intTypePromotion=1

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh siêu âm Doppler động mạch cảnh ngoài sọ ở bệnh nhân nhồi máu não trên lều giai đoạn cấp có đái tháo đường

Chia sẻ: Yumimi Yumimi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:155

0
62
lượt xem
16
download

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh siêu âm Doppler động mạch cảnh ngoài sọ ở bệnh nhân nhồi máu não trên lều giai đoạn cấp có đái tháo đường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án hướng đến các mục tiêu nghiên cứu: mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh vữa xơ động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng siêu âm Doppler ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp có đái tháo đường, đánh giá mối liên quan giữa lâm sàng, hình ảnh siêu âm động mạch cảnh ngoài sọ và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp có đái tháo đường. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh siêu âm Doppler động mạch cảnh ngoài sọ ở bệnh nhân nhồi máu não trên lều giai đoạn cấp có đái tháo đường

  1. 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN QUÂN Y NGÔ THANH SƠN NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH NGOÀI SỌ  Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TRÊN LỀU  GIAI ĐOẠN CẤP CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
  2. 2 HÀ NỘI ­ 2016
  3. 3 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN QUÂN Y NGÔ THANH SƠN NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH NGOÀI  SỌ Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TRÊN LỀU  GIAI ĐOẠN CẤP CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Chuyên ngành : Thần kinh  Mã số : 62 72 01 47 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. Lê Văn Thính
  4. 4 HÀ NỘI ­ 2016
  5. 5 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số  liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công   bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả Ngô Thanh Sơn
  6. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ  não là một vấn đề  thời sự  của y học, thế  giới mỗi năm có  khoảng 15 triệu người mắc trong đó 5 triệu người tử vong, 60% trường hợp   đột quỵ não và 2/3 số trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp  và trung bình. Tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư . Tuổi thọ con người ngày càng được nâng cao, cùng với các bệnh thời  đại như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa, đột quỵ não có  xu hướng tăng nhanh. Theo Tổ chức Y tế thế giới: đột quỵ não là sự xảy ra  đột ngột các thiếu sót thần kinh, thường khu trú hơn là lan toả, tồn tại quá   24 giờ, các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương. Đột quỵ  não gồm  hai thể: nhồi máu não và chảy máu não trong đó nhồi máu não chiếm tỷ lệ  cao hơn. Đánh giá tình trạng vữa xơ động mạch cảnh có ý nghĩa lớn trong  điều trị: với mảng vữa xơ  lớn gây hẹp tắc lòng mạch thì can thiệp phẫu   thuật giúp làm giảm tỷ lệ nhồi máu não tái phát. Để đánh giá tình trạng vữa  xơ, hẹp tắc động mạch cảnh có nhiều phương pháp thăm dò như  chụp   động mạch, siêu âm động mạch cảnh, chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu.   Chụp động mạch não là phương pháp thăm dò có độ  chính xác cao nhưng   có những biến chứng nhất định. Siêu âm Doppler là một phương pháp rất  được ưa chuộng vì có thể tiến hành rộng rãi ở nhiều bệnh viện, có độ chính  xác khá cao mà không gây biến chứng [95]. Cùng với đột quỵ  não, đái tháo đường là bệnh lý thời đại với số  bệnh nhân ngày một tăng. Biến chứng của đái tháo đường lên mạch máu  thường được nghĩ nhiều đến là tổn thương vi mạch (tắc mạch máu nhỏ  trong não). Tuy nhiên đái tháo đường còn làm tăng vữa xơ  các mạch máu  vừa và lớn đặc biệt là hệ  động mạch cảnh từ  đó gây tắc các động mạch 
  7. 2 trong não. Đái tháo đường không những là nguyên nhân mà còn có thể ảnh  hưởng đến tiên lượng và mức độ hồi phục của nhồi máu não [108]. Ở  nước ta, bệnh lý hẹp tắc động mạch thuộc hệ    động mạch cảnh  trong đã được các bác sĩ chuyên khoa thần kinh chú ý đến từ đầu những năm   1980,  đơn cử ba công trình nghiên cứu năm 1983, 1985, 1987 của các tác giả  Ngô   Đăng  Thục,  Lê Văn  Thính  và   Lâm   Văn   Chế.   Từ   khi   máy   siêu   âm  Doppler được trang bị   ở  nhiều bệnh viện, ngày càng có nhiều công trình   nghiên cứu về  hệ  động mạch cảnh và mối liên quan giữa vữa xơ  động  mạch cảnh với các tình trạng bệnh lý khác. Tuy nhiên nước ta chưa có  nhiều nghiên cứu sâu mối liên quan giữa hình  ảnh siêu âm Doppler động   mạch cảnh với lâm sàng của nhồi máu não và các yếu nguy cơ gây vữa xơ  đặc biệt là đái tháo đường. Vì vậy đề  tài “Nghiên cứu lâm sàng và hình  ảnh siêu âm Doppler động mạch cảnh ngoài sọ ở bệnh nhân nhồi máu  não trên lều giai đoạn cấp có đái tháo đường” được tiến hành  với các  mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh vữa xơ động mạch cảnh đoạn   ngoài sọ bằng siêu âm Doppler ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn   cấp có đái tháo đường. 2.  Đánh giá mối liên quan giữa lâm sàng, hình ảnh siêu âm động mạch   cảnh ngoài sọ và một số yếu tố nguy cơ  ở bệnh nhân nhồi máu não   giai đoạn cấp có đái tháo đường.
  8. 3
  9. 4 CHƯƠNG 1  TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Đại cương về đột quỵ não 1.1.1. Dịch tễ học đột quỵ não Đột quỵ não là một vấn đề  thời sự  của y học, thế  giới mỗi năm có   khoảng 15 triệu người mắc trong đó 5 triệu người tử  vong, 5 triệu người   tàn tật . Đột quỵ  não gây ra 4,4 triệu người tử  vong năm 1990 trên toàn thế  giới trong đó 2/3 ở nước kém phát triển. Đột quỵ  não cũng là nguyên nhân  quan trọng nhất gây ra tàn tật ở  người lớn. Tỷ lệ  ước tính của khuyết tật   liên quan đến đột quỵ  não chiếm 0,6% dân số  thế  giới. Đột quỵ  não là  nguyên nhân thứ hai gây tử vong tại Hoa Kỳ năm 1994. Ở Phần Lan chi phí  ước tính điều trị  đột quỵ  não chiếm 4­6% ngân sách chăm sóc sức khỏe,  không bao gồm các chi phí và dịch vụ xã hội, người chăm sóc (5% ở Anh và   hơn 3% ở Hà Lan)[61].  Tỷ  lệ  mới mắc đột quỵ  não là 200/100.000 người mỗi năm (tức là  0,2% dân số) trong quần thể  người da trắng  ở châu Âu, Mỹ  và Úc và các  nước đang phát triển không phải da trắng. Tuy nhiên, tỷ lệ đột quỵ  não có  thể cao hơn gấp hơn hai lần đặc biệt là Siberia, Đông Âu và Trung Quốc.   Tỷ  lệ  đột quỵ  não giữa nam và nữ  trong quần thể  da trắng tương đương  nhau, và tăng nhanh theo tuổi, khoảng một phần tư xảy ra  ở độ  tuổi dưới  65 tuổi và khoảng một nửa dưới 75 tuổi. Trong đó khoảng 80% nhồi máu  não, 15% chảy máu trong sọ và 5% chảy máu  dưới nhện. Tỷ lệ hiện mắc  đột quỵ  não từ  5 đến 12 người trên 1000 dân số  (tức là 1% dân số) phụ  thuộc vào tuổi và giới tính, cơ cấu dân số. Ở phụ nữ và nam giới trong độ 
  10. 5 tuổi 65­74, tần suất của  đột quỵ  não tương  ứng là 25 và 50 trên 1000   người. Tỷ  lệ  tử  vong của đột quỵ  rất khác nhau giữa các quốc gia từ  20  đến 250 trên 100.000 dân mỗi năm[61].  Tỷ  lệ  tử  vong của đột quỵ  não thay đổi vì nhiều yếu tố: tỷ  lệ  đột   quỵ não và các phân nhóm theo nguyên nhân và cơ  chế  bệnh sinh, mức độ  nghiêm trọng, độ tuổi và giới tính của dân số bị ảnh hưởng do đột quỵ não,  độ chính xác của giấy chứng tử. Tỷ lệ tử vong sau khi được chuẩn hóa của  đột quỵ não khác nhau 6 lần trong số phát triển quốc gia phát triển. Từ năm  1990 đến năm 2000, tỷ lệ tử vong do đột quỵ não thấp nhất ở Tây Âu, Mỹ,   Nhật Bản và Úc, cao nhất  ở  Đông Âu và các nước Liên Xô cũ. Rất ít báo  cáo về tỷ lệ tử vong đột quỵ não ở các nước đang phát triển . Nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh về  dịch tễ  học đột quỵ  não từ  năm 2007 đến 2008 tại Nghệ  An,, tỷ  lệ  mắc bệnh chung là 356/100.000   dân, tỷ lệ mới mắc là 105/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 65/100.000 dân . Trần  Văn  Tuấn  nghiên  cứu  dich  tễ  học   đột  quỵ   não  ở  tỉnh  Thái  Nguyên từ  năm 1999 đến 2003, tỷ  lệ  hiện mắc trung bình hàng năm là  100/100.000 dân, tỷ  lệ  mới mắc là 28,98/100.000 dân, tỷ  lệ  tử  vong là  27/100.000 dân  Nghiên cứu của Đặng Quang Tâm được thực hiện tại tỉnh Cần Thơ  từ năm 2002 đến 2004, tỷ lệ mới mắc là 29,4/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc   là 129,56/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 35,33/100.000 dân . 1.1.2. Định nghĩa và phân loại  nhồi máu não 1.1.2.1. Định nghĩa và phân loại đột quỵ não Định nghĩa đột quỵ  não (Tai biến mạch não) của Tổ  chức Y tế  thế  giới: đột quỵ não là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót thần kinh, thường khu  
  11. 6 trú hơn là lan toả, tồn tại quá 24 giờ. Các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn  thương .  Tuỳ thuộc vào bản chất tổn thương, đột quỵ  não được chia thành hai  thể lớn [11],[33]: + Chảy máu não: là máu chảy vào nhu mô não. + Nhồi máu não: xảy ra khi một mạch máu bị  tắc một phần hoặc  toàn bộ, khu vực não không được nuôi dưỡng sẽ bị hoại tử, nhũn ra.
  12. 7 1.1.2.2. Định nghĩa và phân loại  nhồi máu não. * Định nghĩa nhồi máu não Nhồi máu não là quá trình bệnh lý trong đó động mạch não bị  hẹp   hoặc bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não do động mạch não đó phân   bố bị giảm trầm trọng, dẫn đến chức năng vùng não đó bị rối loạn . * Phân loại nhồi máu não. Có nhiều cách phân loại: + Phân loại nhồi máu não theo bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật lần  thứ 10 (ICD­10) : I63­ Nhồi máu não. I63.0­ Nhồi máu não do huyết khối các mạch trước não. I63.1­ Nhồi máu não do tắc các mạch trước não. I63.2­ Nhồi máu não do tắc hoặc hẹp không đặc hiệu các mạch trước  não. I63.3­ Nhồi máu não do huyết khối các mạch não. I63.4­ Nhồi máu não do tắc các mạch máu não. I63.5­ Nhồi máu não do tắc hoặc hẹp không đặc hiệu các mạch não. I63.6­ Nhồi máu não do huyết khối tĩnh mạch não không sinh mủ. I63.7­ Các nhồi máu não khác. I63.8­ Nhồi máu não không đặc hiệu. + Phân loại các thiếu máu cục bộ  não chính dựa trên sinh lý bệnh  học, chia làm năm loại trên cơ  sở  hệ  thống phân loại của “Thử  nghiệm  điều trị  đột quỵ  não cấp tính mã số  ORG 10172’’ của Hoa Kỳ  (TOAST   /Trial of ORG 10172 in Acute Stroke Therapy) . Loại 1: Nhồi máu não do các rối loạn từ tim.  Loại 2: Nhồi máu não liên quan đến bệnh mạch máu lớn.
  13. 8 Loại 3: Nhồi máu não liên quan đến bệnh mạch máu nhỏ.  Loại 4: Nhồi máu não liên quan đến  các nguyên nhân khác. Loại 5: Nhồi máu não nguyên nhân chưa biết.  +   Phân   loại   lâm   sàng   theo   Dự   án   Đột   quỵ   não   ở   Cộng   đồng  Oxfordshire Hoa Kỳ  (Oxfordshire Community Stroke Project / OCSP ) d ựa   vào mối liên quan giữa lâm sàng và vị trí nhồi máu não tương ứng trên phim   chụp cắt lớp vi tính não hoặc chụp  cộng hưởng từ, chia làm bốn loại [48]:  Loại 1: Nhồi máu một phần tuần hoàn phía trước hoặc nhồi máu  một phần hệ động mạch cảnh. Loại 2: Nhồi máu toàn bộ  tuần hoàn phía trước hoặc nhồi máu toàn  bộ động mạch não giữa. Loại 3: Nhồi máu tuần hoàn phía sau hoặc nhồi máu hệ  động mạch   sống ­  nền. Loại 4: Nhồi máu ổ khuyết. 1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của nhồi máu não Bình thường não cần một lượng máu cố định để cung cấp đủ oxy và  glucose để  chuyển hóa thành năng lượng đảm bảo sự  hoạt động của não.  Lưu lượng tuần hoàn trung bình ở người lớn là 49,8±5,4/100g não/phút, lưu  lượng trong chất xám là 79,7±10,7 ml/100g não/phút. Nhồi máu não xảy ra  khi lưu lượng máu não giảm xuống dưới 18­20 ml/100g não/phút. Trung  tâm   ổ   nhồi   máu   não   là   vùng   hoại   tử   có   lưu   lượng   máu   khoảng   10­15   ml/100g não/phút. Còn xung quanh vùng này có lưu lượng máu là 20­25   ml/100g não/phút, các tế bào não còn sống nhưng không hoạt động. Đây là  vùng “tranh tối tranh sáng” có thể  hồi phục nếu tăng cường tưới máu não  cho vùng này, do vậy nó còn gọi là vùng điều trị ,[17],[26].
  14. 9 Khi sự  cung cấp oxy không đầy đủ, các ty lạp thể  của các tế  bào  thần kinh đệm không đảm bảo được vai trò tổng hợp ATP, mà ATP là  nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho não. Trong môi trường đủ  oxy  mỗi mol glucose chuyển hóa cho ra 38 mol ATP nhưng  ở môi trường thiếu  oxy mỗi mol  glucose chuyển hóa chỉ sản xuất được 2 mol ATP và sự phân   giải glucose trong môi trường thiếu oxy còn tạo ra acid lactic gây toan hóa  vùng thiếu máu và gây chết tế bào. Ngoài ra khi nồng độ ATP giảm đi năng  lượng cung cấp cho tế bào não giảm, làm rối loạn thẩm thấu màng tế bào.  Ion K+ sẽ đi ra ngoài khoảng kẽ, còn ion Na+ đi vào trong tế bào. Hậu quả  nước sẽ di chuyển từ khoảng kẽ vào trong tế bào làm tế bào phồng to gây  hiện tượng phù não. Sự khử cực màng tế bào giải phóng ra nhiều chất dẫn  truyền thần kinh, các chất này hoạt hóa glutamate của thụ thể N­methyl­D­ aspartate (NMDA) tạo cho Ca2+ xâm nhập vào trong tế  bào, hoạt hóa men  photpholipase   sản   sinh   các   gốc   tự   do   Hydroperoxid   (H2O2),   nitric   oxid   (NO), hydroxyl (OH), dioxycacbon (CO2), và tăng oxy hóa lipid phá vỡ cấu  trúc tế bào, sự chết chậm tế bào thần kinh một phần do ngộ độc glutamate.   Gốc tự  do là chất chứa điện tử  không ghép cặp do đó có khả  năng phản   ứng hóa học mạnh sinh ra các gốc tự  do khác thông qua phản  ứng dây   truyền. Ca2+ kích thích enzym photpholipase cũng tạo acid arachidonic. Sự  chuyển hóa của acid arachidonic dẫn đến sự  sản xuất các chất chất tham  gia vào quá trình viêm ,[17],[26]. 1.1.4. Nguyên nhân của nhồi máu não  Theo   “Thử   nghiệm   Điều   trị   Đột   quỵ   não   cấp   tính   mã   số   ORG  10172’’ của Hoa Kỳ thì nhồi máu não gồm 5 nhóm nguyên nhân sau đây . 
  15. 10 1.1.4.1. Vữa xơ các động mạch não Vữa xơ các động mạch vùng cổ và não là nguyên nhân phổ biến nhất  gây ra nhồi máu não, đặc biệt là  ở những người có tuổi. Người ta thấy từ  sau 45 tuổi, tần số  nhồi máu não tăng lên gấp đôi sau khoảng mười năm.   Cũng thấy vữa xơ động mạch ở người trẻ dưới 40 tuổi thường có các nguy   cơ  đặc biệt như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, nghiện  thuốc lá hoặc có yếu tố di truyền. Chẩn đoán nguyên nhân do vữa xơ động  mạch của tai biến thiếu máu não dựa vào: không có bệnh tim gây huyết  khối, nghe dọc động mạch cảnh có thể  có tiếng thổi trong thì tâm thu do   hẹp động mạch cảnh. Chụp cắt lớp nhiều dãy mạch máu, cộng hưởng từ  mạch, siêu âm hệ  động mạch cảnh, chụp động mạch thông thường thấy  hình ảnh vữa xơ mạch máu vùng cổ và não . 1.1.4.2. Các huyết khối đến từ tim Nhồi máu não do huyết khối từ tim chiếm khoảng 25% nhồi máu não  tuy nhiên, đối với người trẻ tỷ lệ này cao hơn nhiều. Huyết khối từ tim di   chuyển theo dòng máu di chuyển lên não gây lên nhồi máu não. Có nhiều   bệnh tim gây ra nhồi máu não trong đó rung nhĩ là nguyên nhân phổ  biến  nhất. Bệnh tim có nguy cơ cao: rung nhĩ, hẹp van hai lá do thấp, hội chứng   nút xoang bệnh lý, cuồng động nhĩ, van tim nhân tạo, viêm nội tâm mạc   nhiễm khuẩn, viêm nội tâm mạc huyết khối vô khuẩn, u nhày nhĩ, nhồi  máu cơ tim cấp tính. Bệnh tim có nguy cơ thấp, còn lỗ bầu dục, phình vách   tâm nhĩ, sa van hai lá, vôi hóa hình khuyên van hai lá. Chẩn đoán đột quỵ  nhồi máu não do huyết khối từ tim dựa vào các yếu tố như: tuổi trẻ (dưới   45 tuổi), các triệu chứng bắt đầu đột ngột, có mất ý thức, cơn động kinh   khởi phát, chụp cắt lớp vi tính sọ  não thấy tính chất chảy máu của ổ nhồi  máu, nhiều ổ nhũn nhỏ ở vỏ não .
  16. 11 1.1.4.3. Bệnh mạch máu nhỏ (arteriolosclerosis)  Bệnh mạch máu nhỏ  chiếm 20% đột quỵ  não do thiếu máu cục bộ.   Các tổn thương nhỏ “ổ khuyết” sâu trong não gọi là "nhồi máu ổ khuyết”.   Do tắc các nhánh tận, nhánh xiên kích thước dưới 2 mm như  các nhánh  cung cấp cho thể vân của động mạch não giữa, nhánh cho đồi thị của động   mạch  não   sau,   và   nhánh  cho   cầu   não  của   động   mạch  thân   nền.   Thông  thường nhồi máu não do bệnh mạch nhỏ  có một hoặc nhiều các yếu tố  nguy cơ như: tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá và tăng lipid máu.  Lâm sàng của nhồi máu não  ổ  khuyết được biết đến như  hội chứng  ổ  khuyết cổ điển bao gồm rối loạn vận động hoặc cảm giác đơn thuần, rối   loạn điều phối liệt nửa người, nói khó­ bàn tay vụng về, thiếu sót vận   động cảm giác một bên, các triệu chứng này thường không kết hợp với tổn   thương vỏ não, chẳng hạn như bỏ bê, mất ngôn ngữ, hoặc bán manh. Việc  chẩn  đoán nhồi máu  ổ  khuyết  được  thực  hiện bằng cách xác  định hội  chứng trên lâm sàng như đã mô tả, có các yếu tố nguy cơ và hình ảnh học.  Chụp cắt lớp vi tính sọ  não có  ổ  nhồi máu não đường kính dưới 2 cm.   Nhưng tốt nhất phát hiện nhồi máu não  ổ  khuyết bằng chụp cộng hưởng   từ  khuếch tán (DW­CHT) với kích thước dưới 2,0 cm trên chuỗi   hoặc  dưới 1,5 cm trên thì T2 . 1.1.4.4. Các nguyên nhân khác + Nhồi máu não tĩnh mạch  + Viêm mạch  + Bệnh mạch máu thoái hóa, bệnh moyamoya, bệnh tế bào hình liềm  + Nguyên nhân trao đổi chất, ví dụ như bệnh ty thể (MELAS)  + Thuốc tránh thai + Bóc tách động mạch não
  17. 12 + Loạn sản xơ ­ cơ thành mạch: bệnh hiếm gặp, chẩn đoán dựa vào  hẹp động mạch kéo dài, hay gặp động mạch cảnh trong đoạn cổ . 1.1.4.5. Không xác định được nguyên nhân Ngay cả  sau khi nghiên cứu đầy đủ, một số  trường hợp không xác  định được nguyên nhân, tỷ lệ có thể lên tới 30% trong một số nghiên cứu.  Thể  loại này cũng bao gồm những trường hợp có nhiều hơn một nguyên  nhân hoặc yếu tố nguy cơ đột quỵ não .
  18. 13 1.1.5. Lâm sàng nhồi máu não 1.2.5.1. Khởi phát: đột ngột, thường liên quan tới gắng sức, tâm lý. 1.2.5.2. Các triệu chứng chung + Rối loạn ý thức: tùy theo vị  trí và đường kính cục tắc, có thể  rối   loạn ý thức nhẹ hoặc hôn mê. + Co giật: nếu cục tắc gây tắc các nhánh nhỏ ở vỏ não. 1.2.5.3. Các triệu chứng thần kinh khu trú Phụ  thuộc vào vị  trí và kích thước động mạch tổn thương. Cục  tắc  lớn gây tắc động mạch cảnh trong hay động mạch não giữa, cục nhỏ  th­ ường gây tắc các nhánh xiên, nhánh nhỏ  của động mạch não giữa. Lâm  sàng có các triệu chứng như rối loạn ngôn ngữ vận động như liệt chân hay   tay đơn độc hoặc chỉ có rối loạn ngôn ngữ  nhẹ. Tắc mạch ở tiểu não hay  thân não, bệnh nhân có triệu chứng rối loạn chức năng tiểu não hay hội  chứng giao bên. Cục tắc  ở  động mạch não sau gây nên nhồi máu não  ở  vùng vỏ não thị giác, bệnh nhân có triệu chứng bán manh . Triệu chứng lâm sàng theo tùy theo vị  trí động mạch não bị  tắc bao   gồm [3],[4],[15]: * Nhồi máu nhánh nông của động mạch não giữa Các rối loạn cảm giác, vận động, thị  giác đối diện với bên bị  tổn  thương bao gồm:       + Liệt nửa người với ưu thế tay ­ mặt do tổn thương hồi trán lên.       + Giảm cảm giác nông và sâu nửa người do tổn thương hồi đỉnh lên.       + Bán manh bên đồng danh hoặc bán manh góc nếu tổn thương nhánh  sau của động mạch não giữa.   Rối loạn thần kinh ­ tâm lý phu thuộc vào bên tổn thương: 
  19. 14   Nếu tổn thương não bán cầu ưu thế  (bán cầu não trái đối với đa số  người thuận tay phải): + Thất ngôn Broca hoặc Wernicke. + Mất thực dụng ý vận.  +  Hội chứng Gerstmann nếu tổn thương  ở  phía sau thùy đỉnh bao  gồm: mất nhận biết ngón tay, mất phân biệt phải – trái, mất khả năng tính  toán và mất khả năng viết. Nếu tổn thương não bán cầu không ưu thế: +  Hội chứng Anton ­ Babinski: phủ định, không thừa nhận nửa người   liệt + Thờ ơ với các rối loạn . + Đôi khi có lú lẫn.  *  Nhồi máu nhánh sâu của động mạch não giữa: +  Liệt hoàn toàn, đồng đều nửa người bên đối diện. + Thường không có rối loạn cảm giác.  + Không có rối loạn thị trường. + Đôi khi có thất ngôn dưới vỏ do tổn thương nhân xám của bán cầu ưu   thế. *  Nhồi máu toàn bộ động mạch não giữa Các triệu chứng nặng nề của hai loại nhồi máu nhánh nông và nhánh  sâu kết hợp. * Nhồi máu động mạch não trước Ít khi bị riêng rẽ, thường bị cùng với động mạch não giữa. Các triệu chứng lâm sàng: liệt nửa người  ưu thế   ở chân, câm ở  giai  đoạn đầu. 
  20. 15 Hội chứng thùy trán: thờ ơ, vô cảm, hưng cảm, rối loạn chủ ý, phản  xạ nắm, rối loạn hành vi, rối loạn ngôn ngữ nếu tổn thương bên trái. Nếu cả hai động mạch não giữa đều bắt đầu từ một bên khi bị tắc sẽ có   các triệu chứng cả hai bên: liệt hai chân, tiểu tiện không tự chủ, phản xạ nắm   hai bên. * Nhồi máu của động mạch mạch mạc trước + Liệt hoàn toàn, đồng đều nửa người do tổn thương cánh tay trước   của bao trong. +  Mất cảm giác nửa người do tổn thương vùng đồi thị. +  Bán manh bên đồng danh do tổn thương dải thị. * Nhồi máu của động mạch não sau + Tổn thương nhánh nông: triệu chứng thị giác nổi bật, bán manh bên   đồng danh, mất đọc mất nhận thức thị giác, trạng thái lú lẫn. Nếu bị cả hai   bên: mù vỏ  não, hội chứng Korsakoff do tổn thương mặt trong cả hai thùy  thái dương.  + Tổn thương nhánh sâu: xâm phạm vùng đồi thị. + Có thể  gây ra hội chứng Déjerine ­ Roussy: giảm cảm giác nông  sâu bên đối diện, đau nửa người đối bên, đau tự  phát hoặc do kích thích,  cảm giác đau mãnh liệt.       + Liệt nhẹ  nửa người bên đối diện, có thể  có động tác múa vờn  ở  bàn tay bên đối diện với tổn thương. + Bán manh bên đồng danh đối bên.      + Đôi khi có hội chứng tiểu não động cùng bên và hội chứng giao cảm   cổ. Nếu tổn thương cạnh giữa của đồi thị: rối loạn độ  tỉnh táo, liệt, rối  loạn trí nhớ, có thể rối loạn ngôn ngữ.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2