intTypePromotion=1

Khóa luận Chính trị quốc tế hiện đại: Những mặt hạn chế của hệ thống luật chơi trong nền chính trị quốc tế đương đại

Chia sẻ: Nguyen Sinh Hoang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:33

0
131
lượt xem
27
download

Khóa luận Chính trị quốc tế hiện đại: Những mặt hạn chế của hệ thống luật chơi trong nền chính trị quốc tế đương đại

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài trình bày 2 nội dung lớn qua Chương I - Sự hình thành luật chơi, Chương II - Những mặt hạn chế của hệ thống luật chơi trong nền chính trị quốc tế đương đại. Mời các bạn cùng tham khảo Khóa luận Chính trị quốc tế hiện đại: Những mặt hạn chế của hệ thống luật chơi trong nền chính trị quốc tế đương đại sau đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận Chính trị quốc tế hiện đại: Những mặt hạn chế của hệ thống luật chơi trong nền chính trị quốc tế đương đại

  1. HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO ­­­­­­­­­­­­­­­­­ KHÓA LUẬN BỘ MÔN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI ĐỀ TÀI: NHỮNG MẶT HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG LUẬT  CHƠI TRONG NỀN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ ĐƯƠNG ĐẠI Giảng viên hướng dẫn : TS.Đỗ Sơn Hải Sinh viên thực hiện : Nguyễn Sinh Hoàng Lớp : CT38H ­ 0104
  2. Hà Nội, tháng 12 năm 2014
  3. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................1 CHƯƠNG I..................................................................................................3 SỰ HÌNH THÀNH LUẬT CHƠI..............................................................3 1. Vai trò của nước lớn...........................................................................3 2. Xung đột hay hợp tác, lựa chọn nào đây?.........................................5 CHƯƠNG II.................................................................................................6 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ  CỦA HỆ  THỐNG LUẬT CHƠI TRONG   NỀN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ ĐƯƠNG ĐẠI............................................6 1. Sự bất bình đẳng của các luật chơi..................................................6 2. Tính hai mặt của quá trình thực hiện luật chơi............................11 2.1. Thực hiện luật, lách luật..................................................................................11 2.2. Ai giám sát luật chơi, Liệu Pacta Sunt Servanda có trở thành hiện thực?.....14 2.2.1. Mỹ hay Liên Hợp Quốc có quyền giám sát?.........................15 2.2.2. Trừng phạt hay không trừng phạt?........................................16 2.2.3. Trừng phạt như thế nào và hiệu quả ra làm sao?................17 3. Xung đột giữa các luật chơi.............................................................21 KẾT LUẬN....................................................................................................25 1. “Tính hoang dại” của Luật chơi hiện nay: Luật chơi hay “Luật   rừng”?.........................................................................................................25 2. Liệu có giải pháp nào để  loại bớt và tiến tới loại bỏ  hẳn “tính  hoang dại” của các luật chơi hiện nay?................................................26 2.1. Giải pháp...........................................................................................................26 2.2. Đánh giá............................................................................................................28 TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................29
  4. LỜI MỞ ĐẦU  Tương tự  như  mối quan hệ  giữa các cá nhân trong xã hội được điều  chỉnh bởi các quy chuẩn và giá trị, quan hệ  của các quốc gia với các thực   thể khác trong hệ  thống quốc tế bị chi phối bởi một mạng lưới những sự  cho phép và ép buộc. Người ta gọi nó là “ Luật chơi”. Đây là những nguyên  tắc được tất cả các quốc gia khi tham gia vào đời sống quốc tế thừa nhận   và cam kết tuân thủ. Xuất phát từ những nguyên tắc đã được quy định trong  luật quốc tế, thời gian trôi đi cùng với sự  thay đổi không ngừng của tình  hình quốc tế, hệ  thống luật chơi ngày càng được mở  rộng và hoàn thiện.   Nó nắm một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cách hành xử của các   quốc gia khi tham gia vào đời sống quốc tế, từ đó có thể giải quyết ổn thỏa  cũng như hạn chế  các xung đột, tăng cường hợp tác giữa các quốc gia với  nhau. Nền chính trị quốc tế hiện nay vận hành thông qua một hệ thống luật  chơi đặc thù, được hình thành trong suốt một chặng đường lịch sử  lâu dài  của loài người. Trong quá trình tương tác giữa các quốc gia hiện nay, các   cường quốc hàng đầu luôn muốn nắm lấy cái quyền quyết định luật chơi  và bắt các quốc gia “chiếu dưới” phải thực hiện theo. Chính vì vậy, bên  cạnh những mặt tích cực mà hệ thống luật chơi hiện nay mang lại vẫn còn  tồn tại nhiều mặt hạn chế chưa thể khắc phục được. Trong bài khóa luận  này em xin được đề cập đến những mặt hạn chế này, bên cạnh đó em cũng  nói về một số giải pháp và đánh giá. Do kiến thức của em còn hạn hẹp và nguồn tài liệu tương đối ít nên  bài khoá luận này khó tránh khỏi những thiếu sót, Kính mong nhận được   những ý kiến nhận xét và đóng góp của thầy để bài khóa luận của em được  đầy đủ và hoàn thiện hơn. Em tìm hiểu bài khóa luận này theo 2 nội dung lớn như sau: CHƯƠNG I: Sự hình thành luật chơi CHƯƠNG II: Những mặt hạn chế  của hệ  thống Luật chơi trong nền   Chính trị quốc tế đương đại   1
  5. 2
  6. NỘI DUNG TÌM HIỂU CHƯƠNG I SỰ HÌNH THÀNH LUẬT CHƠI 1. Vai trò của nước lớn Người xưa có câu “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” để nói về những người   dùng sức mạnh về  kinh tế  vật chất để  đạt được mục đích, hay nói cách  khác là xoay vãn tình thế sao cho có lợi cho mình nhất. Con người, một cá   nhân trong xã hội vẫn luôn thừa nhận điều này như một nguyên tắc bất di   bất dịch. Và nhiều con người tạo nên xã hội, xã hội sẽ  cấu thành nên một   quốc gia, dường như  cái nguyên tắc  ấy để  điều chỉnh mối quan hệ  giữa  người với người bỗng nhiên lại trở nên vô cùng hợp lý khi áp dụng vào môi  trường chính trị quốc tế mà ở đó mối quan hệ nâng lên một mức cao hơn ở  cấp độ quốc gia. Từ xưa đến nay, vai trò của những kẻ giàu có trong xã hội   luôn được thừa nhận và chiếm một vị  trí quan trọng trong quá trình vận   hành xã hội, và tương tự như vậy, xã hội quốc tế  cũng luôn giành một sự  quan tâm đặc biệt đến các nước lớn, mà có thể  nói một cách bạo miệng  hơn là chính trường quốc tế là một sân khấu lớn trong đó các nước lớn thủ  các vai chính và các nước nhỏ  chỉ  góp những vai phụ  hay diễn viên quần  chúng. Chính các nước lớn mới là nhân tố  tạo ra các luật chơi của nền   chính trị thế giới. Quá trình tương tác giữa họ trong sự giao lưu toàn cầu đã  thiết lập nên những luật chơi mà bất kể quốc gia nào khác, dù lớn hay nhỏ,  phát triển hay đang phát triển đều phải thừa nhận và hành động theo. Chủ nghĩa hiện thực ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách  là một mô hình lý thuyết hoàn chỉnh. Tư  tưởng của các nhà hiện thực đề  cao vai trò của các quốc gia, coi quốc gia là thực thể  chính yếu nhất của  quan hệ  quốc tế. Sau chiến tranh thế  giới thứ  hai, trong khi các quốc gia   như Nga, Nhật Bản, Tây Âu,… bị tàn phá một cách nặng nề thì thế giới đã  chứng kiến sự thống trị tuyệt đối của Mỹ với xu hướng bành trướng và áp   đặt. Chủ nghĩa hiện thực với cái cốt lõi bản chất từ  hiện thực khách quan   mà rút ra các nội dung tư tưởng có lẽ đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi thực tế  này. Đối với họ, Mỹ  là siêu cường duy nhất, có sức mạnh vượt trội và  quyết định hầu như  toàn bộ  các vấn đề  chính trị  quốc tế. Chính Mỹ  là  3
  7. nước lớn duy nhất có khả  năng hình thành cũng như  áp đặt các luật chơi   trong suốt thời kỳ này. Đến cuối những năm 70 của thế  kỷ  XX đã xuất hiện một trào lưu  mới, đó chính là chủ  nghĩa hiện thực mới được đánh dấu bằng việc phát  hành cuốn sách của nhà lý luận người Mỹ K. Waltz "Lý luận chính trị quốc  tế" vào 1979. Nhà nghiên cứu này cho rằng chủ  nghĩa hiện thực mới đã  "chỉnh sửa nội dung thiếu chặt chẽ và rời rạc của tư tưởng hiện thực chủ  nghĩa kinh điển thành một lý thuyết cân đối”. Có lẽ sự ra đời của chủ nghĩa   này là hoàn toàn có thể hiểu được, đơn giản bởi vì tình hình chính trị quốc  tế  luôn biến động không ngừng, và các nhà hiện thực mới với cái nhìn sát  sao thực tế sẽ không bao giờ bằng lòng với những tư tưởng trước đây của  các nhà hiện thực chủ nghĩa kinh điển. Đối với họ  giờ đây, Mỹ  tuy vẫn là   siêu cường số 1 trên thế giới, nhưng rõ ràng nước Mỹ không còn mạnh như  trước nữa, tầm ảnh hưởng của Mỹ cũng không còn bao quát rộng lớn như  trước nữa. Cùng với sự nổi lên của các quốc gia khác như Nhật Bản, Tây   Âu, Nga, Trung Quốc,.. vai trò siêu cường của Mỹ đang ngày càng bị thách  thức. Trật tự  thế  giới đã thay đổi, Mỹ  không còn là quốc gia duy nhất có  quyền định hình luật chơi nữa mà thay vào đó là sự  tham gia ngày càng  nhiều của các nước lớn khác kể  trên. Nhìn chung, luật chơi chính là kết  qủa của sự tương tác giữa các nước lớn này. Quy trình hình thành một luật chơi trong n ền chính trị  quốc tế  trải   qua các giai đoạn sau. Đầu tiên, xuất hiện nước lớn với xu h ướng bành  trướng và áp đặt. Và để  thực hiện chính sách này của mình nước lớn   một đã chủ  động đưa ra những đề  xuất, tất nhiên là những đề  xuất này  phải phục vụ cho lợi ích quốc gia của nước lớn một này. Trong quan hệ  quốc tế, rất ít khi chúng ta bắt gặp một sự  hài hòa về  lợi ích quốc gia   giữa các nước, đặc biệt là những nước lớn, lợi ích của quốc gia này đôi   khi lại là hiểm họa tai hại đối với một quốc gia khác. Bởi vậy, sau khi  nước lớn một đưa ra đề  xuất của họ, mặc nhiên sẽ  xuất hiện một nước   lớn hai đưa ra phản đề  xuất. Va chạm này sẽ  giải quyết như  thế  nào?   Xung đột và hợp tác luôn là hai mặt của quan hệ  quốc tế. Và để  giải   quyết va chạm này, hai nước lớn một và hai có thể  dùng các biện pháp   ngoại giao hoặc chiến tranh. K ết qu ả c ủa vi ệc gi ải quy ết va ch ạm này  4
  8. chính là “Luật chơi”. Chúng ta có thể cụ thể hóa quá trình hình thành luật  chơi theo sơ đồ sau: Đề xuất Phục vụ LIQG Phản đề xuất Nước lớn 1 Nước lớn 2 Va chạm phải giải quyết  Kết quả của việc giải bằng ngoại giao hoặc chiến  quyết va chạm là tranh “luật chơi” Sơ đồ quá trình hình thành luật chơi 2. Xung đột hay hợp tác, lựa chọn nào đây? Quá trình giải quyết va chạm giữa các nước lớn luôn là giai đoạn quan   trọng nhất trong quá trình hình thành luật chơi. Có thể nói luật chơi có công   bằng hay không phụ thuộc phần lớn vào lựa chọn giải pháp giải quyết va   chạm của các nước lớn.  Ở  đây, đó chính là hợp tác – đàm phán thương  lượng và xung đột – chiến tranh. Nếu như  người ta nhắc đến giải pháp  đàm phán thương lượng như  một trò chơi đôi bên cùng có lợi (win­win  game) thì chiến tranh đồng nghĩa với sự mất mát, tổn thất nặng nề, đôi bên   cùng thất bại (lose­lose game). Tuy nhiên một khi chiến tranh đã nổ  ra thì  nhất định sẽ  phải có kẻ  thắng người thua, kẻ được người mất, và đương   nhiên là bên thắng trận sẽ  có quyền quyết định tất cả, áp đặt đối với bên  thua trận, đây cũng chính là mặt hạn chế của chiến tranh. Từ bản chất này  nghe có vẻ  một luật chơi được hình thành thông qua con đường thương   lượng đàm phán sẽ có nhiều điểm mạnh và khó có thể tìm thấy bất kỳ một  hạn chế  nào trong đó so với một luật chơi được hình thành bằng chiến  tranh. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải suy xét xem liệu rằng quá trình  đàm phán thương lượng đó thực sự đã công bằng? Và những gì mà cả  hai  bên nhận được sau đàm phán thực sự đã phù hợp và đúng đắn. Tóm lại, dù  5
  9. có thông qua con đường hợp tác hay chiến tranh để tạo ra luật chơi thì ngay  chính trong bản thân luật chơi này cũng chứa đựng những mặt hạn chế khó   tránh khỏi. CHƯƠNG II NHỮNG MẶT HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG LUẬT CHƠI TRONG  NỀN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ ĐƯƠNG ĐẠI 1. Sự bất bình đẳng của các luật chơi “Quyền lực vẫn là nhân tố quyết định nội dung của luật chơi” Xã hội phân biệt kẻ  giàu người nghèo cũng như  chính trị  quốc tế  có  nước lớn nước nhỏ. Trong xã hội đã có kẻ  giàu người nghèo chứng tỏ  đã   có sự phân biệt giai cấp và sự bất bình đẳng diễn ra như một hậu quả tất   yếu. Tương tự như vậy, trong quan hệ quốc tế các nước lớn với sức mạnh   vượt trội của mình luôn có xu hướng bành trướng, áp đặt các quốc gia nhỏ  bé, yếu kém. Quá trình tương tác giữa các quốc gia này hình thành nên các  luật chơi có lợi cho họ  nhưng lại vô cùng bất lợi đối với các nước nhỏ.   Điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong các luật chơi. Chúng ta có thể nhận   thấy rằng hiện nay quyền lực vẫn là nhân tố quyết định nội dung của luật   chơi, Ai có quyền lực thì người đó có quyền quyết định. Quốc gia nào  quyền lực càng mạnh thì càng chi phối nhiều hơn đến các công việc của  đời sống quốc tế. Các nhà hiện thực chủ  nghĩa kinh điển quan niệm rằng  trong đời sống chính trị  quốc tế  không phải tất cả  các quốc gia đều bình  đẳng như  nhau mà chỉ  có các nước lớn là có quyền quyết định. Như  H.  Morgenthau nhấn mạnh: “Không phải tất cả các quốc gia đều tham dự vào  nền chính trị quốc tế như nhau. Thái độ của quốc gia đối với chính trị quốc  tế  là một phẩm chất năng động, Nó thay đổi cùng với sự  thay đổi sức   mạnh của quốc gia mà có thể  đưa quốc gia lên tuyến đầu của chính trị  quốc tế, cũng có thể loại bỏ khả năng hành động tích cực trên trường quốc  tế  của quốc gia đó”1. Tiếp theo Thusydides, những người hiện thực chủ  nghĩa cho rằng những quốc gia mạnh làm được những gì mà họ có thể làm,  còn các quốc gia yếu thì làm được những gì mà các quốc gia mạnh cho    “Quan điểm chủ nghĩa hiện thực về quan hệ quốc tế”, Vũ Thế Hiệp, Học Viện Ngoại Giao Việt Nam 1 6
  10. phép họ  làm. Mọi trạng thái của quan hệ  quốc tế  đều lệ  thuộc vào mối  quan hệ  tương tác giữa một số  nhỏ  các cường quốc. Khi ký kết các liên  minh và đồng minh với nhau, khi tham gia vào chiến tranh hoặc các cuộc  xung đột, các cường quốc có thể hy sinh vị trí và lợi ích của các nước nhỏ.  Theo họ, an ninh quốc tế và trật tự thế giới tuỳ thuộc vào các nước lớn, sẽ  được duy trì nếu họ  thỏa thuận được với nhau về  lợi ích và sẽ  bị  phá vỡ  nếu các thỏa thuận này không đạt được. Trước đây, chúng ta đã chứng kiến  sức mạnh chi phối này của Mỹ, sau đó là đến Mỹ  và Liên Xô trong chiến   tranh lạnh, và giờ đây là Mỹ, Nga và một số nước lớn khác nữa như Trung   Quốc, Nhật Bản, Tây Âu,  Ấn Độ. Chính các quốc gia này là những nước   lớn nắm giữ quyền lực và từ đó chi phối quá trình hình thành các luật chơi  áp dụng cho phần còn lại của thế  giới. Hẳn là quá bất bất bình đẳng khi   diễn ra thực tế là số đông phải phục vụ lợi ích của số ít và làm theo những   điều mà phần số  ít đó đặt ra, Chúng ta sẽ  phân tích qua một số  ví dụ  để  hiểu rõ hơn mặt hạn chế này: Ví dụ  thứ  nhất  là Nghị  quyết 1718 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp   Quốc trừng phạt CHDCND Triều Tiên. Liệu rằng đây có phải là quyết  định của tất cả? Liên Hợp Quốc, với 193 thành viên, hiện đang là tổ chức có số lượng   thành viên chiếm hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các nhà sáng lập Liên  Hợp Quốc đã thành lập ra Hội Đồng Bảo An bao gồm 5 thành viên thường  trực là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp và một nhóm luân phiên các  thành viên không thường trực. Hội đồng bảo an có thể được nhìn nhận như  một sự hòa nhập khái niệm cân bằng quyền lực thế kỷ 19 và khuôn khổ an  ninh tập thể của Liên Hợp Quốc. Với vai trò duy trì hòa bình và an ninh thế  giới, Hội Đồng Bảo An có thể  thông qua các nghị  quyết mang tính ràng  buộc theo quy định tại chương VII của hiến chương Liên Hợp Quốc. Nếu  năm thành viên thường trực không đồng ý thông qua nghị quyết, mỗi thành  viên này có một quyền phủ  quyết. Có thể  nói quyền phủ  quyết có trọng  lượng rất lớn, được coi là đặc quyền của chỉ riêng 5 cường quốc này. Bởi  vì chỉ  với một quyền phủ  quyết  được đưa ra đồng nghĩa với việc nghị  quyết ấy không được thông qua. Về nghị quyết 1718, đây là nghị quyết do  Mỹ đề  xuất nhằm trừng phạt CHDCND Triều Tiên sau khi nước này tiến  hành vụ  thử  hạt nhân lần thứ  nhất năm 2005. Việc thông qua nghị  quyết   7
  11. này hoàn toàn thuộc thẩm quyền quyết định của 15 thành viên Hội Đồng  Bảo An, mà cụ thể hơn là phụ thuộc vào ý chí của năm thành viên thường  trực. Nhìn vào quốc gia đề  xuất nghị quyết và số lượng các quốc gia tham   gia bỏ phiếu chúng ta có thể nhận thấy rằng đây rõ ràng không phải là một   quyết định của tất cả. Thậm chí quá trình thông qua nghị  quyết này cũng  gặp rất nhiều khó khăn do có sự  khác biệt về  lợi ích giữa năm thành viên  thường trực. Việc bỏ phiếu nghị quyết 1718 bị trì hoãn xuất phát từ những  lo ngại của Nga và Trung Quốc. Đại sứ  Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc   Vương   Quang   Á   bình   luận,   nghị   quyết   là   một   "câu   trả   lời   thích   hợp",  nhưng ông kêu gọi các nước thành viên Liên Hợp Quốc giữ  thái độ  thận   trọng và có trách nhiệm, đồng thời kiềm chế  những bước đi mang tính  khiêu khích. Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Ivanov đã khẳng   định rằng nghị  quyết "không nên nhắc đến việc sử  dụng vũ lực và không  được chống lại trực tiếp người dân Bắc Triều Tiên"2. Với mong muốn  nghị  quyết được thông qua, Washington đã phải sửa đổi văn bản này để  nhận được sự  chấp thuận của Nga và Trung Quốc. Sửa đổi quan trọng  nhất là việc xóa bỏ  nội dung  đề  cập đến hành động vũ lực chống lại  CHDCND Triều Tiên. Đề nghị cấm vận hoàn toàn về quân sự đối với Bắc  Triều Tiên như  ban đầu cũng được sửa lại, bằng cách nêu rõ những mặt  hàng cụ thể nước này bị cấm nhập khẩu như xe tăng, trực thăng và tên lửa. 2  http://vnexpress.net/gl/the­gioi/2006/10/3b9ef510 8
  12. Nghị quyết 1718 trừng phạt CHDCND Triều Tiên  Yêu cầu Bắc Triều Tiên hủy toàn bộ các loại vũ khí hạt nhân, vũ khí  hủy diệt và tên lửa đạn đạo.   Các nước ngăn cấm việc buôn bán hoặc vận chuyển nguyên vật liệu   liên quan đến chương trình vũ khí hủy diệt với Bình Nhưỡng cùng  những thiết bị quân sự cỡ lớn như xe tăng, tên lửa và trực thăng.  Yêu cầu các nước phong tỏa những nguồn tài chính  ở  nước ngoài  thuộc sở  hữu của những cá nhân và công ty liên quan đến chương   trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Bắc Triều Tiên.  Cho phép các nước kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu từ  Bắc Triều   Tiên để phát hiện các loại vũ khí hủy diệt.  Nghị quyết không ủng hộ đe dọa về quân sự  Kêu gọi Bình Nhưỡng quay lại vòng đàm phán 6 bên vô điều kiện. Nghị quyết 1718 trừng phạt CHDCND Triều Tiên Qua đó chúng ta thấy được cơ chế thông qua nghị quyết tại Hội Đồng  Bảo An Liên Hợp Quốc còn quá nhiều bất bình đẳng khi trao thẩm quyền  quyết định quá lớn cho năm thành viên thường trực. Bất cứ một nghị quyết   nào có được thông qua hay không không phụ thuộc vào ý chí của 193 quốc   gia thành viên mà phụ thuộc vào ý chí của chỉ năm thành viên thường trực   này. Rõ ràng quyết định tại Hội đồng Bảo an chưa bao giờ và sẽ không bao   giờ là quyết định của tất cả. Ví dụ thứ hai là về Tổ chức thương mại thế giới WTO. Liệu các quy  định của WTO có sự nhất trí cao của mọi nước thành viên? WTO được thành lập và đi vào hoạt động từ  ngày 01/01/1995. Tính  đến ngày 26/06/2014, WTO có 160 thành viên chính thức. Các Hiệp định  của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lý qui định rất  nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân  hàng, viễn thông, thị trường công, tiêu chuẩn công nghiệp, tính an toàn của  sản phẩm, qui định liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ,  và còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa… Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đơn  9
  13. giản và cơ  bản làm kim chỉ  nam cho tất cả  các lĩnh vực này, và trở  thành  nền tảng của hệ thống thương mại đa biên, đó là: Thương mại không phân biệt đối xử  (thông qua nguyên tắc tối huệ  quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia). Thương mại ngày càng tự do hơn (bằng con đường đàm phán). Nguyên tắc  ổn định trong hoạt động thương mại, kinh doanh quốc  tế3. Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh lành mạnh. Nguyên tắc giành điều kiện thuận lợi hơn cho các nước đang phát  triển và chậm phát triển và khuyến khích các nước đó phát triển  và cải cách kinh tế. Vậy cách thức các quốc gia thành viên WTO thỏa thuận để  thiết lập  nên các nguyên tắc này là như thế nào? Phải chăng trong quá trình ấy có sự  tham gia của tất cả các nước thành viên, đạt được sự  nhất trí cao nhất từ  tất cả các nước thành viên? Đó là những câu hỏi mà các câu trả lời của nó   thể  hiện một cách sâu sắc nhất hạn chế  của chính hệ  thống này. Thông  thường, các nguyên tắc thương mại toàn cầu được hình thành theo một quá  trình như sau:  Một cuộc gặp gỡ chiến lược giữa hai nền kinh tế chủ chốt có thể  diễn ra tại một địa điểm không chính thức, ví dụ như tại một nhà hàng. Tại  cuộc gặp này, hai bên sẽ  đưa ra những đề  xuất cũng như  những phản đề  xuất cho đến khi đạt được một thỏa thuận.  Tiếp theo, một bản dự thảo hiệp định sẽ  được chuyển tới những  nền kinh tế chính khác. Các nền kinh tế này đưa ra những quan điểm, đánh  giá và tiến đến thiết lập một thỏa thuận.  Bản dự thảo hiệp ước có thể tiếp tục được chuyển đến một nhóm  lớn hơn các nền kinh tế  khác. Cho đến khi bản hiệp ước đạt được sự  hài  hòa về lợi ích giữa các nước thì sẽ không cần thiết phải có những sự tham   gia góp ý thêm nữa.  Sử  dụng  ảnh hưởng của các nước lớn, ban thư  ký có thể  gây áp   lực buộc các nước nhỏ phải chấp nhận hiệp định. 3  Nguyên tắc này còn có tên gọi là “có thể dự báo được các rủi ro thương mại”.Xem thêm: WTO,   “Understanding the WTO”, Geneva 2008;  tr.11­12 10
  14.  Cuối cùng, hiệp định đã được thương lượng này sẽ được đưa ra bỏ  phiếu tại một cuộc họp chính thức, nơi mà gần như chắc chắn sẽ được thông   qua. Thông qua quá trình trên chúng ta có thể tự tìm ra cho mình các câu trả  lời cho những câu hỏi trên. Rõ ràng quá trình thiết lập các nguyên tắc của   WTO tỏ  ra thiếu minh bạch và lắm bất công. Quyết định cuối cùng luôn  luôn thuộc về các nước lớn có nền kinh tế nắm một vai trò chủ  chốt trong   tổ chức. Dường như các nước nhỏ không mấy ảnh hưởng đối với quá trình  này. Theo như một quan chức của WTO thì điều duy nhất mà các nước nhỏ  có thể làm là đóng vai trò như một “kẻ chuyên gây phiền toái”4, còn tất cả  các công việc của WTO đều được quyết định một cách không chính thức  bởi các nước lớn.  Tóm lại, các cơ  chế, thể  chế  quốc tế  hiện nay đang hoạt động cùng  với những luật chơi được thiết lập chủ  yếu bởi các nước lớn, chính điều  này đã tạo ra sự bất bình đẳng trong chính bản thân các luật chơi này. Một   nguyên tắc được thừa nhận trong hầu hết các văn bản luật quốc tế  hiện   nay là mọi người đều bình đẳng trước luật, nhưng nguyên tắc đó chỉ là trên   giấy tờ, còn ngoài đời thực thì luật chưa bao giờ bình đẳng với mọi người. 2. Tính hai mặt của quá trình thực hiện luật chơi 2.1. Thực hiện luật, lách luật Quá trình hình thành luật chơi đã luôn ẩn chứa bao sự bất bình đẳng,   bởi vậy trong quá trình thực hiện luật chơi  ấy cũng có nhiều vấn đề  tiêu  cực cần bàn đến. Sự  thực hiện luật chơi của các chủ  thể  trong nền chính  trị quốc tế là một quá trình hai mặt. Có những chủ thể thực hiện một cách  nghiêm túc, hay nói cách khác tức là tuân thủ luật chơi, nhưng bên cạnh đó   có những chủ  thể  không thực hiện đúng theo những luật chơi này và tìm  mọi “kẽ  hở” để  có thể  lợi dụng mà người ta hay gọi là tìm cách “lách  luật”. Tại sao lại như  vậy? Tại sao cùng một luật chơi đó thôi mà lại có  những nước tuân thủ một cách nghiêm túc, ngược lại có những nước không  tuân thủ đúng, thậm chí không thực hiện nó, vậy thì tại sao? Nhìn vào quá  trình hình thành luật chơi cũng như thực tế áp dụng nó ta có thể thấy được   điều này là hoàn toàn có thể dễ hiểu. Bản thân việc hình thành luật chơi đã   là một sự  bất công lớn bởi vì quyền quyết định đâu có  ở  tất cả  các quốc   4  http://clg.portalxm.com/library/keytext.cfm?keytext_id=79 11
  15. gia mà chỉ  nằm trong tay một số  ít các nước lớn. Bởi vậy, luật chơi luôn  đại diện cho lợi ích của các nước lớn này và không phù hợp thậm chí là đi  ngược lại với lợi ích của phần đông các nước nhỏ. Và hậu quả tất yếu là  những nước lớn này sẽ luôn nỗ lực thực hiện mọi biện pháp có thể để luật   chơi được duy trì, từ  đó bảo vệ  lợi ích quốc gia mình. Trong khi đó, các  nước nhỏ  lại tìm mọi cách để  lẩn tránh việc thực hiện những luật chơi   không có lợi cho họ, hoặc cố gắng tìm kiếm những kẽ hở của luật chơi để  có thể  “lách luật”. Tuy nhiên trên thực tế, tỷ  lệ  các nước nhỏ  thành công  trong việc “lách luật” này là rất nhỏ, mà hiện nay chính các nước lớn mới   là những chủ thể muốn “lách luật”, hay nói cách khác là lạm dụng luật này   một cách quá mức để có thể tối đa hóa lợi ích cho họ, nhằm đạt được mục  tiêu đã đề ra. Chúng ta có thể  thấy được điều này trong việc thực thi nghị  quyết   1973 của Mỹ và NATO trong cuộc chiến Libya. Đây là nghị quyết được đề  xuất bởi Pháp, Li Băng và Vương quốc Anh với nội dung thiết lập vùng   cấm bay và cho phép sử  dụng vũ lực đối với chính quyền của Muammar  Gaddafi trong cuộc nổi đậy tại Libya năm 2011. Nghị quyết được Hội đồng  Bảo an thông qua ngày 17 tháng 3 năm 2011. Mười thành viên Hội đồng  Bảo an đã bỏ phiếu quyết, năm thành viên (Brazil, Đức, Ấn Độ và các thành  viên thường  trực  Trung  Quốc  và  Nga)  bỏ  phiếu  trắng,  không có  phiếu  chống. Nghị  quyết giao quyền cho cộng đồng quốc tế  thiết lập một vùng  cấm bay Libya và dùng các phương thức cần thiết nhưng không có chiếm  đóng nước ngoài để  bảo vệ  thường dân. Nội dung chính của Nghị  quyết  1973 (2011) như sau:  Áp đặt một vùng cấm bay trên không phận Libya.  Cho phép tất cả các phương tiện cần thiết để  bảo vệ  dân thường và  các khu vực dân sự dân cư.  Tăng cường cấm vận vũ khí và hành động đặc biệt chống lại lính  đánh thuê, bằng cách cho phép để  kiểm tra bắt buộc đối với các  tàu và máy bay.  Áp đặt một lệnh cấm trên tất cả các chuyến bay đi và đến Libya.  Áp  đặt   một  lệnh  phong  tỏa  thuộc  sở   hữu   của  các  cơ  quan  chức   Libya, và xác nhận lại tài sản đó được sử  dụng cho lợi ích của  nhân dân Libya. 12
  16.  Mở  rộng lệnh cấm đi lại và phong tỏa tài sản của Nghị  quyết 1970   của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc bổ sung đối với một số cá  nhân và tổ chức Libya.  Thiết lập một nhóm chuyên gia để giám sát và thúc đẩy thực hiện xử  phạt. Trên thực tế, các hoạt động quân sự đã được phát động gần như ngay  sau khi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết này. Nhưng   chỉ  vài ngày sau khi liên quân Anh­Pháp­Mỹ  không kích Libya, dư  luận  quốc tế đã chuyển dần từ trung lập sang nghi ngờ hoặc phản đối.  Lật lại  lịch sử  trước đây Libya đã từng bị  Liên Hợp Quốc cấm vận theo Nghị  quyết 748 tháng 4/1992 và Nghị  quyết 883 tháng 11­1993. Libya cũng đã  từng bị  Mỹ  tấn công trong chiến dịch Vực El Dorado ngày 15/4/1986. Bởi   thế, để  không có cớ  cho nước ngoài can thiệp, ông Gadhafi lập tức tuyên  bố  ngừng bắn và ra lệnh cấm máy bay cất cánh. Tuy nhiên, liên quân vẫn  không kích. Từ  ngày 18/3, hai bên  ở  Libya đều vi phạm lệnh ngừng bắn.  Quân chính phủ vẫn tiến về thành phố Benghazi. Phe nổi dậy vẫn cho máy  bay chiến đấu cất cánh. Liên quân viện cớ này để can thiệp nhưng lại thiên  vị khi chỉ tấn công quân đội chính phủ.    Ông Ân Cương, chuyên viên Ban Âu­Á­Phi thuộc Học viện Khoa Học   Xã Hội Trung Quốc phân tích, nghị quyết của Liên Hợp Quốc cho phép áp  dụng biện pháp cần thiết để  ngăn chặn quân chính phủ  trấn áp phe nổi   dậy. Trong biện pháp cần thiết có bao gồm can thiệp quân sự. Tuy nhiên,   thời điểm để  áp dụng biện pháp cần thiết chỉ  khi tại Libya bùng nổ  nguy  cơ  nhân đạo hoặc lệnh áp đặt vùng cấm bay bị  uy hiếp. Ví dụ: Nếu máy  bay liên quân giám sát vùng cấm bay mà bị  súng phòng không uy hiếp thì  mới có quyền bắn.  Do vậy, hành động can thiệp quân sự của liên quân là lạm dụng sự ủy  quyền của Liên Hợp Quốc, là hành vi chế tài thái quá. Có hai điểm đặc thù  trong bối cảnh can thiệp quân sự của liên quân:   Libya đang trong tình thế  nội chiến: Hầu hết các nghị  quyết của  Liên Hợp Quốc mang tính chất chế  tài. Nhưng liên quân cho rằng với tình  thế nội chiến ở Libya thì chế tài không thể ngăn chặn xảy ra nguy cơ nhân  đạo nên viện vào đó sử dụng biện pháp quân sự. 13
  17.  Nguy cơ tại Libya phát sinh do yếu tố nội bộ: Trước nay, việc can   thiệp quân sự vào một quốc gia có chủ quyền đều bắt nguồn từ yếu tố bên  ngoài như chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc nước này xâm lược nước  khác, như chiến tranh ở Iraq năm 1991 và năm 2003. Lần này, liên quân can   thiệp vào Libya lại xuất phát từ  nguy cơ  nội bộ  (quân đội chính phủ  trấn  áp phe nổi dậy).  Rõ ràng Mỹ  và  NATO dùng “kẽ  hở” của Nghị  quyết 1973 làm “lá  chắn” cho các hành động quân sự  thái quá của mình5. Điều này chứng tỏ  rằng Mỹ  và NATO quyết tâm giành được mục tiêu là lật đổ  chính quyền   của tổng thống Gadhafi – một chính quyền mà Mỹ và NATO đều không ưa   gì. Ví dụ trên cho chúng ta thấy được, các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp,..  lại chính là các cường quốc muốn “lách luật”. Đó cũng là lẽ  thường tình  bởi vì họ có uy quyền, họ có sức mạnh áp đặt nên việc họ hành động bằng   mọi cách, thậm chí đi ngược lại với giá trị mà họ hướng tới, để có thể đạt  được mục tiêu của mình là hoàn toàn có thể hiểu được. Hậu quả  là nhiều  nước lo ngại tiền lệ   ở  Libya có khả  năng xảy ra với họ, đặc biệt là các  nước không có biện pháp chống đỡ  hiệu quả. Từ  tiền lệ  này, nhiều nước  có thể nghĩ cách dĩ độc trị độc nhằm chống nước ngoài can thiệp, như vậy  càng gây nhiều nguy cơ  cho chính trị  quốc tế. Hành động can thiệp vào  Libya cho thấy rõ, quốc tế  ngày càng áp dụng phổ  biến chủ trương “nhân   quyền cao hơn chủ quyền” đối với các nước nhỏ, yếu, có nội chiến.  2.2. Ai giám sát luật chơi, Liệu Pacta Sunt Servanda có trở  thành hiện   thực? Một quốc gia dân tộc điều hành nhân dân thông qua việc xây dựng nên  luật pháp hay những nguyên tắc và áp dụng chúng vào thực tiễn đời sống.   Bộ máy chính quyền của quốc gia này sẽ là cơ quan giám sát việc thực thi   những nguyên tắc, luật lệ   ấy. Mở  rộng hơn ra với môi trường quốc tế,  không chỉ  là những luật lệ  điều chỉnh quan hệ  xã hội giữa đối tượng là  người với người trong một quốc gia nữa mà đã nâng lên thành cấp độ  mối  quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Xã hội hoạt động dựa trên các nguyên  tắc, luật pháp mà quốc gia ban hành, cộng đồng các quốc gia trên thế  giới   5 http: //quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/NATO­dung­ke­ho­Nghi­quyet­1973­lam­la­ chan/20115/145701.datviet 14
  18. cũng hoạt   động dựa trên những  luật chơi  đã được  hình thành giữa họ.  Nhưng nếu trong quốc gia, bộ  máy chính quyền là cơ  quan giám sát việc  thực hiện luật pháp thì mở  rộng hơn trong môi trường chính trị  quốc tế  ai  hay cơ  cấu, tổ  chức nào sẽ  giám sát luật chơi? Và liệu rằng Nguyên tắc  tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế  ­ Pacta Sunt Servanda có   trở  thành hiện thực? Đó là những câu hỏi khó có thể  tìm ra được một câu   trả lời phù hợp nhất. 2.2.1. Mỹ hay Liên Hợp Quốc có quyền giám sát? Khi Hội Quốc Liên thành lập vào thế kỷ 19, người ta đã đạt niềm tin   và mong chờ tổ chức này sẽ  là một tổ  chức toàn cầu, đứng trên mọi quốc   gia để  giữ  gìn trật tự  cũng như  an ninh trên thế  giới. Nhưng qua quá trình  hoạt động mờ nhạt cộng với những thay đổi chóng vánh của tình hình thế  giới mà tiêu biểu là Chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra năm 1914, tổ chức  này đã không thể hiện được vai trò của mình và dẫn tới sự tan rã. Đến năm  1945, các quốc gia trên thế giới mà đứng đầu là Mỹ  lại một lần nữa thiết  lập nên một tổ  chức quốc tế  khác giống với Hội Quốc Liên nhưng có sự  phát triển  ở  mức độ  cao hơn, đó là Liên Hợp Quốc. Đây là tổ  chức ra đời   với nỗ lực lấp đầy những thiếu xót mà Hội Quốc Liên để lại. Hiện nay với  193 thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia trên thế giới, Liên Hợp Quốc  đã trở thành một tổ chức toàn cầu được tất cả các nước giao cho nhiệm vụ  đảm bảo hòa bình cho cả  thế  giới. Liệu đây có phải là tổ  chức chịu trách  nhiệm giám sát luật chơi trong nền chính trị quốc tế? Khi đề cập đến Hội Quốc Liên hay giờ đây là Liên Hợp Quốc, người   ta không thể không nhắc đến vai trò của cường quốc số 1 thế giới là Mỹ.  Có thể nói với vai trò và vị thế  to lớn của mình trên trường quốc tế, hiện   nay Mỹ vẫn là quốc gia chi phối chủ yếu đến các hoạt động của Liên Hợp  Quốc. Vì lợi ích quốc gia, Mỹ  điều khiển Liên Hợp Quốc sao cho có lợi   nhất cho mình (tuy hiện nay vai trò và sự  điều khiển của Mỹ  đã giảm  nhưng vẫn còn mạnh). Mỹ  là một nhân tố  chủ  chốt trong việc hình thành  luật chơi và cũng đóng luôn vai trò là người giám sát luật chơi  ấy. Do đó  khi đề  cập đến vai trò giám sát của Liên Hợp Quốc, người ta thường quy  cho là vai trò giám sát của Mỹ. Bởi vậy, Liên Hợp Quốc – một tổ  chức   được mong đợi đại diện cho lợi ích của tất cả các quốc gia, đứng trên mọi   quốc gia sẽ khó có thể thực hiện chức năng đúng đắn của nó nếu như vẫn   15
  19. tồn tại sự  chi phối mạnh mẽ  của Mỹ (và các cường quốc khác như  Nga,  Trung Quốc, Anh, Pháp). Lật lại quá khứ, đã không ít lần Mỹ sử dụng ảnh   hưởng chi phối này để phục vụ cho mục đích của mình. Ví dụ, nghị quyết  1718 hay sau này là nghị  quyết 1874 do chính Mỹ  đề  xuất tại Hội đồng   Bảo an nhằm trừng phạt CHDCND Triều Tiên sau khi nước này tiến hành  hai vụ thử hạt nhân vào năm 2005 và năm 2009, hay các nghị quyết của Hội  đồng Bảo an nhằm can thiệp quân sự vào Iraq và Afghanistan mà Mỹ cũng   chính là quốc gia đề xuất và trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi, giám  sát. Qua đó ta có thể  thấy được trong nền chính trị  quốc tế  hiện nay vẫn   còn thiếu một cơ  chế  đứng trên tất cả  các quốc gia, đại diện cho lợi ích   của tất cả  các quốc gia và giám sát quá trình tham gia hoạt động quốc tế  của tất cả  các quốc gia đó. Liên Hợp Quốc luôn được mong chờ  sẽ  trở  thành một tổ  chức như vậy, nhưng sẽ  là khó để  Liên Hợp Quốc trở  thành  một tổ  chức như  vậy nếu vẫn còn tồn tại sự  chi phối phần lớn của Mỹ  (cũng như các cường quốc khác như Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp). Vấn đề xác định xem ai hay tổ chức nào hiện đang giữ vai trò giám sát  luật chơi luôn là một vấn đề  rất hóc búa. Liệu Mỹ  hay Liên Hợp Quốc  đang đảm nhiệm vai trò này? Chính sự mập mờ trong việc xác định câu trả  lời cho câu hỏi  ấy đang thực sự  gây ra nhiều vấn đề  khó khăn mang tính  tiêu cực cao trong quá trình áp dụng cũng như thi hành các luật chơi. Chúng  ta có thể  lấy vấn đề  trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ra  làm ví dụ. 2.2.2. Trừng phạt hay không trừng phạt? Khi một quốc gia vi phạm các nghĩa vụ  quốc tế  của mình sẽ  bị  Liên   Hợp Quốc lên án. Nếu sự lên án này không đủ  mạnh để  buộc quốc gia ấy  tuân thủ  trở  lại các nghĩa vụ  quốc tế  thì Liên Hợp Quốc sẽ  dùng đến các  biện pháp trừng phạt. Vấn đề  có trừng phạt hay không không phụ  thuộc   vào tất cả  các thành viên của Liên Hợp Quốc mà phụ  thuộc vào 15 thành  viên của Hội đồng Bảo an, mà cụ thể là phụ thuộc phần lớn vào ý chí của  5 thành viên thường trực là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp. Điều 41,  chương 7 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định về  các biện pháp trừng   phạt như sau: “Hội đồng Bảo an có thẩm quyền quyết định những biện pháp nào  phải được áp dụng mà không liên quan tới việc sử  dụng vũ lực để  thực  16
  20. hiện các nghị  quyết của Hội đồng, và có thể  yêu cầu các thành viên của  Liên Hiệp Quốc áp dụng những biện pháp ấy. Các biện pháp này có thể là  cắt đứt toàn bộ  hay từng phần quan hệ  kinh tế, đường sắt, đường biển,   hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến và các phương tiện liên lạc khác,  kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao”6 Thực tế thì Mỹ và các nước đồng minh thường là các quốc gia đưa ra  những đề  xuất trừng phạt các quốc gia mà họ  cảm thấy là những “cái gai   trong mắt” mình. Họ  đã sử  dụng tối đa biện pháp này để  đạt được mục  tiêu  đề  ra. Chúng ta đã biết đến các nghị  quyết 1718, 1878 trừng  phạt   CHDCND  Triều Tiên, nghị  quyết 661 trừng  phạt kinh tế  lên Iraq, nghị  quyết 1973 thiết lập vùng cấm bay chống Libya… 2.2.3. Trừng phạt như thế nào và hiệu quả ra làm sao? Việc quyết định thông qua một lệnh trừng phạt trong Hội đồng Bảo  An chưa bao giờ  là dễ  dàng và dường như  quá trình này vẫn còn tiềm  ẩn   quá nhiều những bất công và tiêu cực. Và đến khi lệnh trừng phạt đã được  thông qua rồi thì lại gặp rất nhiều vấn đề xung quanh việc trừng phạt như  thế nào hay nói cách khác là thi hành lệnh trừng phạt này ra sao và hiệu quả  của nó như thế nào? Chúng ta quay lại ví dụ  trên với nghị quyết 1718 của   Hội đồng Bảo an trừng phạt CHDCND Triều Tiên để  thấy được các quốc  gia đã thi hành nghị quyết này như thế nào và hiệu quả của nó ra làm sao. Trong quá trình thực hiện Nghị  quyết 1718 Hội đồng Bảo an, nhiều  nước muốn giữ  quan hệ  kinh tế  với CHDCND Triều Tiên. Các nước này  đã cam kết sẽ  tuân thủ  Nghị  quyết 1718 của HĐBA LHQ, song bày tỏ  mong muốn việc này không  ảnh hưởng lớn đến quan hệ  kinh tế  ­ thương   mại của họ với CHDCND Triều Tiên. Có thể điểm qua một số  biện pháp  thi hành của các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Với Hàn Quốc, ngay sau khi nghị quyết của Hội Đồng Bảo An được   thông qua, ngày 15/10/2006, nước này tuyên bố sẽ  thi hành nghiêm túc các  biện pháp do Liên Hợp Quốc đề xướng. Tuy nhiên, trước đó, Seoul đã cho   biết, trong mọi tình huống sẽ  không dẹp bỏ  hai chương trình mang tính  thương mại, đang giúp cho Bình Nhưỡng một nguồn ngoại tệ đáng kể. Đó  là khu công nghiệp Kaesong và khu nghỉ mát tại núi Kim Cương.   http://vi.wikisource.org/wiki/Hiến_chương_Liên_Hiệp_Quốc#.C4.90i.E1.BB.81u_41 6 17
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2