intTypePromotion=3

Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:94

0
227
lượt xem
107
download

Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang với mục tiêu nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giai đoạn từ nay đến năm 2010 và 2015.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

  1. LUẬN VĂN: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân và là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội. Phát triển nông nghiệp luôn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nhất là đối với nước ta khi sản xuất nông nghiệp hiện còn đang chiếm 20,9% GDP, thu hút 56,8% lực lượng lao động xã hội và đóng góp hơn 30% giá trị xuất khẩu của cả nước. Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc hoàn thiện và xác định một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan, mà còn là một trong những nội dung chủ yếu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 đã chỉ rõ: CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa [12, tr.1]. Với tinh thần nêu trên, nhiều chính sách mới trong nông nghiệp được triển khai, đã thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông nghiệp cả nước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, một số nông sản phục vụ xuất khẩu tăng nhanh, góp phần nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp và tăng thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, so với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nhất là đứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp cả nước, khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như của tỉnh An Giang trong thời gian qua nhìn chung chuyển dịch còn chậm, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi
  3. thế của từng vùng nên hiệu quả chuyển dịch chưa cao. Cụ thể là quy mô, địa bàn sản xuất của hầu hết các nông sản hàng hóa chủ lực còn phân tán, phát triển theo chiều rộng là chính, hàm lượng khoa học và công nghệ đưa vào sản phẩm còn ít, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế yếu... Châu Thành là một trong 11 huyện, thị của tỉnh An Giang, nằm ở phía Tây sông Hậu, thuộc khu vực tứ giác Long Xuyên; có diện tích tự nhiên là 35.506 ha (trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 86,9%), dân số 176.782 người, với phần lớn ng ười dân sống bằng nghề nông nghiệp , đời sống khó kh ăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp của huyện đã có những chuyển biến tích cực, nhiều vùng đất trước đây chưa được khai thác, hoặc khai thác chưa có hiệu quả nay đã được sử dụng tương đối hiệu quả vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau... Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực của huyện thì tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý. Do vậy, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường trong nước và quốc tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân, đóng góp tích cực vào quá trình CNH, HĐH của tỉnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong bối cảnh hiện nay. Với lý do đó, tác giả chọn đề tài: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang để viết luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, chuyên ngành Quản lý kinh tế. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: - Bùi Tất Thắng, 1994: Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá của NIEs Đông Nam Á và Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. - Nguyễn Văn Thạo: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở An Giang, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2-1995.
  4. - Bùi Tất Thắng, 1996: Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá của Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. - Lê Đình Thắng, 1998: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. - Đặng Kim Sơn – Hoàng Thu Hoà, 2002: Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nxb Thống kê, Hà Nội. - Lê Huy Ngọ, 2002: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. - Lâm Quang Huyên, 2002: Nông nghiệp, nông thôn Nam bộ hướng tới thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. - Đinh Phi Hổ, 2003: Kinh tế nông nghiệp – Lý luận và thực tiễn, Nxb Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh. - Nguyễn Thị Minh Châu, 2004: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long những năm đầu thế kỷ XXI, Hội thảo khoa học vì sự phát triển đồng bằng sông Cửu Long. - Bùi Tất Thắng, 2006: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và hệ thống về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu: Đề xuất giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giai đoạn từ nay đến năm 2010 và 2015. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn cấp huyện;
  5. - Phân tích, đánh giá một cách hệ thống thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân; - Đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giai đoạn 1995-2007. Các giải pháp và kiến nghị mà luận văn dự kiến đề xuất chủ yếu thuộc phạm vi quản lý nhà nước của chính quyền huyện Châu Thành, tỉnh An Giang và cơ quan quản lý nhà nước các cấp có liên quan. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sử dụng tổng hợp một số phương pháp như thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, tổng kết thực tiễn… Ngoài ra, luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan, đồng thời dựa vào các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 6. Đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn Luận văn có những đóng góp chủ yếu sau đây: - Góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn cấp huyện; - Phân tích, đánh giá đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; - Đề xuất được phương pháp và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo hướng CNH, HĐH trong thời gian tới.
  6. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
  7. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Để hiểu khái niệm cơ cấu kinh tế, trước hết cần làm rõ khái niệm cơ cấu. Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, cơ cấu biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng. Như vậy, có thể thấy có nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của khách thể và các hệ thống [29, tr.28]. Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau. Đồng thời giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển. Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện khác nhau. Do đó, có thể khái quát cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế là kết quả của sự phân công lao động xã hội, được bắt đầu từ việc tăng năng suất lao động và sự phát triển của các mối quan hệ trao đổi hàng hóa, tiền tệ. Cơ cấu kinh tế phản ánh sự tương tác sống động giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó vai trò quyết định là sự phát triển của lực lượng sản xuất.
  8. Sự cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận trong cơ cấu kinh tế xét trên quan điểm hệ thống với các cấp độ khác nhau, gắn với thời gian, không gian và đặc điểm chính trị, kinh tế - xã hội nhất định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tái sản xuất và phát triển cả về kinh tế và xã hội. Như vậy, bản chất của cơ cấu kinh tế là sự biểu hiện của các mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội, đó là mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng không đơn thuần chỉ là những quan hệ về mặt số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố - biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của hệ thống, mà là những mối quan hệ bên trong và bên ngoài của các yếu tố đó - biểu hiện về chất hay sự phát triển của hệ thống [34, tr.11]. Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ khách quan giữa các yếu tố, các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế luôn gắn với phương thức sản xuất nhất định và một nền kinh tế nhất định. Nó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành và tùy theo mục đích phân tích mà có sự phân loại các yếu tố đó một cách tương ứng. Song, về cơ bản, cơ cấu kinh tế được xét trên 2 mặt, đó là mặt vật chất – kỹ thuật và mặt kinh tế - xã hội. - Về mặt vật chất - kỹ thuật, bao gồm cơ cấu ngành nghề, loại hình tổ chức kinh doanh, trình độ kỹ thuật, sự bố trí theo vùng lãnh thổ. - Về mặt kinh tế - xã hội, bao gồm cơ cấu thành phần kinh tế, trình độ phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, quan hệ thị trường. Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Bản thân ngành nông nghiệp cũng là một hệ thống phức tạp với nhiều bộ phận hợp thành. Theo đó, có thể hiểu cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các yếu tố hợp thành nền nông nghiệp theo những quan hệ nhất định cùng với sự tác động qua lại lẫn nhau gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể (điều kiện tự nhiên, trình độ công nghệ, trình độ phân công lao động, trình độ tổ chức quản lý…) nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu đã định. Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan, lịch sử, xã hội và luôn gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội… chuyển dịch từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp
  9. dưới tác động của quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng chịu tác động của quy luật cung cầu, giá trị và cạnh tranh. Do vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp không thể duy ý chí, mà phải nhận thức đúng đắn sự vận động của quy luật khách quan, vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hình thành, biến đổi gắn liền với sự phát triển của cơ chế thị trường, từ kinh tế tự nhiên dần dần chuyển thành kinh tế hàng hóa, quá trình này tác động và thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển đa dạng và năng động theo hướng tiên tiến. 1.1.2. Các cách tiếp cận cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau: Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp: Được thể hiện ở những mối quan hệ, tỷ lệ giữa các phân ngành trong ngành nông nghiệp (nông-lâm-ngư-diêm nghiệp…). Trong quá trình phát triển, tương quan giữa các phân ngành trong cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp sẽ có những chuyển biến quan trọng theo hướng đa dạng hoá sản xuất. Đó chính là sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp phản ánh sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa sản xuất, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng khác nhau của nền sản xuất, sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa dạng. Xem xét cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp không chỉ dựa trên chỉ tiêu giá trị, mà còn phải phân tích chỉ tiêu lao động, chỉ tiêu vốn đầu tư… Tổng hợp các chỉ tiêu đó phản ánh thực trạng cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp. Cơ sở của cơ cấu ngành là sự phân công lao động xã hội; phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được phân chia đa dạng. Tiền đề của sự phân công lao động trong nông nghiệp là năng suất lao động nông nghiệp. Trước hết, năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực phải đạt tới một giới hạn nhất định, đảm bảo đủ lương thực cần thiết cho xã hội. Đây là cơ sở quan trọng cho sự phân công giữa những người sản xuất lương thực với những người chăn nuôi và các ngành nghề khác trong nông nghiệp.
  10. Cơ cấu thành phần kinh tế: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng là một tất yếu khách quan trên con đường đi lên của đất nước. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta gồm: Kinh tế nhà nước: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước, được củng cố và phát triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, trọng yếu của nền kinh tế, đảm đương hoạt động mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh. Trong nông nghiệp, nông thôn, kinh tế nhà nước cần tập trung vào các lĩnh vực quy hoạch sản xuất, cơ giới hóa, phát triển thủy lợi và kết cấu hạ tầng nông thôn, hỗ trợ vốn và khoa học công nghệ cho nông nghiệp; đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật; giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành công nghiệp chế biến nông sản, cung ứng dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, tham gia quản lý tài nguyên. Kinh tế tập thể: Kinh tế tập thể với hình thức phổ biến là kinh tế hợp tác xã và tổ liên kết sản xuất là hình thức liên kết tự nguyện của người lao động, kết hợp sức mạnh tập thể với sức mạnh của các thành viên để giải quyết có hiệu quả những vấn đề sản xuất - kinh doanh và đời sống, phát triển trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ. Bối cảnh phát triển hiện nay đòi hỏi phải chú trọng các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung ứng dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại; mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp, liên kết, liên doanh giữa các hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước phải vươn lên nắm vai trò chủ đạo và trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế cá thể và tiểu chủ: Kinh tế cá thể và tiểu chủ được khuyến khích phát triển ở cả thành thị, nông thôn, trong các ngành nghề không bị hạn chế, có thể tồn tại
  11. độc lập hoặc tham gia vào các hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp bằng nhiều hình thức. Trong lĩnh vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay, kinh tế hộ gia đình - một bộ phận của kinh tế cá thể, tiểu chủ - đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà nước khuyến khích phát triển trang trại hộ gia đình nhằm khai thác đất trống, đồi núi trọc, mặt nước và đất hoang hóa để phát triển sản xuất. Kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm; được khuyến khích hợp tác, liên doanh với nhau và liên doanh với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần cho người lao động. Kinh tế tư bản nhà nước: Kinh tế tư bản nhà nước tồn tại dưới các hình thức liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước, hình thức này phát triển ngày càng đa dạng. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất - kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng. Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian, địa lý. Trong nông nghiệp, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ dựa trên điều kiện riêng, đặc thù về tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng trong phạm vi quốc gia hay các địa phương. Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ phản ánh sự khác nhau về điều kiện sản xuất của mỗi vùng nhưng được đặt trong sự thống nhất chung của toàn bộ nền nông nghiệp. Việc phân vùng kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ không đồng nghĩa với phân chia địa giới hành chính và là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định và thực thi chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Mục đích của phân vùng là nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, khắc phục mặt hạn chế của từng vùng trong tổng thể chung của cả nước, tạo ra sự liên kết bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau giữa các vùng. Quan trọng hơn là mở ra hướng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa đặc trưng của mỗi vùng với khối lượng lớn, năng suất cao, chất lượng tốt, thuận lợi cho
  12. việc chế biến, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm, góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất mới, sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả cao. Trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế vùng, cần chú trọng tác động vĩ mô của Nhà nước thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách thuế ưu đãi, chính sách trợ giá, tín dụng ưu đãi và những thông tin cần thiết. Cơ cấu kinh tế theo quy mô và trình độ công nghệ: Cơ cấu kinh tế xét theo quy mô và trình độ công nghệ có vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế. Cơ cấu quy mô các cơ sở sản xuất - kinh doanh vừa nói lên mức độ tập trung hoá sản xuất của nền kinh tế, vừa nói lên khả năng linh hoạt, mền dẻo của các loại hình tổ chức sản xuất. Cơ cấu trình độ công nghệ phản ánh chất lượng và hàm lượng khoa học, công nghệ và tri thức trong nền kinh tế. Trình độ công nghệ của sản xuất được đặc trưng bởi đặc điểm của công nghệ sản xuất và quản lý. So với khu vực công nghiệp và dịch vụ, trình độ công nghệ chung trong sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đã làm cho kỹ thuật về giống, phân bón, tưới tiêu, bảo vệ thực vật… từng bước được đổi mới và áp dụng ngày càng có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp. Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp đã thâm nhập vào các khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển sản phẩm… làm cho năng suất lao động ngày càng tăng. Đặc biệt, sự tác động của công nghiệp vào khâu chế biến đã làm tăng chất lượng và giá trị hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp, từ đó mang lại thu nhập cao hơn cho người sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế theo hình thức tổ chức sản xuất: Sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp luôn gắn liền với các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh nhất định như kinh tế hộ nông dân tự chủ, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp, trạm giống, trạm kỹ thuật, các tổ chức khuyến nông… Việc lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp phải dựa trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và các điều kiện thực tế cụ thể khác. Ngoài các cách tiếp cận nói trên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn được xem xét dưới các góc độ khác như lao động, thị trường, sản phẩm dưới hình thái hiện vật và giá trị, trình độ xã hội hoá, trình độ phân công, hiệp tác trong nước và quốc tế…
  13. 1.1.3. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một hệ thống phức tạp gồm nhiều bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Những bộ phận này được coi như là các phần tử trong một cấu trúc có sự quan hệ mật thiết mà sự thay đổi của phần tử này hay sự biến đổi của một yếu tố làm cho phần tử này thay đổi thì cũng làm cho các yếu tố khác của phần tử khác thay đổi và kéo theo đó là những biến đổi của cấu trúc. Làm thay đổi các phần tử bên trong một cấu trúc chính là làm thay đổi cơ cấu hay là chuyển dịch cơ cấu. Như vậy, có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ trạng thái này tới trạng thái khác tối ưu hơn thông qua sự quản lý, điều khiển của con người theo đúng quy luật khách quan. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền với quá trình tái phân công lao động xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo ra hệ thống kinh tế nông nghiệp hợp lý cho phép khai thác tối ưu các nguồn lực (vốn, tài nguyên, lao động, kỹ thuật…), đảm bảo sự phát triển cân đối, ổn định, bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý tạo điều kiện để ngành nông nghiệp nhanh chóng thích ứng với yêu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý góp phần duy trì có hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý góp phần thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH, thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức. 1.1.4. Tính tất yếu phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nghĩa là có sự thay đổi ngành nghề sản xuất - kinh doanh, các khâu, các bộ phận vốn có của nông nghiệp, có sự thay đổi quan hệ, tỷ lệ giữa chúng và có sự thay đổi cách tổ chức, bố trí các nguồn nhân lực, vật lực. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng là sự thay
  14. đổi một kết cấu kinh tế, thay đổi cả chất và lượng của nền kinh tế, do đó nó là một quá trình cách mạng lâu dài và khó khăn, cần tiến hành từng bước với qui mô và trình độ thích hợp. Trước yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường sự thay đổi đó tuy khó khăn nhưng nhất thiết phải làm từ cơ sở, vùng lãnh thổ đến cả nước, sự thay đổi đó là tất yếu, hợp quy luật, đúng theo xu hướng phát triển. Bởi lẽ, trước sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, bản thân cơ cấu kinh tế kiểu cũ bộc lộ nhiều hạn chế, đó là cơ cấu bó hẹp, khép kín, không phải là cơ cấu để sản xuất hàng hoá, do vậy sản xuất chậm phát triển, thu nhập thấp, đời sống khó khăn... Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp, từ cơ cấu sản xuất tự cung, tự cấp, phải chuyển sang cơ cấu sản xuất nhằm mục đích để bán. Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đòi hỏi mọi ngành, mọi vùng, mọi tổ chức kinh tế phải hoạt động theo yêu cầu của thị trường, theo mệnh lệnh và tiếng gọi của thị trường, thị trường cần hàng hoá gì thì sản xuất hàng hoá đó, chỉ sản xuất và bán những cái mà thị trường cần. Cơ cấu kinh tế kiểu cũ mang tính tự cung, tự cấp nay phải được đổi mới phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường. Đó là cơ cấu kinh tế có phân công và hiệp tác lao động, có phân công chuyên môn hoá sản xuất, có mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các ngành, các vùng, trong nước với nước ngoài, dựa trên thế mạnh của từng ngành, từng vùng để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình phát triển. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn là yêu cầu khách quan bắt nguồn từ nhu cầu khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và lao động hiện có trong nông nghiệp để chuyển sang kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế nông thôn. Để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng trong nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế nông thôn thì một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu là phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, gắn phát triển nông nghiệp với kinh tế nông thôn, đây là nhiệm vụ có tầm chiến lược trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới của đất nước.
  15. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế để khai thác mọi tiềm năng mở rộng sản xuất hàng hoá, phát triển kinh tế nông thôn còn là con đường giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị, cải thiện và nâng cao từng bước đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho nông dân, khắc phục cảnh đói nghèo đã bao đời đè nặng lên cuộc sống của họ. Quan điểm phát triển kinh tế của Đảng ta tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X là: Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [13, tr.185]. Điều đó đòi hỏi phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình phát triển, bởi lẽ trong cơ cấu kinh tế chung ở nước ta, kinh tế nông nghiệp là bộ phận cấu thành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Từ những lý do chủ yếu nói trên, có thể khẳng định rằng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tất yếu khách quan đối với cả nước, cũng như đối với từng vùng, từng địa phương ở nước ta. 1.2. NỘI DUNG, YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1.2.1. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp: Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp m ột cách khoa học và hợp lý là giảm tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành ch ăn nuôi, thủy sản. Trong trồng trọt thì giảm tỷ trọng sản xuất lúa, tăng tỷ trọng diện tích cây rau màu có giá trị kinh tế cao ở cả 3 vụ (Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông) để đạt hiệu quả cao hơn trên một đơn vị diện tích sản xuất. Hiện nay, đối với các địa bàn thuộc đồng bằng sông Cửu Long sản xuất lúa vẫn là nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Do vậy, cần chuyển dịch cơ cấu trà lúa, giống lúa để có
  16. năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong sản xuất lúa. Tiếp tục chuyển mạnh một phần diện tích đất trũng, bãi bồi sang đào ao nuôi cá, lập vườn để có giá trị kinh tế cao, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Từng bước tăng tỷ trọng chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp, xác định hợp lý cơ cấu đàn lợn, đàn gia cầm, đàn bò. Thực hiện phương thức chăn nuôi kết hợp chế biến, tiêu thụ sản phẩm để có hiệu quả kinh tế. Từng bước phát triển thuỷ sản trở thành thế mạnh , kết hợp nuôi thả những giống cá có hiệu quả kinh tế cao với việc phát triển hệ thống tiêu thụ, đưa giá trị thu nhập ở khu vực này tăng cao hàng năm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng thể hiện sự tái phân công lao động theo vùng lãnh thổ. Dựa trên những lợi thế về điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội của mỗi vùng mà hình thành các vùng kinh tế. Các vùng kinh tế này có những đặc điểm khác nhau nhưng có điểm chung là dựa vào những lợi thế đó để khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong vùng nhằm tạo ra sự phát triển. Kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nhằm khai thác những lợi thế từ lao động, từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên để xây dựng một chiến lược phát triển sản xuất - kinh doanh theo hướng chuyên môn hoá, đa dạng hoá. Chuyển dịch cơ cấu vùng còn làm cho những diện tích đất trước đây chưa sử dụng, hoặc sử dụng chưa hiệu quả, hoặc chưa chuyển đổi được sang hướng sản xuất phù hợp được sử dụng có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, khi có một cơ cấu kinh tế vùng hợp lý sẽ thu hút được vốn đầu tư từ bên ngoài nhằm duy trì và phát triển kinh tế vùng đó. Trong nền kinh tế thị trường, ở mỗi vùng, ngành nào có ưu thế cạnh tranh sẽ phát triển nhanh. Từ đó, kéo theo các ngành khác có liên quan cùng phát triển cả về qui mô và tốc độ theo một quan hệ, tỷ lệ nhất định, qua đó đạt hiệu quả kinh tế cao nhất của vùng. Xác định cơ cấu kinh tế vùng hợp lý sẽ tạo cơ sở để khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn những tiềm năng về tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất hiện có của từng vùng. Điều này quyết định tốc độ phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn mỗi vùng cũng như cả nước. Khi có biến đổi lớn trong vùng kinh tế về kết cấu hạ tầng và
  17. tình hình kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trình độ dân trí, vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ, đặc biệt là sự xuất hiện của những tiến bộ mới trong công nghệ sinh học, nhu cầu mới của thị trường… sẽ xuất hiện những ngành sản xuất - kinh doanh mới có hiệu quả kinh tế cao hơn. Để phát triển các ngành mũi nhọn ở các vùng kinh tế nông thôn, trong quá trình xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế vùng cần coi trọng tác động vĩ mô của Nhà nước thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách như: Khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách thuế ưu đãi và những thông tin cần thiết… Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau. Chính sự đa dạng hoá sở hữu đã quyết định sự tồn tại của các thành phần kinh tế. Sự khác nhau giữa các thành phần kinh tế thể hiện ở trình độ xã hội hoá, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, phương thức phân phối sản phẩm và các mối quan hệ về lợi ích. Mỗi thành phần kinh tế có bản chất và những đặc điểm riêng. Lợi ích của các thành phần kinh tế vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn và có mối quan hệ với nhau, cùng tồn tại với nhau trong một nền kinh tế. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã trở thành tất yếu trong đời sống xã hội của nhiều nước trên thế giới. Do đó, phải tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp ở nước ta được thực hiện theo hướng đảm bảo để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động là sự tái phân công lao động dựa vào các lợi thế trong quá trình phát triển sản xuất. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động nhằm tạo ra đủ việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động, phát huy năng lực của lao động, đóng góp hiệu quả hơn cho khu vực, cho vùng, cho đất nước, cho sự phát triển và ổn định kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động được thực hiện trên cơ
  18. sở kế hoạch, chiến lược qui hoạch đội ngũ cán bộ, công nhân, nông dân… theo một cơ cấu hợp lý để từ đó phát huy được thế mạnh về lao động. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp nước ta từng bước được nâng cao, cơ sở vất chất kỹ thuật của nông nghiệp ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả hơn những tiềm năng to lớn của nền nông nghiệp nhiệt đới phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện khoa học công nghệ trên thế giới phát triển cao, nhất là công nghệ tin học, công nghệ sinh học, đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo trình độ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Xu hướng chung hiện nay là phải tăng tỷ trọng công nghệ sản xuất và quản lý hiện đại kết hợp với khai thác lợi thế của công nghệ truyền thống. 1.2.2. Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với tăng trưởng: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế, được phản ánh qua sự tăng lên về quy mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế. Như vậy, có thể hiểu tăng trưởng nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Nguồn gốc của tăng trưởng nông nghiệp là sự gia tăng và/hoặc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, lao động và công nghệ. Mặt khác, để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tái sản xuất mở rộng và tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển các ngành kinh tế khác, các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải không ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng. Tuy nhiên, mức tăng sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo tiền đề để chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp. Để đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng của tăng trưởng, việc đổi mới cơ cấu các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp, hay nói cách khác, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
  19. nghiệp phải dựa trên cơ sở bố trí lại một cách hợp lý các nguồn lực được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp giữa các ngành, các lĩnh vực. Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phát triển nông nghiệp bền vững: Phát triển nông nghiệp bền vững luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia và là một quá trình biến đổi lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện. Phát triển nông nghiệp bền vững có ý nghĩa rộng lớn, bao hàm cả bốn mục tiêu cơ bản là: Tăng trưởng kinh tế - tăng về quy mô số lượng, thay đổi về cơ cấu kinh tế - thay đổi về chất lượng, tiến bộ về xã hội - nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cải thiện về môi trường tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái và chỉ khi nào đồng thời đạt hiệu quả cao ở cả bốn mục tiêu này thì nền nông nghiệp mới được xem là phát triển bền vững. Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế [29, tr.33]. Bởi vì, có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng nông nghiệp rất cao nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập dưới mức nghèo đói. Đây là hệ quả của sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ của nền kinh tế đó. Mặt khác, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất đi, dẫn tới cơ cấu xã hội bị đảo lộn và bất ổn định. Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới phát triển dàn trải giữa các ngành và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, không đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì thế, để bảo đảm hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải xuất phát từ tín hiệu của thị trường: Phát triển nông nghiệp toàn diện với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững nhất thiết phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường. Chỉ có như vậy mới khắc
  20. phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nước ta hiện nay. Sản xuất hàng hóa đặt ra yêu cầu sản xuất sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại ra sao phải do thị trường quyết định, không phải do khả năng đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm của người sản xuất quyết định. Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với hiệu quả kinh tế và xã hội: Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải là cơ cấu đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao. Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất chỉ có thể tồn tại được khi sản phẩm có khả năng cạnh tranh, hay nói cách khác sản xuất phải đạt hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không phải bao giờ cũng thống nhất với hiệu quả xã hội. Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ tính đến hiệu quả về mặt kinh tế mà còn phải tính đến hiệu quả về mặt xã hội, phải được đo lường bằng các chỉ tiêu tổng hợp, cả về kinh tế và xã hội. Năm là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phải phù hợp với xu hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực. Yêu cầu trên còn là cơ sở để hình thành các giải pháp xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý trong giai đoạn hiện nay. Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với công bằng xã hội: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH trong thế kỷ XXI ở nước ta không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc và toàn diện mà còn phải đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, khu vực nông thôn nói riêng. Vì vậy, cùng với phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị. Bảy là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta hiện nay, một mặt phải kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, bao gồm cả ngành nghề truyền thống ở nông thôn, nông nghiệp lúa nước, kinh nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi, giống cây đặc sản… Mặt khác, phải tiếp cận với xu thế hiện đại của thế giới và khu vực, thực hiện

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản