hiệu quả. Tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường sinh thái, hu ỷ hoại tài nguyên ngày càng tăng. Văn hoá
  2. phẩm độc hại lan tràn, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã hội còn nhiều phức tạp. Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống xã hội, để ổn đ ịnh kinh tế trong nước và hội nhập quốc tế ta phải xây dựng một nền kinh tế mở, một nền kinh tế nhiều thành phần, đ a d ạng hoá các hình thức sở hữu. Sự thành công của nền kinh tế thị trư ờng theo định hướng XHCN không chỉ biểu h iện ở tốc độ tăng trưởng cao, mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được n âng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách giữa giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc được giữ vững, môi trường được bảo vệ. III. Th ực trạng và Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam. 1 . Nội dung của phát triển kinh tế h àng hoá nhiều th ành phần theo định hướng XHCN ở Việt Nam. Kinh tế hàng hoá là m ột kiểu tổ chức kinh tế xã h ội m à trong đó h ình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm là để bán, để trao đổi trên th ị trường. Nội dung của phát triển kinh tế h àng hoá nhiều th ành phần theo định hướng XHCN ở Việt Nam là: Phát triển nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều th ành phần. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ kinh tế kém phát triển, m ang nặng tính tự cấp tự túc và qu ản lý theo cơ ch ế kế hoạch hoá tập trung sang n ền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường. Đại hội Đảng VII đ ã kh ẳng định, các thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan tương ứng với tính chất và trình độ sản xuất. Trong giai đo ạn lịch sử hiện nay, đó là:
  3. Kinh tế Nhà nước; Kinh tế hợp tác; Kinh tế cá thể; Kinh tế tư bản tư nhân; Kinh tế tư bản nhà nước. Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đ a d ạng phong phú trong việc đáp ứng nhu cầu xã hôị vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý theo định hướng XHCN. Do đó, việc “Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều th ành ph ần phải đi đôi với việc tăng cường quản lý của nhà nước về kinh tế xã hội. Để hạn chế và khắc phục những hậu quả của mặt trái của kinh tế hàng hoá nhiều th ành ph ần vận động theo cơ ch ế thị trường mang lại, giữ cho công cuộc đổi mới đúng hướng và phát huy b ản chất tốt đ ẹp của CNXH Nhà nước phải thực hiẹen tốt vai trò quản lý kinh tế - xã hội bằng luật pháp, kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền, giáo dục và các công cụ khác. Nhận thức tính chất nhiều thành phần của kinh tế là một tất yếu khách quan, từ đó có thái độ đúng đắn trong việc khuyến khích sự phát triển của chúng theo nguyên tắc tự nhiên của kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp đi lên CNXH ở n ước ta. Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cũng có nghĩa là còn có các quy luật kinh tế khác nhau hoạt động. Sự vận động và phát triển của các thành phần kinh tế trong giai đo ạn n ày ch ịu sự chi phối trực tiếp của các quy luật thị trường. Thông qua hoạt động của các quy luật thị trường mà nó đào th ải những mặt, yếu tố b ất hợp lý, thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất. 2 . Phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nư ớc ngo ài. Sự ra đ ời và phát triển của kinh tế h àng ho á đã làm phá vỡ các mối quan hệ kinh tế truyền thống của nền kinh tế khép kín, kém phát triển, bảo thủ, trì trệ. Đặc biệt đến
  4. giai đ oạn tư bản chủ nghĩa sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã làm cho th ị trường d ân tộc hoạt động gắn bó với thị trư ờng thế giới. Việc mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài là tất yếu vì sản xuát và trao đổi hàng hoá tất yếu vư ợt qua phạm vi quốc gia, mang tính chất quốc tế, đồng thời đó cũng là tất yếu sự phát triển nhu cầu. Biệt lập trong sự phát triển kinh tế dẫn đến đói nghèo. Do đ ó mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài dưới nhiều dạng khác nhau đối với nước ta như là một tất yếu trong sự phát triển, khi trình độ khoa học kỹ thuật của thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu cả về sản xuất lần tiêu dùng. Thông qua mở rộng quan hệ kinh tế với nư ớc ngoài để biến nguồn lực bên ngoài thành nguồn lực bên trong. Điều đó tạo điều kiện cho quá trình phát triển rút gắn ở nước ta. Mở rộng quan hệ kinh tế với n ước bằng nhiều h ình thức như tăng cường hoạt động n goại thương, hợp tác, liên doanh, liên kết đ ề thu hút vốn đầu tư cho nước ta. Gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực. Tranh thủ nắm bắt những, những m ặt h àng mũi nhọn có tương lai, gắn với công nghệ mới, tiến tới có khả năng cạnh tranh trên th ị trường thế giới., nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nhịp điệu của nền kinh tế thế giới. Việc “mở cửa” về kinh tế phải đ ảm bảo nguyên tắc b ình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đ ảm bảo chủ quyền và cũng có lợi. 3 . Phát triển kinh tế hàng hoá theo đ ịnh hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò quản lý của Nhà nước. Mặc dù có rất nhiều ưu điểm nhưng n ền KTTT không thể nào giải quyết được những vấn đ ề do chính cơ chế và đời sống kinh tế xã hội đặt ra. Vì vậy, sự tác động của Nh à nước - một chủ thể có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật khách
  5. quan - vào nền kinh tế là một tất yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thiên sử “can thiệp” của Nh à nư ớc vào kinh tế, để cho thị trường tự do hoạt động, th ì việc đ iều kinh tế nước ta sẽ không có hiệu quả. Nhà nước sử dụng luật pháp và các công cụ kinh tế vĩ mô khác đ ể quản lý kinh tế h àng hoá, làm cho nền kinh tế “lành m ạnh” hơn, giảm bớt các thăng trầm, đột biến xấu trên con đường của nó, khắc phục được tình trạng phân hoá bất bình đẳng, bảo vệ được tài nguyên môi trường của đất nư ớc. Sự vận dung của nền kinh tế hàng hoá theo cơ ch ế thị trường có sự quản lý của Nh à nước ở nước ta là sự vận động đ ược điều tiết bởi sự thống nhất giữa cơ chế thị trường - “bàn tay vô hình”, và sự quản lý của nhà nư ớc - “bàn tay hữu h ình”. 4 . Thực trạng kinh tế hàng hoá ở nước ta hiện nay. Nước ta đ ang từng bư ớc quá độ lên CNXH không qua giai đo ạn phát triển tư bản chủ nghĩa, xu hư ớng vận động và phát triển kinh tế h àng hoá gắn liền với các đặc đ iểm sau: Một là, kinh tế thị trường bao gồm nhiều loại h ình đan xen nhau: nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia vào n ền kinh tế thị trường. Mỗi kiểu hàng hoá, tham gia vào n ền kinh tế thị trường có những nét đ ặc thù về bản chất kinh tế - xã hội và trình độ phát triển, nhưng nó đều là các bộ phận khác nhau của nền kinh tế quốc dân thống nhất. Bởi vậy chúng ta vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhau, bình đ ẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ. Nhân tố kinh tế và quan h ệ kinh tế trong mỗi kiểu sản xuất hàng hoá của mỗi thành phần kinh tế đều xuất hiện cái m ới. Trong đó, sản xuất hàng hoá XHCN giữ vai trò chủ đạo, định hư ớng với các kiểu sản xuất hàng hoá khác. Nhận thức được tính chất nhiều thành phần kinh tế
  6. là một tất yếu khách quan từ đó có thái độ đúng đắn trong khuyến khích sự phát triển của chúng theo nguyên tắc tự nhiên của kinh tế, phục vụ cho việc đ i lên XHCN ở nước ta. Hai là, nền kinh tế n ước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cấp tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang n ền kinh tế h àng hoá, vận hành theo cơ ch ế thị trường. Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở nước ta vẫn còn ở trình độ kém phát triển. Biểu hiện ở số lượng và chủng lo ại h àng hoá nghèo nàn, khối lượng hàng hoá lưu thông thị trường và kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá cả hàng hoá cao, chất lượng thấp, quy mô và dung lượng thị trường hẹp, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và hàng hoá trên th ị trường trong nước cũng như nước ngoài còn yếu, đội ngũ các nh à quản lý doanh nghiệp giỏi còn ít, thu nhập của người lao động còn th ấp... Trình đ ộ phát triển thấp của hàng hoá bắt nguồn từ trình độ thấp của lực lượng sản xuất, từ tính chất sản xuất nhỏ của nền kinh tế, từ trình độ phân công lao động xã hội kém phát triển, từ sự kém phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng, lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn, từ sự kìm hãm của nền kinh tế trong cơ ch ế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp một thời gian quá lâu d ài, từ sự nhận thức giản đơn về CNXH. Ba là, nền kinh tế phát triển theo hư ớng hoà nhập vào th ị trường thế giới và khu vực. Cách mạng khoa học - kỹ thuật công nghệ càng phát triển càng làm cho lực lượng sản xuất phát triển trình độ xã hội hoá cao, dẫn đến quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế ngày càng mở rộng. Do vậy, phát triển kinh tế thị trường không ph ải chỉ dựa trên cơ sở điều kiện trong nước m à còn phải tính đến quan hệ quốc tế, đến xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế. Nền kinh tế thị trường của mỗi
  7. quốc gia muốn phát triển không thể không gắn với thị trường thế giới. Bất cứ một quốc gia nào, cho dù là nước phát triển nhất cũng không thể sản xuất tất cả các loại h àng hoá. Vì vậy mỗi n ước phải tùy theo lợi thế của m ình lựa chọn mặt h àng xu ất khẩu có hiệu quả và cạnh tranh được trên th ị trường thế giới. Sản xuất hàng hoá của nước ta sẽ phát triển nếu biết cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới để khai thác những tiềm n ăng của nền kinh tế. Muốn vậy, con đường đúng đ ắn là phát triển nền kinh tế mở: hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời tha y th ế nhập khẩu có hiệu quả. Bốn là, nền kinh tế thị trư ờng phát triển định hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò của nh à nư ớc. Sự vận động của nền kinh tế hàng hoá thông qua cơ chế thị trường không thể nào giải quyết được những vấn đề như: lạm phát, th ất nghiệp, khủng hoảng, phân hoá bất bình đ ẳng, ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số cũng như các hiện tư ợng xã hội khác. Những tình trạng và hiện tượng trên ở những mức độ khác nhau trực tiếp hay gián tiếp đều có tác đ ộng ngược trở lại, làm cản trở sự phát triển b ình thường của một xã hội nói chung và của nền kinh tế hàng hoá nói riêng. Phát triển kinh tế h àng hoá gắn liền với nền kinh tế mở là tất yếu, nhưng trong quá trình đó, bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, thì cũng có nguy cơ du nhập những yếu tố văn hoá xa lạ với truyền thống, đặc đ iểm của dân tộc. Muốn giữ được nền kinh tế thị trường mang bản sắc văn hoá Việt Nam phải thực hiện có hiệu quả sự quản lý vĩ mô của nh à n ước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận lối sống thực dụng với sự chi phối tất cả của đồng tiền, không chấp nhận thương m ại hoá mọi hoạt động của đời sống xã hội kết hợp sự chọn lọc tinh hoa của văn
  8. m inh nhân loại với giữ gìn những yếu tố tinh tuý của văn hoá dân tộc, xây dựng những yếu tố văn hoá XHCN. ở nước ta, khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm tới từ 70% sức lao động và 80% dân số - nơi khai sinh của sự nghiệp đổi mới bằng “khoán 10” “chỉ thị 100”, từ chỗ thiếu đói đ ã vươn lên đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu gạo. Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực phát triển mạnh thứ hai, cho đến nay chúng ta có khoảng 22.000 doanh nghiệp tư nhân, gấp hai lần số doanh nghiệp nhà nư ớc khi b ắt đầu đ i vào công cuộc đổi mới và gấp 3 lần số doanh nghiệp nhà nước có đến h iện nay. Trong đó có những doanh nghiệp sử dụng 10.000 công nhân. Khu vực n goài quốc doanh (bao gồm không nhiều bộ phận của kinh tế hợp tác) chiếm trên dưới 2/3 tổng sản phẩm trong nư ớc. Bình quân tăng trưởng 5 n ăm (1990 - 1995) là 8,2% một năm. (Năm 1995, tăng trưởng bình quân hoàn toàn thế giới 3,5% trong đó cao nhất là vùng Đông á - Thái Bình Dương: 8,1%; Mỹ 3%; Nga 1,6%... Các nước ASEAN vẫn tiếp tục giữ mức độ tăng trưởng khá: Xingapo 8,9%; Philipin 5%; Thái Lan 8,9%... Trước đây , chính sách hợp tác hoá ở Liên Xô (cũ) khi thực hiện có phạm sai lầm nóng vội, ở nước ta do hoàn cảnh lịch sử nhất định, phong trào hợp tác hoá cũng đ a có tác dụng ở miền Bắc trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nư ớc, như ng tiếc rằng chúng ta không duy trì đ ược, cho đến n ăm 1990 các nhà soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hộ i đến n ăm 2000 không còn biết tỷ trọng bộ phận kinh tế hợp tác là bao nhiêu. Nhận thấy rõ những khiếm khuyết của nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp, tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, qua thực hiện 5 năm đổi mới Đảng ta
  9. khẳng đ ịnh “phát triển kinh tế hàng hoá nhiều th ành ph ần theo đ ịnh hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nư ớc. Sự tác động của Nh à nước vào n ền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội. Thiếu sự “cạn thiệp” của Nh à nước vào nền kinh tế thị trường tự do hoạt động, thì sự điều h ành kinh tế nước ta sẽ không có hiệu quả, cũng giống như ta muốn vỗ tay mà chỉ dùng một “bàn tay”. Nhà nước sử dụng luật pháp vào các công cụ vĩ mô khác để quản lý kinh tế làm cho n ền kinh tê “lành m ạnh” hơn, giảm bớt những thăng trầm, đột biến xấu trên con đường phát triển của nó, khắc phục được tình trạng phân hoá bất bình đẳng, bảo vệ được tài nguyên môi trường của đất nước. Như vậy, sự vận động của nền kinh tế hàng hoá theo cơ ch ế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là sự vận hành được điều tiết bởi sự thống nhất giữa cơ ch ế thị trường - b àn tay vô hình “và sự quản lý của Nhà n ước - bàn tay hữu hình”. 5 . Những giải pháp cụ thể. 5 .1. Trư ớc hết cần đ ẩy mạnh quá trình đa d ạng hoá các chế độ sở hữu, tạo đ iều kiện pháp triển mạnh nền kinh tế hàng hoá ở nước ta. Cơ sở tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau, về tư liệu sản xuất quy định. Vì vậy, để phát triển kinh tế thị trư ờng phải đ a dạng hoá các hình thức sở hữu trong nền kinh tế. Đối với nước ta quá trình đ a d ạng hoá được thể hiện bằng việc phát triển nền kinh tế h àng hoá nhiều thành ph ần như các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII đã ch ỉ ra.
  10. Đó là phát triển kinh tế Nhà nư ớc, kinh tế hợp tác xã, kinh tế sản xuất hàng hoá nh ỏ, kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nư ớc. Thành ph ần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta. Khu vực kinh tế Nhà nước cần phải sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức qu ản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các th ành ph ần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức n ăng của một công cụ quản lý vĩ mô của Nh à nư ớc. Đối với những cơ sở không cần giữ hình thức kinh tế Nh à nư ớc cần chuyển sang hình thức sở hữu khác hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động. * Đối với kinh tế hợp tác, cần phải có sự tổng kết, rút kinh nghiệm về bài học hợp tác xã kiểu cũ và xây d ựng mô h ình kinh tế hợp tác và hợp tác xã kiểu mới đang được phát triển hiện nay, đ ổi mới tổ chức và phương thức hoạt động có hiệu quả thiết thực, phát triển rộng rãi và đ a d ạng trong các ngành nghề, với quy mô hợp tác hoá khác nhau để huy động nguồn lực vào phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường ở nước ta. Đối với loại hình sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công, người buôn b án nhỏ. Một mặt, thông qua cơ ch ế, chinh sách và h ướng dẫn phát triển của Nh à nước khuyến khích sự phát triển của thành phần kinh tế n ày. Mặt khác cần tăng cường công tác quản lý để xây dựng nề nếp sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với thành phần tư bản tư nhân. Cần có chính sách khuyến khích th ành phần kinh tế n ày để các nhà tư b ản yên tâm và m ạnh dạn đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàn g hoá tiêu dùng suất khẩu.
  11. Đối với thành phần kinh tế Nhà nước. Nh à nư ớc cần phải có chính sách khuyến khích thành ph ần kinh tế này phát triển kể cả với tư bản Nhà nước trong nước và tư b ản nhà nư ớc nước ngoài. Vận dụng các hình thức kinh tế tư b ản Nhà nước là phương thức để chúng ta huy đ ộng sức mạnh dân tộc của các thành phần kinh tế khác. Muốn vậy ta phải tăng cường sự lãnh đ ạo của Đảng cộng sản, vai trò điều tiết, quản lý của Nh à nước pháp quyền XHCN và nhân tố quyết định vận động thành công KTTBCN ở Việt Nam. Cần xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng, nhất quán, phù h ợp với tập quán quốc tế, đủ sức hẫp dẫn nhưng công bằng nghiêm minh. Đa dạng hoá các hình thức TBNN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành ph ần. Th ực tế nư ớc ta hiện nay ở vùng nông thôn và đ ặc biệt là vùng núi còn tồn tại khá n ặng nền sản xuất tính chất của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc. Vì vậy, cần có chính sách thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hoá ở các vùng này, đ ặc biệt phải chú ý tới việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đ ẩy mạnh lưu thông hàng hoá với các vùng phát triển trong nước. 5 .2. Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội ở nước ta. Phân công lao động xã hội là đ iều kiện của sản xuất hàng hoá, của phát triển KTTT. Vì vậy, quá trình phát triển KTTT ở nước ta đòi hỏi phải đ ẩy mạnh phân công lại lao động xã hội. Muối khai thác mọi nguồn lực cần phải phát triển nhiều ngành n ghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động. Phân công lại lao động giữa các ngành theo hư ớng chuyên môn hoá sản xuất, hợp tác hoá, lao động công nghiệp và d ịch vụ tăng tuyệt đối và tương đ ối, lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối giữa lao động và tài nguyên, bảo vệ và phát triển
  12. môi trường sinh thái. Cùng với mở rộng phân công lao dộng trong nước tiếp tục mở rộng phân công và h ợp tác lao động quốc tế. 5 .3.Tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường. Đây là biểu hiện và tiền đề quan trọng nhất để phát triển KTTT. Thị trường là sản phẩm tất yếu của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển thị trư ờng càng mở rộng. Sản xuất, lưu thông hàng hoá quyết định thị trường, song thị trường cũng tác động trở lại, thúc đ ẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá. Để mở rộng thị trường và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường cần tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo sự cạnh tranh b ình đẳng giữa các th ành phần kinh tế, xây dựng thị trường thống nhất và thông suốt cả nước; phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ, trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu mà tăng quy mô, chủng loại, nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh của h àng tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu trong nước và m ở rộng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để tăng năng su ất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện giảm giá cả h àng hoá, tăng thu nhập, tăng sức mua, làm cho dung lượng thị trường nhất là thị trường nông thôn tăng lên. Hình thành và phát triển thị trường sức lao động, vốn, tiền tệ, chứng khoán. Để các th ị trường n ày phát triển cần triệt đẻ xoá bỏ bao cấp, thực hiện nguyên tắc tự do hoá giá cả, tiền tệ hoá tiền lương, m ở rộng cao loại thị trường, thực hiện giao lưu hàng hoá thông suốt cả nước, lành m ạnh hoá thị trường, khắc phục tình trạng kinh tế n gầm, kiểm soát và xử lý nghiêm minh các vi ph ạm thị trường. 5 .4. Đẩy mạnh cách mạng khoa học công nghệ, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đ ại hoá.
  13. Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh n ếu thường xuyên tổ chức lại sản xuất, đổi mới thiết bịi, công nghệ nhằm tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới của cách mạng khoa học - công nghệ vào sản xuất và lưu thông, đảm bảo cho hàng hoá đủ sức cạnh tranh trên th ị trường tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển. 5 .5. Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước. Để nền kinh tế phát triển theo định h ướng XHCN, nhất thiết phải coi trọng vai trò - quản lý vĩ mô của Nhà nước. Trong xu th ế hộp nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, cần phải tiếp tục đổi mới các công cụ, chính sách vĩ mô, đặc biệt là hệ thống tài chính tín dụng lưu thông tiền tệ, chính sách phân phối thu nhập và kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội. Việc đổi mới này vừa phải theo quy tắc phù hợp với những phương thức quản lý của nền kinh tế thị trường, đồng thời, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng m à Đảng đã chọn. 5 .6. Giữ vững ổn đ ịnh chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới chính sách tài chính tiền tệ giá cả. Đây là những nhân tố quan trọng để phát tiển KTTT, để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư. Nhà nước cần hạn chế can thiệp trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, mà tập trung làm tốt các chức n ăng tạo môi trường, hướng dẫn, hỗ trợ những yếu tố cần thiết để doanh nghiệp phát triển. Nh à nước cần tăng cường kiểm soát việc sử dụng mọi nguồn lực nhằm
  14. b ảo to àn và phát triển những tài sản quốc gia. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền KTTT nhiều thành phần. Nó tạo h ành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh n ghiệp trong và ngoài n ước. Với hệ thống pháp luật đồng bộ, các doanh nghiệp chỉ có th ể làm giàu trên cơ sở tuân thủ pháp luật. 5 .7. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh giỏi. Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Con ngư ời lao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của xã hội. Con người vừa là kết quả, vừa là đièu kiện để sản xuất phát triển. Mỗi cơ chế quản lý có đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh tương ứng. Chúng ta cần đ ẩy mạnh việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới. Cần sử dụng bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao nghiệp vụ, b ản hình qu ản kinh doanh của họ. Cơ cấu đỗi ngũ cán bộ cần chú trọng đảm bảo cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh doanh cả ở phạm vi vĩ mô lẫn vi mô. 5 .8. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế thị trường. Trong xu th ế quốc tế hoá đ ời sống kinh tế, mọi quốc giá muốn thúc đẩy KTTT phát triển phải hoà nh ập kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới (mở rộng thị trường n goài nước , mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngo ài). Muốn vậy phải đa dạng hoá hình thức, đa phương hoá đối tác, phải quán triệt nguên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và phân không biệt chế độ chính trị - xã h ội phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của đ ất nước trong quan hệ kinh tế nhằm khai thác tiềm n ăng lao động, tài nguyên thiên
  15. nhiên của đ ất nước, tăng suất khẩu để nhập khẩu, thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ h iện đại, kinh nghiệm quản lý. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều th ành ph ần theo định hướng XHCN là giải pháp cơ bản đ ể chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nư ớc ta hiện nay. Việc đó không nh ằm ngo ài mục tiêu giải phóng sức sản xuất, động viên tới mức cao nhất mọi nguồn lực b ên trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, h iện đại hoá, trên cơ sở đó m à nâng cao năng su ất lao động, hiệu quả kinh tế xã hội nhằm mục tiêu tối thượng là cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Thực hiện mục tiêu đó chính là giữ vững đ ịnh hướng XHCN trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nước nhà. IV. Kết luận và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Chúng ta khẳng định tính tất yếu của công cuộc đổi mới, đ ặc biệt là đổi mới về kinh tế, nh ưng cũng thấy mặt trái của nhiệm vụ n ày. Việc chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế h àng hoá nhiều th ành phần vận động theo cơ ch ế th ị trường có sự quản lý của nhà nước là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết đ ể giải phóng và phát huy các tiềm n ăng sản xuất trong xã hội. Nhưng sẽ sai lầm nếu cho rằng nền kinh tế thị trư ờng là liều thuốc vạn năng. Cùng với sự kích thích sản xuất phát triển, kinh tế thị trường cũng là môi trường thuận lợi cho việc nảy sinh và phát triển nhiều loại tiêu cực xã hội. Đã xuất hiện khuynh hướng làm giàu bằng bất cứ giá nào, kể cả lừa đ ảo, gây tội ác vi phạm pháp luật sẵn sàng chà đ ạp lên lương tâm và nhân ph ẩm, lối sống trụy lạc, chạy theo những thị hiếu thấp h èn, văn hoá không lành mạnh và nh ững hủ tục mê tín, dị đoan đang phục hồi và phát triển.
  16. Trong th ế hệ trẻ có một bộ phận phai nhạt lý tư ởng, chạy theo lối sống thực dụng. Một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên có chức có quyền, trong đó có cả những n gười đã từng đóng góp đ áng kể cho cách mạng, cũng bị sa ngã và thoái hoá, biến chất... Tóm lại, phát triển kinh tế hàng nhiều th ành ph ần trong nền kinh tế thị trư ờng mở không ph ải không có những hạn chế và tiêu cực nhưng những thành tựu đạt được đ ặc biệt là động lực phát triển được tạo ra là không thể phủ nhận. Hơn nữa việc phát triển kinh tế thị trường ở nước ta không phải là tự phát và sao chép cứng nhắc mà là phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Có thể nói đây không phải là mô hình có sẵn trong lịch sử mà đ ây là m ột sự khám phá mới, được xem như sự đột phá về mặt lý luận vốn đang cần được bổ sung trong thời kỳ quá độ hiện nay. Trong bối cảnh đó việc tăng cường nghiên cứu, tìm tòi những căn cứ khoa học và thực tiễn làm cơ sở cho việc xác định những thành phần kinh tế và do đó là việc hoàn thiện chính sách kinh tế nhiều thành phần ở n ước ta là việc làm có ý ngh ĩa cả về lý luận và thực tiễn hiện nay. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất trong việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta là thiếu hụt trong nhân tố con người. Nhân tố con người càng quan trọng b ao nhiêu thì sự yếu kém trong nhân tố con người càng gây h ậu quả tiêu cực bấy nhiêu. Vì vậy phải đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người là mục tiêu và người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người là mục tiêu và động lực của phát triển. Cần phải coi con người là vốn tức là coi như một thứ tài n guyên, nhưng là một thứ tài nguyên đặc biệt, một vốn quý nhất của đất nước. Điều đ ặc biệt quan trọng ở đây là phải đưa khái niệm nguồn lực con người thành một
  17. khái niệm công cụ cơ bản để điều th ành sự phát triển kinh tế xã hội, xem như sự phát triển con người là ch ỉ số quan trọng đ ể xác minh trình độ phát triển của một đ ất nước. Như vậy, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, được quán xuyến và xuyên suốt và trong toàn bộ nội dung và chiến lư ợc phát triển kinh tế xã hội do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra. Từ những điều đ ã nói ở trên, rút ra kết luận rằng: Việc Đảng và Nhà nư ớc ta chủ trương thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận h ành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nh à n ước theo định hư ớng XHCN hoàn toàn không phải là một kiểu “bắt cá hai tay” hay là “một sự lựa chọn theo hệ tư tưởng... do Đảng áp đ ặt lên toàn xã hội” như có người bài bác. Trái lại, đó là một chủ trương đúng đắn, một sự lựa chọn có khoa học được rút ra từ toàn bộ quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường trên thế giới từ trước đến nay. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài trong th ời kỳ quá độ góp phần phát huy quyền làm chủ, khơi dậy tiềm n ăng và sức sáng tạo của dân, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của kinh tế h àng hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trư ờng. Với chủ trương đó, chúng ta sử dụng cơ ch ế thị trường - một thành quả của nền văn m inh nhân loại - làm ph ương tiện để thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo đ iều kiện cải thiện đ ời sống nhân dân. Nhưng chúng ta quyết không theo mô hình kinh tế thị trường tự do tư b ản chủ nghĩa, không để cho cơ chế thị trường tự đ iều tiết nền kinh tế theo quy luật của thế giới hang d ã “cá lớn nuốt cá bé”, dẫn đến chỗ “loại trừ xã
  18. hội đối với một bộ phận ngày càng lớn nhân dân lao động”, như chính như nhiều nhà khoa học có đầu óc khách quan ở các nước tư bản đã chỉ ra. Trong hoàn cảnh cụ thể n ước ta hiện nay, chúng ta coi trọng vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nh à n ước đối với kinh tế thị trường để đảm bảo định hướng XHCN của chiến lược phát triển và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn m inh. Để chu yển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta hiện nay th ì phải phát triển n ền kinh tế hàng hoá nhiều th ành phần theo định hư ớng XHCN là một tất yếu khách quan. Để thực hiện tốt ta phải không ngừng phát huy nhân tố con người đồng thời áp dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật đ ể công nghiệp hoá và hiện đ ại hoá đất nước. Chắc chắn còn nhiều khó khăn và thử thách trên con đường đi tới mục tiêu trên. Song những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đ ạo của Đảng hơn 10 năm qua cho chúng ta cơ sở để tin rằng mục tiêu đó nhất định sẽ thực hiện được. Tài liệu tham khảo 1 / Giáo trình KTCT tập I +II xuất bản 1999 2 / Nghị quyết VIII 3 / Nghiên cứu - Trao đổi số 9 - (5/98) 4 / Thương mại số 10 - 99 5 / Thương mại số 13 - 96 6 / Thương mại số 16 - 97 7 / Thương mại số 12 - 98 8 / Nghiên cứu kinh tế số 258 (11 - 99)
  19. 9 / Thông tin - Lý luận số 6 - 2000 (268) 10/ Phát triển kinh tế số 16 - 97 11/ Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương số 2 (27) 12/ Kinh tế & Phát triển số 12 - 96 13/ Phát triển kinh tế số 86 - 97 14/ Phát triển kinh tế số 99 - 98 15/ Phát triển kinh tế số 53 - 95

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản