intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Cạnh tranh không lành mạnh - Thực trạng và đề xuất giải quyết tranh chấp ở Việt Nam

Chia sẻ: Dfg Dfg | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:88

0
142
lượt xem
49
download

Khóa luận tốt nghiệp: Cạnh tranh không lành mạnh - Thực trạng và đề xuất giải quyết tranh chấp ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lý luận chung về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh. Tổng quan về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và thực trạng. Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh ở việt nam, những đề xuất cụ thể.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Cạnh tranh không lành mạnh - Thực trạng và đề xuất giải quyết tranh chấp ở Việt Nam

  1. HỌC NGOẠI THƯƠNG À KINH DOANH QUỐC TỂ ti KỈNH TẾ ĐỐI NGOẠI tìm • r a n ị •iriiirii.11111111Ị
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ Đối NGOẠI K H Ó A LUẬN TỐT NGHIÊP (Đi tài: CẠNH TRANH KHỔNG LÀNH MẠNH: THỰC TRẠNG VÀ ĐÊ XUẤT GIẢI QUYẾT CẠNH TRANH ở VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Đ ỗ Văn Ả i «" Lớp : Anh 3 Khóa : 45A - KT&KDQT Giáo viên hướng dẫn : GS. TS. Nguyễn Thị M ơ Hà Nội, tháng 5 năm 2010
  3. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Ì Chương Ì. Cạnh tranh không lành mạnh và tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 4 1.1. Canh tranh không lành mạnh 4 1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh 4 1.1.2. Đặc điểm của hành v i cạnh tranh không lành mạnh 8 1.1.3. Phân loại các hành v i cạnh tranh không lành mạnh 14 Ì .2. Tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 20 1.2.1. Khái niệm về tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 20 1.2.2. Đặc điểm của các tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 21 1.2.3. Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh...24 Chương 2: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh và thực trạng giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam 28 2. Ì Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam 28 2.1.1. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh thông qua các hành v i mang tính chất lợi dụng 29 2.1.2. Các hành v i mang tính chất công kích của doanh nghiệp kinh doanh 34 2.1.3. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh thông qua các hành v i lôi kéo bất chính khách hàng 38 2. Ì .4. Cạnh tranh không lành mạnh thông qua các hành v i mang tính chất ép buộc, hạn chế 48 2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 51 2.2.1. Nh n g số liệu ban đầu 51
  4. 2.2.2 Thực trạng các hình thức giải quyết ừanh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 55 2.2.3 M ộ t số nhận xét rút ra từ thục trạng tranh chấp và thực trạng giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 58 Chương 3: Giải pháp tăng cường giải quyết hiệu quả các tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh ờ Việt Nam 60 3. Ì. D ự báo về sự gia tăng của các hành v i cạnh tranh không lành mạnh trong thời gian tới ở Việt Nam 60 3.1.1. Sự gia tăng về số lượng 60 3.1.2. Sự gia tăng về tính phức tạp, khó lường 60 3.2. Các giải pháp cụ th nhằm giải quyết tốt tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam trong thời gian tới 61 3.2.1. N h ó m giải pháp về phía nhà nước 61 3.2.2. N h ó m giải pháp về phía doanh nghiệp 75 3.2.3. Giải pháp về phía người tiêu dùng 77 KẾT L U Ậ N 81
  5. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã khơi dậy khả năng tiềm tàng của mọi thành phần kinh tế. Sự gia tăng không ngặng cả về số lượng lẫn quy m ô của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài nhà nước, khiến cho hoạt động cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh diễn ra ngày càng gay gắt và quyết liệt. Chính điều đó đã làm cho nền kinh tế trở nên sôi động hơn, thúc đẩy các chủ thể kinh doanh phải không ngặng hoàn thiện, nâng cao chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Song cũng chính tặ sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt đó, thị trường bị đe dọa bởi hàng loạt các thủ đoạn cạnh tranh hết sức tinh v i và nguy hiểm, làm bóp méo thị trường, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến sự ổn định kinh tế và xã hội. Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đã, đang và sẽ hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, những yêu cầu về quản lý kinh tế của nhà nước, trong đó, việc tạo lập một môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng cho m ọ i chủ thể kinh doanh ờ Việt Nam trở nên đặc biệt cần thiết. Thực tế, nhà nước ta đã ban hành Luật cạnh tranh năm 2004 (dưới đây gọi tắt là L C T ) và một loạt các văn bản dưới luật khác với mục đích tạo lập một khung pháp luật vững chắc để duy trì và đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên, khác với nhiều đạo luật khác, L C T lần đầu được ban hành ở Việt Nam, do vậy việc giải quyết các tranh chấp phát sinh còn gặp nhiều bất cập, đặc biệt là đối với vấn đề giải quyết tranh chấp trong cạnh tranh không lành mạnh. Ì
  6. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp trong cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam em đã chọn đềtài: "Cạnh t r a n h không lành mạnh: Thực trạng và đề xuất giải quyết t r a n h chấp ở V i ệ t Nam" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. M ụ c đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở làm rõ khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh sau khi phân tích thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và làm rõ các loại tranh chấp phát sinh, khóa luận đề xuất các giải pháp để giải quyết tốt hơn các tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh. 3. Đ ố i tượng và phạm v i nghiên cứu 3.1. Đoi tượng nghiên cứu Đ ố i tượng của đề tài là nhờng vấn đềcó liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, tranh chấp liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh và giải quyết tranh chấp vềcạnh tranh không lành mạnh. Đ ố i tượng của đềtài còn bao gồm cả việc nghiên cứu Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004, các văn bản dưới luật liên quan cùng v ớ i tình hình thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong thực tế. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm v i nghiên cứu của đềtài giới hạn ờ việc phân tích cạnh tranh không lành mạnh và các mặt biểu hiện cũng như thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Ngoài ra, khi phân tích các tranh chấp liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, đềtài giới hạn ở việc phân tích các loại hình tranh chấp nói chung liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, không phân tích từng lĩnh vực cạnh tranh cụ thể 2
  7. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu để thực hiện khóa luận là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa M á c Lê nin, theo đó, vấn đề cạnh tranh không lành mạnh phải được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể của quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường ữ nước ta, đồng thời, phải được đặt trong những mối quan hệ liên quan như vấn đề cạnh tranh, vấn đề hạn chê cạnh tranh.... Ngoài ra khóa luận sử dụng phương pháp đối chiếu và so sánh luật học, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để làm rõ cơ sữ lý luận về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh không lành mạnh nói riêng; phương pháp thống kê và phương pháp luận giải để làm rõ thực trạng cạnh tranh không lành mạnh và sự điều chỉnh pháp luật đối với các hành v i cạnh tranh không lành mạnh ữ Việt Nam. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài lời mữ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia thành 3 chương: Chương 1. Cạnh tranh không lành mạnh và tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh Chương 2, Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh và thực trạng giải quyết tranh chấp vê cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam Chương 3. Giải pháp tăng cường giải quyết hiệu quả các tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của C ô giáo GS.TS Nguyễn Thị M ơ đã giúp em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình. D ù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn chế nên Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để Khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn. 3
  8. CHƯƠNG 1 CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ . TRANH CHẤP VÈ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1 1 CẠNH TRANH K H Ô N G L À N H M Ạ N H . 1 1 1 Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh ... Trước khi tìm hiểu khái niệm cạnh tranh không lành mạnh chúng ta cần tìm hiểu xem cạnh tranh là gì? Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trường, nó vừa là môi trường, vừa là động lực nội tại thúc đay nền kinh tế phát triển, cạnh tranh xuất hiện ở m ọ i lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và với mọi chủ thể đang tặn tại trên thị trường. Khái niệm cạnh tranh cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khách nhau, từ kinh tế, xã hội cho đến triết học, pháp lý... Do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại, các định nghĩa về cạnh tranh mặc dù đều nêu được một chừng mực nhất định những đặc điểm cơ bản về cạnh tranh, tuy nhiên, chúng đều có những hạn chế nhất định và chưa đảm bảo tính khái quát, bao trùm trong thực tiễn. Trong Luật Cạnh Tranh của Việt Nam năm 2004 không nêu lên định nghĩa về cạnh tranh. Còn theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư m ở Wikipedia: "Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác". K h i nhìn dưới giác độ kinh tế cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm giành lấy và thiết lập cho mình những ưu thế có lợi nhất để có thể tối đa hóa l ợ i nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ thị cung cầu là cốt yếu vật chất, giá cả là diện mạo, thì cạnh tranh là linh hặn của thị trường. N h ờ có cạnh tranh m à nền kinh tế thị trường có sự phát triển nhảy vọt m à trong lịch sử kinh tế loài 4
  9. người chưa từng biết đến trong các hình thái kinh tế xã hội trước đó. V ớ i mục tiêu lợi nhuận kinh doanh đã mau chóng trớ thành động lực thúc đẩy các nhà kinh doanh sáng tạo không biết mệt mỏi, làm cho cạnh tranh được nhìn nhận là đông lục cơ yếu của sự phát triển. Từ những phân tích ở trên, người viết cho rấng: "Cạnh tranh là là một yếu tố tất yếu của nề kinh tế thị trường, cạnh tranh xảy ra giữa hai hay nhiề chủ n u thế trong kinh doanh với mục đích dành vềmình những lêu thế nhất định so với các chủ thể khác ". Cạnh tranh không lành mạnh cũng là khái niệm được phân tích từ nhiều góc độ. Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Liên Bang Đ ứ c (1909), một trong những đạo luật sớm nhất điều chỉnh các hành v i cạnh tranh không lành mạnh, ngay tại Điều Ì đã khẳng định: ''•Người nào trong các giao dịch kinh doanh mà thực hiện các hành vi trái với thuần phong mỹ tục thì có thể bị chấm dặt hành vi vi phạm và phải bồi thường thiệt hạp) Đạo luật này tập trung vào yếu tố thuần phong mỹ tục, luật cũng đã liệt kê những hành v i cạnh tranh không lành mạnh như: Quảng cáo so sánh, quảng cáo trái với thuần phong mỹ tục, hành v i làm hàng nhái. Luật Cạnh tranh của Bungaria (ban hành ngày 02/05/1991) tại Khoản 2 Điều 12 đưa ra định nghĩa về cạnh tranh không bình đẳng, theo đó: "Cạnh tranh không bình đắng là hành vi hoặc biếu hiện tiến hành các hoạt động lành tế trải với tiêu chuẩn thông thường vềkinh doanh trung thực, gây hại hoặc có thể gây hại tới những lợi ích của đối thủ cạnh tranh trong các mối quan hệ giữa họ với người tiêu dùng". 2 'Điều Ì, Luật Cạnh tranh không lành mạnh Cộng hòa Liên Bang Đặc 2 Điều 12, Luật Cạnh tranh Bungaria 1991 5
  10. Khái niệm này lại nhấn manh vào tiêu chuẩn kinh doanh trung thực trong mối quan hệ v ớ i người tiêu dùng, theo đó, cạnh tranh không bình đẳng là cạnh tranh gây hại đối v ớ i lợi ích của người tiêu dùng. Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: "Cạnh tranh không lành mạnh là hoạt động của doanh nghiệp trái với quy định của luật này, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tự kinh tế-xã hội' Hầu hết các nước khác có luật đặc biệt về cạnh tranh không lành mạnh đều phê chuẩn các định nghĩa tương t ự hoặc giống như vậy trong phần quy định chung - sỉ dụng các thuật ngữ, ví dụ như "thông lệ thương mại trung thục" (Bỉ, Lucxembourg), "nguyên tắc ngay tình" (Tây Ba Nha, Thụy Sỹ), "chính xác về mặt chuyên môn" (Italia) và "đạo đức hàng hoa" (Hy Lạp, Ba Lan). Đ ố i v ớ i những nước m à thiếu những quy định pháp luật chuyên ngành, chẳng hạn như Hoa Kỳ, thì các toa án định nghĩa canh tranh lành mạnh là "các nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng" hoặc "đạo đức thị trường". N h ư vậy, mặc dù chưa có khái niệm nào thống nhất về cạnh tranh không lành mạnh nhưng qua tìm hiểu qui định của một số quốc gia, chúng ta bước đầu đã hình dung được diện mạo của hành v i cạnh tranh không lành mạnh. Bên cạnh hệ thống pháp luật của quốc gia, những Điều ước quốc tế có liên quan cũng đua ra những cách hiểu về cạnh tranh không lạnh mạnh, trong đó quan trọng nhất phải kể đến Công ước Paris 1883 về Quyền sở hữu công nghiệp, một trong những điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống các hành v i cạnh tranh không lành mạnh.Tại Điều lObis của công ước, cạnh tranh không lành mạnh được định nghĩa nhu sau: "Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh, được tiến hành trong quá trình sàn xuất, tiêu thụ sản ph m 6
  11. nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của người khác hoặc gièm pha đối thủ cạnh tranh, qua đó, giành giật khách hàng về phía mình". Luật Cạnh tranh của Việt Nam năm 2004, tại khoản 4 Điều 3 qui định: "Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đ c kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng". Cũng có định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh là những hành v i trái với những chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường. Hành v i cạnh tranh không lành mạnh ra đời t ừ bản tính hám l ợ i và ganh đua của con người trong kinh doanh, trái pháp luật, gây thiệt hại cho đối thủ kinh doanh và khách hàng. Là một hành v i có tính bản năng, các hành v i cạnh tranh không lành mạnh rểt dễ xuểt hiện và hầu như không thể loại trừ hoàn toàn trong kinh doanh. 3 V ớ i bản chểt là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành ưu thế của mình trên thị trường để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể, cạnh tranh luôn tạo ra sức ép hoặc kích thích ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuểt, cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuểt và phương thức quản lý nhằm nâng cao chểt lượng sản phẩm, hạ giá thành và giá bán hang hoa. Đ e đạt được mục tiêu của mình, trong quá trình đó, các doanh nghiệp có khả năng sang tạo rểt nhiều cách thức ganh đua khác nhau, tạo ra tình trạng ở những mức độ khác nhau, thậm chí, xuểt hiện cả những hành v i t á với chuẩn mực đạo đức kinh doanh. ri Những hành v i trái với chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường chính là cạnh tranh không lành mạnh. Thuật ngữ cạnh tranh không lành mạnh cũng được sử dụng phản ánh khía ĩ ' ~ TS. Lê Danh Vĩnh - Hoàng Xuân Bác - THS Nguyên Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, NXB Tư Pháp 2006 (ÍT 30-35) 7
  12. cạnh chuẩn mực đạo đức của các chủ thể tham gia thị trường. Thông thường, đế xác định một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với một doanh nghiệp khác hay không, phải căn cứ vào các chì tiêu thể hiện năng lực và trình độ trong kinh doanh như quy m ô đầu tư, doanh số, hiệu quả lợi nhuận, đối với doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, thay vì quan tâm đến điều kiện trên đây, hồ tiến hành cạnh tranh bằng các biện pháp thiếu trung thực, giả dối như: quảng cáo thổi phồng những đặc tính hữu ích, chất lượng cao hơn thực tế đạt được, nói xấu, dèm pha chất lượng hàng hoa, hạ thấp uy tín của thương nhân khác. Từ những phân tích ở trên, người viết cho rằng cạnh tranh không lành mạnh (hay cạnh tranh không bình đẳng) là những hành v i cạnh tranh đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm l ợ i ích của các nhà kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dung và lợi ích của toàn xã hội. Cạnh tranh không lành mạnh hay cạnh tranh không đẹp, cạnh tranh bất chính không chứa đựng bất kỳ tác động tích cực nào đến thị trường m à chúng là những hành v i sử dụng thủ pháp gian dối, không trung thực, không lành mạnh, gây cản trở hoạt động hoặc gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chủ thể kinh doanh khác. 1.1.2. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh Xuất phát khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh nêu ưên, có thể xác định một số đặc điểm cơ bản của hành v i cạnh tranh không lành mạnh như sau: - Đặc điểm thứ nhất, cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh. Có thể phân tích vấn để này trên hai khía cạnh: (i) Trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành v i kinh doanh của một doanh nghiệp cũng chính là hành v i cạnh tranh trong tương quan v ớ i các doanh nghiệp khác, do đó m ồ i hoạt động của doanh nghiệp, hiệp hội đều có thể bị xem xét về 8
  13. tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và pháp luật vê cạnh tranh không lành mạnh có thể can thiệp vào nhiều hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế. Đặc điểm này khiến cho pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh tại một số quốc gia có thể có phạm v i áp dụng rất rộng và điều chỉnh những hành v i đa dạng. M ộ t ví dụ gàn đây được nhiều người biết đến là Điều 18 của Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Nhật Bựn quy định về việc hối l ộ cũng bị coi là một dạng hành v i cạnh tranh không lành mạnh. Quy định này được bổ sung năm 1998 và được coi là sự nội luật hoa Công ước của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) về chống hối l ộ đối v ớ i quan chức nước ngoài trong giao dịch quốc tế. (li) Chủ thể thực hiện hành v i cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Theo qui định của Luật Doanh Nghiệp năm 2005, tại khoựn Ì, Điều 4 định nghĩa: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sựn, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh". Tuy nhiên, ở đây khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường. Cũng trong Luật Doanh Nghiệp năm 2005, tại khoựn 2, Điều 4 đưa ra khái niệm: " K i n h doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cự các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sựn xuất đến tiêu thụ sàn phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh l ợ i " . Tuy nhiên, trên một phạm v i rộng hơn, các quy định về canh tranh không lành mạnh còn có thể áp dụng đối v ớ i hành v i của các nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và các cá nhân hành nghề t ự do (bác sỹ, luật sư, kiến trúc sư). V à cuối cùng, liên quan đến trách nhiệm cá nhân, theo một truyền 9
  14. thống chung của pháp luật cạnh tranh, một số quốc gia còn mở rộng phạm v i đối tượng chịu trách nhiệm pháp lý về v i phạm đến các cá nhân là lãnh đạo doanh nghiệp và không loại trừ các chếtài mang tính hình sự. Lấy tiếp ví dụ tại Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản nêu trên, hình phạt tối đa đối với các cá nhân v i phạm có thể lên đế 10 năm tù và l o triệu yên tiền phạt. n - Đác điếm thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được mang tính chất đối lập, đi ngược lại các thông lệ và chuẩn mực kinh doanh trung thực. Đẹc điếm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập, quán pháp của pháẹ_lụật về cạnh tranh không lành mạnh, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, không thể một sớm một chiều m à có được. Mẹt khác, đẹc điểm này cũng đòi hỏi cơ quan xử lý về hành v i cạnh tranh không lành mạnh phải có những hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường để phán định một hành v i có đi ngược lại những quy tắc xử sự chung trong kinh doanh tại một thời điểm nhất định hay không. N h ư đã phân tích ở phần trên, với một nền kinh tế thị trường mới hình thành, các thông lệ, tập quán thương mại tại Việt Nam chưa đủ thời gian để tạo thành các chuẩn mực đạo đức kinh doanh được các tổ chức, cá nhân cùng nhận thức giống nhau và tự nguyên thực hiện nhu những quy tắc x ử sự có tính chất bắt buộc. Tuy nhiên, vẫn có một số nguyên tắc được khẳng định cả trong pháp luật và thực tiễn có thể sử dụng để đánh giá tính lành mạnh của hành v i cạnh tranh, cũng là những nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự, thương mại được quy định tại các văn bản luật khác như B ộ luật Dân sự năm 2005 hay Luật Doanh nghiệp năm 2005. Đ ó là các nguyên tắc trung thực, thiện chí, tự nguyện, hợp tác, cẩn trọng và mẫn cán. V à những nguyên tắc khác có thể được đề xuất trong tương lai phù hợp với yêu cầu thực tế của công cuộc phát triển kinh tế xã hội. lũ
  15. Do đặt tiêu chí đánh giá tính lành mạnh của hành v i cạnh tranh dựa trên các thông lệ kinh doanh trung thực, thiện chí, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh luôn có trọng tâm bảo vệ các doanh nghiệp trung thực, các chuẩn mực hành v i của doanh nghiệp được xem là trọng tâm ban đầu để xây dựng các quy định trong lĩnh vực này. M ộ t hoạt động kinh doanh nhất định bị đa số trong cộng đờng doanh nghiệp phản đối thì hiếm khi được coi là là cạnh tranh lành mạnh. Mặt khác, một số thông lệ kinh doanh được công nhận trong một số ngành, lĩnh vực nhất định, song lại bị coi là sai trái ở những ngành, lĩnh vực khác. Trong những trường hợp nhu vậy, việc đánh giá hành v i phải dựa trên các chuẩn mực chung hơn về đạo đức kinh doanh, trong đó xem xét khả năng quyền lợi của người tiêu dùng bị phương hại. Cũng có những trường hợp hành v i thoạt đầu không gây hại cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác, nhưng về lâu dài vẫn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, do đó cần phải có biện pháp ngăn chặn thích hợp. Do đó, để đánh giá một hành v i cạnh tranh không lành mạnh không thể không xem xét tác động của hành v i đó đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác. M ộ t khía cạnh khác cần phân tích liên quan đến đặc điểm đi ngược lại thông lệ, chuẩn mực đạo đức kinh doanh của hành v i cạnh tranh không lành mạnh, đó là yếu tố chủ quan của bên thực hiện hành v i . M ộ t hành v i cạnh tranh không lành mạnh điển hình luôn gắn với lỗi cố ý của bên v i phạm, mặc dù biết hoặc buộc phải biết đến các thông lệ, chuẩn mực đặt ra đối với hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn cố tình v i phạm. Tuy nhiên, trong thực tiễn xử lý, việc xem xét đánh giá yếu tố lỗi được trao cho toa án hoặc cơ quan x ử lý vụ việc, và nhiều trường hợp mang tính chất suy đoán hơn là đòi hỏi các bằng chứng cụ thể về ý định cạnh tranh không lành mạnh của bên thực hiện hành vi. V à khi vấn đề bảo vệ người tiêu dùng được nhấn mạnh định hướng thực t h i pháp luật về li
  16. cạnh tranh không lành mạnh thì việc xem xét yếu tố lỗi càng không mang tính quyêt định. về nguyên tắc, một hành v i của doanh nghiệp cho dù chỉ là vô ý, bất cân nhưng gây thiệt hại cho người tiêu dùng cũng vẫn phải bị ngăn chặn. - Đặc diêm thứ ba: một hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đổi tượng khác. Đặc điểm này mang nhiều ý nghĩa về tố tụng và đặc biệt đưực chú ý khi việc xử lý cạnh tranh không lành mạnh đưực tiến hành trong khuôn khổ kiện dân sự và gắn liền với yêu cầu bồi thường thiệt hại. Câu hỏi đặt ra là liệu việc chứng minh thiệt hại thực tế đưực coi là bắt buộc để bắt đầu tiến trình x ử lý hành v i cạnh tranh không lành mạnh hay không? Tuy thuộc vào quy định của từng quốc gia cũng như quan điểm của cơ quan xử lý, có các cách thức nhìn nhận khác nhau về hậu quả của hành v i cạnh tranh không lành mạnh. Trong nhiều trường họp, cơ quan xử lý có thể chấp nhận việc "đe doa gây thiệt hại", cũng như các thiệt hại không tính toán đưực cụ thể về cơ hội kinh doanh là đủ để coi một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh và đáng bị ngăn cấm. về những đối tưựng chịu thiệt hại, dễ thấy hành vi canh tranh không lành mạnh có thể tác động đến nhiều đối tưựng khác nhau tham gia thị trường khác nhau, trong đó hai nhóm cơ bản là các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng. Điều 3 của Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Liên Bang Đức cấm "các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm ton hại đến các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác" . Luật Cạnh tranh Việt Nam có đưa thêm một 4 đối tưựng có thể bị xâm hại là Nhà nước, tuy nhiên đối tưựng này không mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định về cạnh tranh không lành mạnh 4 Điêu 3, Luật Chông cạnh tranh không lành mạnh Cộng hòa Liên Bang Đức 12
  17. của nhiều quốc gia, do chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ l ợ i ích của Nhà nước trước hành v i cạnh tranh không lành mạnh tại những nền kinh tế m à ở đó Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh, và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thứ trường. Trong đa số trường hợp khác, lợi ích của Nhà nước đã được thể hiện thông qua lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia thứ trường là doanh nghiệp và người tiêu dùng. 5 Trước đây, một số quốc gia có cách tiếp cận cứng nhắc khi xác đứnh một hành v i là cạnh tranh không lành mạnh ngay khi nó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành m à không cần xem xét ảnh hưởng đến các đối tượng khác, đặc biệt là người tiêu dùng. Điển hình là Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh trước của Cộng hòa Liên Bang Đ ứ c (ra đời năm 1909 và được thay thế bằng đạo luật mới năm 2004), trong đó cấm cả các chương trình khuyến mại giảm giá đặc biệt cho người tiêu dùng và kéo dài quá 12 ngày. Hiện nay, cách nhìn nhận về hành v i cạnh tranh không lành mạnh trờ nên cân bằng hơn, cơ quan xử lý thường phải đánh giá cả thiệt hại của người tiêu dùng và các đối tượng khác để kết luận về v i phạm. c ầ n thấy rằng trong một phạm v i thứ trường hữu hạn, doanh nghiệp thực hiện một hành v i cạnh tranh bất kỳ cũng đều có khả năng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó, do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh để xác đứnh một hành v i là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ. Trên thực tế, các hành v i cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác nhưng đem lại l ợ i ích thực tế cho người tiêu dùng sẽ không bứ coi là cạnh tranh không lành mạnh. Ví dụ điển hình là trường hợp quảng cáo so sánh, trước đây bứ coi là một trong những hành v i cạnh tranh không lành mạnh điển hình, tuy nhiên từ sự cân nhắc l ợ i ích nó đem lại cho 5 Khoán 4, Điều 3 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 13
  18. người tiêu dùng (tiết kiệm thời gian tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm), m à hành v i này đến nay đã được chấp nhận với những điều kiện ràng buộc về tính chính xác, đầy đủ của thông tin để tránh bị các doanh nghiệp l ợ i dứng công kích đối thủ cạnh tranh. Việt Nam hiện còn lại là một trong số rất í các quốc gia trên thế giới t cấm tuyệt đối các hình thức quảng cáo so sánh trực tiếp, m à không cần xét đến nội dung quảng cáo. 1.13. Phân loại các hành v i cạnh t r a n h không lành mạnh Dựa vào các hình thức của cạnh tranh không lành mạnh, điều 39 Luật cạnh tranh 2004 đã chia các hành v i cạnh tranh không lành mạnh thành 9 loại: - Chỉ dẫn gây nhầm lẫn Theo Luật Cạnh tranh 2004, chi dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là chỉ dẫn chứa đựng thông t i n gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vứ nhằm mức đích cạnh tranh. Luật Cạnh tranh 2004 cấm doanh nghiệp sử dứng chỉ dẫn gây nhầm lẫn và kinh doanh hàng hoa, dịch vứ có sử dứng chi dẫn gây nhầm lẫn. Hành v i chỉ dẫn gây nhầm lẫn gồm có 3 đặc điểm: Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành v i v i phạm phải là "doanh nghiệp". Tuy nhiên, không đồng nghĩa hoàn toàn với khái niệm "doanh nghiệp" được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa của Luật cạnh tranh 2004, rộng hem so với Luật Doanh nghiệp 2005. Theo đó, doanh nghiệp trong Luật cạnh tranh 2004 không chỉ bao gồm các tổ chức kinh doanh như quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, m à còn bao gồm cả cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không có đăng ký kinh doanh. Thứ hai: Phương thức thực hiện hành v i là xâm hại đến tên thương mại, 14
  19. khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý... có trên sản phẩm hàng hoa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. V ớ i việc thiết kế dưới dạng các quy phạm cấm đoán, Luật cạnh tranh 2004 không đưa ra các dấu hiệu để nhận dạng các đối tượng bị xâm phạm này, do đó, phải sử dụng phối hợp các quy phạm định nghĩa trong các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan để tộ đó có cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng. Hiện nay, Luật Sở hữu t í tuệ (SHTT) 2005 và Quy chế ghi nhãn hàng hoa lưu r thông trong nước và hàng hoa xuất khẩu, nhập khẩu mới có quy định các dấu hiệu nhận dạng đối v ớ i một số chi dẫn về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bao bì. Còn các chì dẫn khác trong Luật cạnh tranh 2004, Luật SHTT 2005 như: biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh đều không được giải thích ờ bất cứ văn bản nào trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam. Thứ ba: Mục đích của hành v i là gây nên sự nhầm lẫn của khách hàng giữa hàng hoa, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh v ớ i hàng hoa, dịch vụ của doanh nghiệp mình. N h ư vậy, hàng hoa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải cùng trong một thị trường v ớ i hàng hoa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh hoặc cùng trên thị trường liên quan. - Xăm phạm bí mật kinh doanh Bí mật kinh doanh là thông t i n thu được tộ hoạt động đầu tư tài chính, t í r tuệ, chưa được bộc l ộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Đặc điểm của bí mật kinh doanh là những thông tin: ( i ) Không là hiểu biết thông thường; ( i i ) C ó khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho nguôi nắm g i ữ thông t i n đó có lợi thế hơn so v ớ i người không nắm g i ữ hoặc không sử dụng nó; ( H i ) Được chủ sở hữu bảo mật bàng các biện pháp cần thiết để không bị 15
  20. tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được. 6 X â m phạm bí mật kinh doanh là việc doanh nghiệp có các hành v i như tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác, tiết lộ, sử dụng thông tin, bí mật kinh doanh m à không được phép của chủ sở hữu chân chính. Bí mật kinh doanh mang đến cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích, nó cũng có thế được coi là một dạng tài sản của doanh nghiệp, chính vì vậy, bí mật kinh doanh luôn bị các đối thủ cạnh tranh nhòm ngó, tiếp cận và thu thập nhằm chiếm đoạt lợi thế của doanh nghiệp sở hữu nó. Có rất nhiều hành v i được coi là xâm phạm bí mật kinh doanh, tuy nhiên, có thặ nhận diện những hành v i xâm phạm bí mật kinh doanh thông qua hai tiêu chí chủ yếu như sau: (i) Tiếp cận, thu thập thông tin bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sờ hữu bí mật kinh doanh. Những bí mật kinh doanh thường được chủ sở hữu dùng các biện pháp bảo mật nhằm lưu g i ữ và bảo mật những thông tin này trước đối thủ cạnh tranh như cất g i ữ tại nơi bí mật, cài đặt các thiết bị, m ã số bào vệ... Hành v i sử dụng những biện pháp đặ phá vỡ hệ thống bảo vệ thông tin này đặ tiếp cận, thu thập thông t i n bí mật được coi là những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. (li) Bộc lộ, sử dụng thông tin bí mật kinh doanh m à không được phép của chủ sở hữu. Thực tế kinh doanh, chủ sở hữu bí mật kinh doanh thường phải sử dụng và cung cấp những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của mình cho đối tác. v ề nguyên tắc, đối tác phải bảo mật tuyệt đối các thông t i n này và chỉ được tiết lộ hoặc sử dụng nó khi có sự chấp thuận của chủ sở hữu. 6 Khoản Ì, Điều 6, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ quyền sờ hữu công nghiệp đoi với bi mội kinh doanh, chi dan địa lý, tên Ihỷõng mại và báo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đen sớ hữu công nghiệp 16

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản