intTypePromotion=1

Luận văn: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHCT chi nhánh Hoàn Kiếm

Chia sẻ: Dong Ba Liem | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:80

0
174
lượt xem
74
download

Luận văn: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHCT chi nhánh Hoàn Kiếm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài: nhằm đánh giá thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHCT chi nhánh Hoàn Kiếm đồng thời có những kiến nghị, giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHCT chi nhánh Hoàn Kiếm

  1. Khoá luận tốt nghiệp MỤC LỤC Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  2. Khoá luận tốt nghiệp DANH MỤC BẢNG Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  3. Khoá luận tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU   1.Tính cấp thiết của đề tài: Hiện nay, DNVVN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy  lực lượng sản xuất phát triển và tận dụng được các nguồn lực như  lao  động, nguồn tiền mặt nhà rỗi trong dân cư. Các DNVVN được đánh giá là bộ phận năng động, họat động có hiệu   quả  của nền kinh tế. Điều này xuất phát từ  lợi thế  quy mô nhỏ  gọn nên  việc chuyển hướng kinh doanh trong các DNVVN dễ  dàng hơn trong các  doanh nghiệp lớn. Các DNVVN hoạt động trên hầu hết mọi địa bàn, mọi  ngành nghề của nền kinh tế. Đây là bộ phận quan trọng trong quá trình sản  xuất, lưu thông hàng hoá và cung  ứng dịch vụ. Đặc biệt quan trọng trong  phát triển kinh tế  dân doanh của nước ta trong quá trình CNH­HĐH đất  nước. Trong quá trình phát triển hiện nay, DNVVN còn gặp không ít khó   khăn. Khó khăn lớn nhất hiện nay của thành phần kinh tế này là thiếu vốn   đầu tư  sản xuất kinh doanh nên không có nhiều cơ  hội mở rộng sản xuất   cũng như có chiến lược kinh doanh dài hạn. Nguồn vốn huy động hiện nay  của các DNVVN từ  vay vốn ngân hàng đang gặp khó khăn mà đây lại là   nguồn vốn chính giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động của mình. DNVVN  có thể vay vốn trên thị trường phi tài chính, tuy nhiên lãi suất vay tại các tổ  chức này thường rất cao. Không chỉ các DNVVN muốn vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất  kinh doanh mà các ngân hàng thương mại cũng muốn mở rộng quy tín dụng  của ngân hàng để  phát triển hoạt động kinh doanh. Với số  lượng lớn các  DNVVN như  hiện nay là thị  trường khách hàng tiềm năng cho ngân hàng  phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp hơn với nhu cầu của các DNVVN.   Xuất phát từ thực tiễn đó, qua thời gian thực tập tại NHCT chi nhánh Hoàn   Kiếm ­ là ngân hàng chủ  yếu tài trợ  các doanh nghiệp trong lĩnh vực công  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  4. Khoá luận tốt nghiệp nghiệp, thương nghiệp và đang thực hiện chỉ  đạo của NHCT Việt Nam,   của NHNN Việt Nam về phát triển cho vay DNVVN, em đã chọn đề  tài :”   Giải pháp mở  rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh   NHCT chi nhánh Hoàn Kiếm” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục tiêu của đề tài: Nhằm đánh giá thực trạng cho vay DNVVN tại chi nhánh NHCT  chi nhánh Hoàn Kiếm đồng thời có những kiến nghị, giải pháp nhằm mở  rộng hoạt động tín dụng DNVVN tại chi nhánh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ­ Đối tượng nghiên cứu: thực trạng hoạt động tín dụng đối với  các DNVVN tại chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm giai đoạn 2006­2008. ­ Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu lí luận và thực tiễn tại NHCT  Hoàn Kiếm trên cơ sở tình hình thực tế của chi nhánh giai đoạn 2006­2008   để từ đó tìm ra nguyên nhân, giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng  DNVVN. 4. Phương pháp nghiên cứu : Khoá luận sử  dụng các phương pháp : duy vật biện chứng, duy   vật lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp điều tra, so sánh, tổng  hợp, phương pháp thống kê đối chiếu… 5. Kết cấu khoá luận *Lời mở đầu *Chương 1: Những vấn đề chung về DNVVN * Chương 2 : Thực trạng mở rộng tín dụng DNVVN tại chi nhánh  NHCT Hoàn Kiếm * Chương 3 : Đánh giá việc mở  rộng quy mô tín dụng DNVVN  chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm * Kết luận. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  5. Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG I  NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DNVVN 1.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của DNVVN 1.1.1.Khái niệm về DNVVN: Theo   điều   3   NĐ90/2001/NĐ­CP   của   chính   phủ   ban   hành   ngày  23/11/2001 thì DNVVN là cơ  sở  sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí  kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí kinh doanh không quá   10 tỷ  đồng hoặc số  lao động hàng năm không quá 300 người .Căn cứ  vào  tình hình kinh tế  xã hội cụ thể của ngành ,địa phương trong quá trình thực   hiện các biện pháp, chương trình trợ  giúp có thể  linh hoạt áp dụng đồng  thời cả 2 tiêu chí hoặc 1 trong 2 tiêu chí nói trên. Còn theo NHCT Việt Nam thì định nghĩa DNVVN là các doanh nghiẹp  có dưới 500 lao động, vốn cố  định dưới 10 tỷ, vốn lưu động dưới 8 tỷ  đồng  và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng. Sự xác định này nhằm phân   loại đối tượng cho vay vốn và số vốn cho vay đối với các doanh nghiệp. 1.1.2.Đặc điểm của DNVVN: Mỗi tổ chức kinh tế có những cách định nghĩa về DNVVN khác nhau.  Tuy nhiên theo cách định nghĩa nào thì DNVVN có những đặc điểm nổi bật  sau: a)Điểm mạnh của DNVVN: ­ Quy mô nhỏ: DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động, mô  hình quản lí đơn giản, chi phí quản lí, chi phí đào tạo không lớn và luôn   trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư  cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Tuy nhiên với   Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  6. Khoá luận tốt nghiệp quy mô nhỏ  và mức độ  đầu tư  không lớn, linh hoạt rất phù hợp cho phát   triển dân doanh. DNVVN là phương thức phù hợp và hữu hiệu để  huy   động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế. ­ Tính linh hoạt: DNVVN có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể  hiện  ở  việc sử  dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể  dễ  dàng  thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị  với chi phí không quá lớn, kết  hợp được cả  công nghệ truyền thống và hiện đại. Mặt khác, lĩnh vực sản  xuất kinh doanh của các DNVVN  thường hướng tới phục vụ trực tiếp đời  sống xã hội chủ  yếu là đầu tư  vào các sản phẩm có sức mua cao, nhạy  cảm với biến động của thị trường và khả năng phản ứng lại thị trường linh   hoạt, chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. ­ Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ  và lượng lao động không nhiều nên việc tổ  chức sản  xuất cũng như bộ máy quản lí của DNVVN gọn nhẹ, đơn giản. Không có  sự  phân tầng các phòng ban mang tính rõ rệt và chuyên môn hoá chưa cao.   Tuy nhiên đây cũng là 1 lợi thế  của DNVVN do chi phí cho hoạt động tổ  chức, quản lí tương đối thấp, thời gian đưa ra quyết định và truyền đạt  ý  tưởng từ lãnh đạo tới công nhân viên  nhanh chóng và hiệu quả, không phải  qua nhiều khâu trung gian. b)Điểm yếu của DNVVN: ­ Năng lực tài chính còn yếu: Có DNVVN hiện nay chưa thực sự  chú trọng đến tính minh bạch và   hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. Lí do trước hết là do  trình độ quản lí và quan điểm của ban quản trị chưa quan tâm đúng mức tới   vai   trò   của   hoạt   động   tài   chính   của   doanh   nghiệp.   Thông   thường   các  DNVVN đầu tư rất lớn về sản xuất, marketing, bán hàng…Nhưng lại lơ là  về vấn đề tài chính hoặc trao toàn bộ cho bộ phận kế toán. Hầu như trong  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  7. Khoá luận tốt nghiệp các DNVVN hiện nay của Việt Nam thường thiếu vị trí giám đốc tài chính  và mọi hoạt động tài chính của danh nghiệp do kế toán trưởng đảm nhiệm.   Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá tài chính, quyết định kinh doanh  cũng như chiến lược phát triển của công ty. ­ Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp: Nguồn vốn chủ  yếu của các DNVVN thường là vốn tự  có hoặc vốn  vay trên thị trường phi tài chính. Số lượng vay vốn ngân hàng hiện nay vẫn  còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp. Điều này được giải thích là  do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính của doanh  nghiệp chưa cao, tài sản thế  chấp không đáp  ứng được yêu cầu của ngân   hàng. Điều này sẽ  dẫn đến doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất kinh   doanh, thiếu vốn đầu tư  cho sản xuất,  đổi mới công nghệ, khó khăn cho  mở rộng thị trường. ­ Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính. Khu vực này thường bị  thiếu thông tin về  thị  trường đầu vào như  thị  trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thiếu thông tin   về  thị  trường tiêu thụ  sản phẩm trong nước cũng như  cho  xuất khẩu và   đặcbiệt là chưa tiếp cận được công nghệ  thông tin trong quản lí doanh   nghiệp. Điều này cũng xuất phát tư chính đặc điểm hoạt động  của doanh   nghiệp, thường không có kiến thức chuyên môn về  lĩnh vực công nghệ  thông tin vì các DNVVN thường chỉ  chú ý vào các hoạt động tác nghiệp,  giành rất ít thời gian cho các hoạt động cải tiến và chiến lược. Điều này  cản trở  họ  tiếp cận các công nghệ  mới nhất. Thứ  2 là DNVVN thường  không biết các nguồn thông tin mà họ  nên tham khảo. Điều này khiến họ  tụt hậu về công nghệ. Thứ 3, việc tiếp cận thông tin và cải tiến công nghệ  đòi hỏi thay đổi nhiều về  chức năng, nhiệm vụ  và trách  nhiệm. Nó  làm  thay đổi từ bên trong tổ chức. Việc doanh nghiệp tụt hậu về công nghệ do   hạn chế về tổ chức và tần nhìn chiến lược thích đáng. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  8. Khoá luận tốt nghiệp Do thiếu thông tin, năng lực tài chính chưa đảm bảo minh bạch là trở  ngại lớn cho các DNVVN khi tham gia thị trường tài chính. Họ chưa đủ lớn   để phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khoán. ­Khả năng tiếp cận thị trường kém: Khả  năng xúc tiến thương mại, tiếp cận thị  trường trong và ngoài  nước còn nhiều hạn chế, thường chưa nắm bắt, khai thác và đáp ứng được  nhu cầu thị  trường. Do công nghệ  lạc hậu, nên các sản phẩm của các  DNVVN thường chỉ  cung cấp sản phẩm thông dụng, chưa có những sáng  tạo đột phá để tăng tính cạnh tranh và kích thích tiêu dùng…Lại thêm quy   mô nhỏ  bé, năng lực sản xuất chưa cao, hạn chế  về vốn, thiếu khả năng   xây dựng triển khai kế  hoạch tiếp thị  sản phẩm nên DNVVN gặp nhiều   khó khăn để  cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá. Trong khi đó các  doanh  nghiệp  Việt   Nam   còn   thiếu  sự   liên   kết,  hợp   tác   giữa   các   doanh  nghiệp lớn và DNVVN khiến mạng lưới phân phối sản phẩm còn bó hẹp. 1.1.3.Vai trò của DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ  có vị  trí quan trọng trong phát triển kinh tế  của đất nước, chiếm khoảng 96% tổng số  doanh nghiệp đã đăng kí kinh  doanh. Hàng năm đóng góp khoảng 40% GDP của đất nước, thu hút khoảng   50% tổng số doanh  nghiệp và chiếm 17,46% tổng nộp ngân sách nhà nước. Thời gian qua, doanh   nghiệp vừa và nhỏ  là động lực phát triển cho  nền kinh tế  đất nước. Từ  năm 2001 đến tháng 6 năm 2008 đã có 285.900  doanh nghiệp chủ  yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ  đã đăng kí với số  vốn đăng kí là 1.233.000 tỉ  đồng đưa tổng số  các doanh nghiệp trong cả  nước lên 349.300 doanh nghiệp với tổng vốn đăng kí trên 1.389.000 tỉ đồng Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ  tăng trưởng kinh tế. Doanh  nghiệp vừa và nhỏ  ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số  lượng doanh nghiệp ngày càng lớn và phân bố rộng khắp trong hầu hết các   ngành và lĩnh vực. Trong khối doanh nghiệp thì doanh nghiệp vừa và nhỏ  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  9. Khoá luận tốt nghiệp chiếm 40% GDP của cá nước, thu hút khoảng 50,13% tổng số lao động cho  doanh nghiệp, vốn chiếm khoảng 28,92%, doanh thu chiếm 22,07%, lợi   nhuận chiếm 11,78% và nộp ngân sách nhà nước 17,46%. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò tích cực với sụ phát triển kinh   tế địa phương, khai thác được tiềm năng thế mạnh của từng vùng. Với lợi  thế của mình, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể len lỏi đến những thị trường  nhỏ  lẻ  và phát huy được khả  năng tận dụng mọi nguồn lực cho phát triển  kinh tế. ­ Thu hút và huy động các nguồn lực trong xã hội trong đầu tư, phát  triển dựa vào ưu thế của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ban đầu khởi   nghiệp với số vốn nhỏ nhưng có khả năng thu hồi vốn nhanh, thường huy   động được nguồn vốn tự  có hay vay mượn bạn bè, người thân, làm tăng  vốn nhờ nguồn tiết kiệm trong dân cư. Ngoài ra các doanh   nghiệp vừa và nhỏ  thường tận dụng các nguồn  lực tại chỗ  như  lao động,   nguyên vật liệu,…thúc đẩy phát triển trên địa   phương, tạo ra lượng sản phẩm với giá thành tương đối rẻ  hơn do giá  thành đầu vào rẻ.  ­Góp phần chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  theo hướng công nghiệp hoá,  hiện đại hoá, sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ làm tăng tỉ  trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ. Giúp cho việc chuyển dịch cơ  cấu  từ  nông nghiệp và sản xuất nhỏ  lên nền sản xuất công nghiệp hoá với   những đổi mới trang thiết bị  công nghệ  mới cũng như  trình độ  lao động  được nâng cao. Đồng thời hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp  phần làm cho nền kinh tế  năng động và đạt hiệu quả  kinh tế  cao. Các  doanh nghiệp vừa và  nhỏ đóng một vai trò quan trọng trong lưu thông hàng   hoá, bổ sung cho doanh nghiệp lớn, là mạng lưới tiêu thụ hàng hoá cho các   doanh nghiệp lớn. ­Làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  10. Khoá luận tốt nghiệp Sự ra đời của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm tăng tính cạnh tranh   cho nền kinh tế. Với sự  tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong   các ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp  phải cạnh tranh với nhau, liên tục đổi mới để tồn tại và phát triển. Vì vậy   nó góp phần làm cho nền kinh tế năng động, đạt hiệu quả cao. 1.2. Đặc điêm tín dụng đối với DNVVN 1.2.1.Khái niệm, đặc trưng của tín dụng a. Khái niệm: Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản( tiền hoặc hàng hoá )  giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản  cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên  đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay   khi đến hạn thanh toán. b. Bản chất của tín dụng ngân hàng: + Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình  thức là cho vay ( bằng tiền ) và cho thuê ( bất động sản và động sản ). + Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả,người cho vay khi chuyển giao tài  sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ  sở   để  tin rằng người đi vay sẽ  trả  đúng hạn. Đây là yếu tố  hét sức cơ  bản trong quản trị tín dụng. Trong  thực tế một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ  sở  đánh giá mức độ  tín nhiệm của khách hàng mà lại chú trọng đến các   đảm bảo ,chính quan điểm này đã làn ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. + Gía trị  hoàn trả  thông thường phải lớn hơn giá trị  hoàn trả  lúc cho  vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả  thêm phần lãi ngoài phần  vốn gốc. + Trong quan hệ  tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ  sở  hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  11. Khoá luận tốt nghiệp hệ như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên  đi vay cam kết hoàn trả  vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh   toán. c. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng: ­ Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin Lòng tin là cơ sở đầu tiên để có quan hệ tín dụng. Vì quan hệ tín dụng  xảy ra khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả tiền vay và sử  dụng vốn vay hiệu quả. Để  đảm bảo hiệu quả  hoạt động tín dụng của   ngân hàng thì ngoài lòng tin,ngân hàng còn yêu cầu tài sản đảm bảo hay  bảo lãnhcủa bên thứ ba. ­ Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có thời hạn Thời hạn trong quan hệ tín dụng phụ thuộc vào thoả thuận giữa ngân   hàng và khách hàng. Để xác định thời gian vay ngân hàng căn cứ tính hợp lý   giữa thời hạn đi vay và thời hạn cho vay vốn để  giảm thiểu rủi ro thanh  khoản. Còn khách hàng xác định dựa trên cơ sở chu kì sản xuất kinh doanh,  thời điểm hình thành nguồn thu của mình. ­ Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả cả gốc và lãi Hoàn trả  là một thuộc tính vốn có của tín dụng. Vì vốn cho vay của  ngân hàng là vốn huy động của những ngườu tạm thời thừa vốn nên sau  một thời gian nhất định ngân hàng phải trả  lại cho người ký thác. Mặt  khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: khấu  hao tài sản cố  định, trả  lương cán bộ  công nhân viên, chi phí văn phòng  phẩm…nên người vay vốn ngoài việc trả  nợ  gốc còn phải trả  cho ngân  hàng một khoản lãi. d. Phân loại tín dụng: * Căn cứ vào thời hạn tín dụng Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  12. Khoá luận tốt nghiệp ­ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm. Tín  dụng ngắn hạn được dùng để  bổ  sung sự  thiếu hụt tạm thời về  vốn lưu   động của các doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. ­ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ  một đến năm   năm. Loại tín dụng này được cấp để  mua sắm tài sản cố  định, cải tiến và  đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời  hạn thu hồi vốn nhanh. ­ Tín dụng dài hạn : là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử  dụng để  cấp vốn cho xây dựng cơ  bản, đầu tư  xây dựng các xí nghiệp  mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng ( đường xá, bến cảng, sân bay…),  cải tiến  và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. * Căn cứ vào đối tượng tín dụng. ­ Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành  vốn lưu động của các tổ  chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu   động thiếu hụt tạm thời. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ  hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để  thanh toán các khoản nợ  dưới hình thức chiết khấu kì phiếu. ­ Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được sử  dụng để  hình thành  tài sản cố định, có nghĩa là đầu tư  để  mua sắm tài sản cố  định,cải tiến và  đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình  mới. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn. ­ Tín dụng sản xuát và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các  nhà doanh nghiệp, các chủ  thể  kinh doanh để  tiến hành sản xuất và lưu   thông hàng hoá. ­ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân đáp ứng nhu  cầu tiêu dùng như; mua sắm nhà cửa, xe cộ  và các loại hàng hoá có giá trị  cao. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  13. Khoá luận tốt nghiệp * Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng. ­ Tín dụng gián tiếp; là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung   gian tài chính như ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng khác. ­ Tín dụng trực tiếp: là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền  ( hoặc hàng hoá ) với người cần sử dụng tiền ( hoặc hàng hoá ) đó, không  cần phải thông qua một trung gian tài chính nào cả. * Căn cứ vào mức độ đảm bảo. ­ Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc  ngưòi bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay. ­ Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản  hoặc người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay. 1.2.2. Các phương thức cho vay áp dụng đối với DNVVN a. Cho vay ngắn hạn: ­ Cho vay từng lần: là phương thức cho vay dựa trên cơ sở nhu cầu tín  dụng của từng đối tượng vay cụ thể, như cho vay để mua nguyên vật liệu   đối với các doanh nghiệp sản xuất,cho vay dự trữ hàng hoá để bán đối với  các doanh nghiệp thương mại ...Đây là loại cho vay có kì hạn nợ  cụ  thể  gắn  liền   với   chu  kì   ngân  quỹ   của  doanh   nghiệp.   Thường   áp   dụng  với   những doanh nghiệp vay vốn không thường xuyên với ngân hàng, những  doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập. ­ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương pháp cho vay để đáp ứng   toàn bộ  nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động theo hạn mức đã cam kết. Hạn   mức tín dụng là giới hạn tối đa số  tiền cho vay mà ngân hàng có thể  cung   cấp cho một khách hàng trong một thời gian nhất định. Ngân hàng xác định  hạn mức tín dụng trên cơ  sở  phân tích toàn diện các mặt hoạt động của  doanh nghiệp và doanh nghiệp được sử  dụng một cách chủ  động tiền vay  trong hạn mức thoả thuận đó. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  14. Khoá luận tốt nghiệp * Chiết khấu: là một nghiệp vụ  tín dụng ngắn hạn, trong đó khách  hàng chuyển nhượng các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán cho ngân  hàng để nhận lấy một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi tức chiết khấu   và hoa hồng phí ( nếu có). Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ít rủi ro,  khả  năng thu hồi nợ là khá chắc chắn. Tuy nhiên có thể  phát sinh các giáy   tờ có giá giả mạo,vì vậy các ngân hàng phải có các biện pháp để  hạn chế  loại rủi ro này. b. Cho vay trung, dài hạn * Cho vay theo dự  án đầu tư: đây là khoản tín dụng tài trợ  cho việc  đầu tư mua sắm tài sản cố  định hay xây dựng các công trình được dự tính   sẽ mang lại thu nhập trong tương lai.  * Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay trong đó một nhóm các tổ  chức tài chính cùng liên kết lại để  tập hợp vốn cho một khách hàng vay.  Hình thức cho vay này là cần thiết khi nhu cầu vay vốn của khách hàng   vượt quá khả  năng cho vay của một tổ  chức tài chính, khi người cho vay  muốn phân tán tiền vay để hạn chế rủi ro; đặc biệt đối với các tổ chức tài  chính nhỏ, có trình  độ nghiệp vụ chưa cao muốn thông qua nghiệp vụ này   để có thể tiếp cận,học hỏi kinh  nghiệm, kĩ thuật cho vay của các tổ  chức  tài chính lớn. Hơn nữa, đối với doanh nghiệp đi vay thì hình thức cho vay  này có thể đáp ứng ngay một lần nhu cầu vốn lớn, hạn chế chi phí về thời  gian và tiền bạc khi phải vay nhiều lần ở nhiều tổ chức tài chính. 1.2.3. Khái niệm, quy trình tín dụng ngân hàng a. Khái niệm  Quy trình tín dụng ngân hàng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của   ngân hàng trong việc cấp tín dụng. Quy trình tín dụng tổng quát thường  gồm 5 giai đoạn: Lập hồ  sơ  đề  nghị  vay vốn    Phân tích tín dụng   Quyết định tín dụng  Giải ngân  Giám sát thanh lý tín dụng. Việc phân  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  15. Khoá luận tốt nghiệp đoạn như  vậy tạo điều kiện cho việc xác đinh các thao tác nghiệp vụ   ở  mỗi giai đoạn và phân tích trách nhiệm cho các nhân viên thực hiện. Các giai đoạn   này đồng đều, liên quan đến nhau và có vai trò quan   trọng như nhau trong một quy trình tín dụng, tạo nên một thể thống nhất. b. Quy trình tín dụng ngân hàng: Giai đoạn 1: Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng. Hồ  sơ  đề  nghị  cấp tín dụng do khách hàng lập, đây là bước đầu để  ngân hàng lấy được các thông tin liên quan đến khách hàng. Lượng giấy tờ  trong hồ sơ được lập trong giăi đoạn này phụ thựôc vào nhiều yếu tố như  khách hàng đã thiết lập quan hệ hay khách hàng lần đầu quan hệ, loại hay  kĩ thuật cấp tín dụng… Tuỳ vào từng đối tượng khách hàng mà ngân hàng  sẽ xem xét theo loại nào, có đảm bảo hay tín chấp… Hồ sơ đề nghị cấp tín dụng còn phụ thuộc vào quy mô nhu cầu vốn tín  dụng của khách hàng. Yêu cầu thông tin từ  hồ  sơ  tín dụng sẽ  tăng lên khi  quy mô tín dụng sẽ đựơc cấp lớn. Ở giai đoạn này nhiệm vụ chủ yếu của nhân viên tín dụng là tiếp xúc,  thông báo  điều kiện cấp tín dụng  đối với từng khách hàng cụ  thể  với   những mục đích sử dụng vốn đã định. Giai đoạn 2: Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng là phân tích khả  năng hiện tại và tiềm năng của   khách hàng về sử dụng vốn tín dụng cũng như  khả  năng hoàn trả  vốn vay  ngân hàng. + Mục tiêu của phân tích tín dụng là hạn chế  tình trạng thông tin  không cân xứng giữa thông tin khách hàng đưa ra với thực tế  tại doanh   nghiệp, tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho  ngân hàng và  tiên lượng khả  năng kiểm soát của ngân hàng về  các loại rủi ro đó cũng  như  dự  kiến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế. Mặt khác phân tích tín  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  16. Khoá luận tốt nghiệp dụng cho ngân hàng kiểm tra tính chính xác của các thông tin do khách hàng   cung cấp từ đó nhận định đúng về thái độ của khách hàng. + Nôi dung phân tích tín dụng: bao gồm 2 lĩnh vực Phân tích phi tài chính: phân tích các yếu tố  ít hoặc không liên quan   đến tài chính của khách hàng một cách trực tiếp. Phân tích tài chính: phân tích hiện trạng tài chính và các dự báo về  tài  chính trong tương lai của khách hàng nhằm tìm kiếm và tiên lượng các  trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Trong quá trình phân tích tài chính, ngân hàng cũng sẽ  xác định thời   hạn cho vay hợp lí. Thời hạn cho vay đựơc coi là khoảng thời gian từ lần   đầu tiên phát tiền vay (giải ngân) cho đến khi khách hàng thanh toán xong   khoản đã vay cả gốc lẫn lãi. Cơ sở  để xác định thời hạn cho vay là tính chất luân chuyển vốn của   phương án sản xuất kinh doanh và phương án tài chính hoặc chu kì ngân  quỹ của khách hàng. Giai đoạn 3: Quyết định tín dụng Ngoài các thông tin được chuyển giao từ giai đoạn trước chuyển sang,  ngoài ra quyết định còn phải được dựa vào những cơ sở sau: ­ Thông tin cập nhật từ thị trường, cơ quan liên quan. ­ Chính sách tín dụng của ngân hàng, những quy định hoạt động tín  dụng của nhà nước. ­ Nguồn cho vay của ngân hàng khi ra quyết định. Kết quả thẩm định đảm bảo tín dụng. Sau đó nhà quản trị  còn tính giá cả, chi phí cho khoản tín dụng, định  lượng nhưng rủi ro có thể  xảy ra để  dự  kiến thu nhập có đựơc từ  tài   khoản tín dụng sẽ được cấp. Từ đó sẽ đưa ra quyết định chấp nhận hay từ  chối đơn đề nghị cấp tín dụng đó. Giai đoan 4: Giải ngân Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  17. Khoá luận tốt nghiệp Là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam   kết theo hợp đồng. Phương thức của giải ngân phụ  thuộc vào nội dung cam kết của hợp   đồng tín dụng. Theo tiêu chuẩn nghiệp vụ giải ngân có thể  chia ra làm hai  loại: ­ Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền thuần tuý. ­ Giải ngân là giai đoạn cho vay phụ kèm theo việc cấp tiền. Giai đoạn 5: Giám sát, thu nợ, thanh lý tín dụng. + Giám sát tín dụng để đạt được mục tiêu là kiểm tra việc thực hiện   các điều khoản đã cam kết theo hợp đồng tín dụng như: Khách hàng có sử  dụng đúng mục đích hay không. Kiểm soát mức độ rủi ro tín dụng phát sinh   trong quá trình sử dụng vốn tín dụng theo dõi thực hiện các điều khoản cụ  thể đã thoả thuận. c. Hợp đồng, kịp thời phát hiện những vi phạm để  ứng xử  thích hợp.  Theo dõi và ghi nhận việc thực hiện quy trình tín dụng của các bộ phận, cá   nhân có liên quan tại ngân hàng. Đến hạn thu nợ  gốc cộng lãi vay: trường hợp khách hàng không trả  được nợ thì ngân hàng sẽ  xem xét cơ  cấu lại nợ cho khách hàng nếu có lí  do hợp lí, nếu không thì chuyển nợ quá hạn,phân vào nhóm nợ thích hợp. 1.2.4. Đặc điêm tín dụng ngân hàng với DNVVN ­ Các khoản cho vay đối với DNVVN thường nhỏ Do các DNVVN có quy mô cũng như  nguồn vốn không lớn, vì vậy,  trong khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp thưòng đầu tư vào các dự án  có quy mô phù hợp với khả  năng, đó là những dự  án có mức đầu tư  vừa  phải nên món vay ngân hàng của doanh nghiệp thường nhỏ. Vì vậy ngân   hàng sẽ  luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ  ra như  chi phí quản lí, chi phí tim  kiếm thông tin về doanh nghiệp, các chi phí khác…và lãi thu được từ khoản  vay đó có bù đắp được chi phí và sinh lời cho ngân hàng hay không. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  18. Khoá luận tốt nghiệp ­ Loại hình cho vay chủ yếu là cho vay ngắn hạn Theo Thời báo doanh nhân: tỷ  lệ  cho vay ngắn hạn các DNVVN tại  các NHTM là 73.05%, cho vay dài hạn chỉ  chiếm 26.95%. Do cac doanh   nghiệp thường có nhu cầu vay vốn tạm thời cao, đáp  ứng cho nhu cầu tài  trợ  vốn lưu động như  mua nguyên vật liệu…, có khả  năng quay vòng vốn  nhanh. Các khoản vay dài hạn của DNVVN thường phát sinh khi mở doanh  nghiệp hoặc mua máy móc thiết bị  hoặc tài trợ  nhu cầu vốn lưu  động  thường xuyên. Tuy nhiên, các khoản vay dài hạn khi doanh nghiệp mới   thành lập chứa đựng nhiều rủi ro, thường các DNVVN không đủ  tài sản  bảo đảm khi vay vốn mua thiết bị, máy móc. Vì vậy doanh số cho vay ngắn   hạn vẫn chiếm chủ yếu do thời gian luân chuyển vốn nhanh, ngân hàng có   thể nhanh quay vòng vốn. ­ Tỷ lệ cho vay có tài sản bảo đảm Do các DNVVN vẫn tồn tại những yếu kém như  năng lực tài chính  không cao, khả  năng xây dựng phương án kinh doanh còn nhiều hạn chế.   Vì vậy mà khi cho vay vốn, các ngân hàng thường yêu cầu tài sản bảo đảm   hoặc bảo lãnh của bên thứ  ba. Tuy nhiên, một lượng lớn các DNVVN khi   vay vốn tại ngân hàng không đáp ứng được yêu cầu về tài sản bảo đảm do   những tài sản bảo đảm thường là máy móc thiết bị, nhà xưởng mà khi ngân   hàng đánh giá lại thường rất thấp. Hoạt động bảo lãnh tín dụng đang rất  cần thiết cho các DNVVN trong điều kiện hiện nay khi mà các DNVVN   thường không đảm bảo tài sản bảo đảm nhưng hoạt động của các tổ chức,   các quỹ  bảo lãnh hiện nay rất mờ  nhạt và phần lớn các DNVVN không   tiếp cận được các dịch vụ bảo lãnh. Hoạt động tín dụng đối với các DNVVN của các NHTM, ngoài nguồn  vốn huy động trong nước còn được sự  hỗ  trợ  từ  các tổ  chức nước ngoài.  Một số  dự  án hỗ  trợ  của nước ngoài đã cung  ứng nguồn tín dụng cho các  DNVVN và các hộ gia đình thông qua hệ thống NHTM như: WB với dự án   Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  19. Khoá luận tốt nghiệp “ Tài trợ cho doanh nghiệp ở vùng nông thôn giai đoạn I,II”, ngân hàng Hợp  tác quốc tế Nhật Bản (JIBC) với dự án “ tài trợ DNVN “…. ­ Lượng hồ sơ vay vốn của các DNVVN được các NHTM chấp nhận  tương   đối   thấp,   chỉ   có   khoảng   30%   đến   40%   đơn   vay   vốn   của   doanh  nghiệp được ngân hàng chấp nhận cho vay. Việc trả  nợ  vay ngân hàng của các DNVVN : 23% hoạt động kinh   doanh tốt, trả  nợ  đúng hạn đầy đủ, 73.2% doanh nghiệp hoạt động trung  bình, 3.8% gặp khó khăn, 1.42% có khả  năng mất vốn gây  ảnh hưởng lớn  tới khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. ­ Tín dụng đối với DNVN luôn cần sự  giám sát tư  vấn , hỗ  trợ  của  ngân hàng do trình độ  quản lí cũng như  trình độ  lập báo cáo tài chính của  doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Tín dụng DNVVN luôn có sự hỗ  trợ phi   tài chính từ  phía ngân hàng như  : ngân hàng thường xuyên giới thiệu cho   doanh nghiệp tham  gia các buổi thuyết trình kinh nghiệm quản trị  kinh  doanh, điều hành doanh nghiệp và các buổi tư vấn chuyên sâu về việc lựa   chọn sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng để  giúp các doanh nghiệp có thể  sử  dụng các sản phẩm của ngân hàng hiệu quả nhất. 1.3. Quan điểm và sự cần thiết mở rộng hoạt động tín dụng với   DNVN 1.3.1.Quan điểm mở  rộng tín dụng và chỉ  tiêu đo lường mức độ   mở rộng tín dụng. a. Khái niệm về mở rộng tín dụng Mở  rộng tín dụng là việc làm tăng lên về  doanh số, dư  nợ, đa dạng  hoá các sản phẩm dịch vụ và tăng lên về số lượng khách hàng cũng như đối  tượng khách hàng. Đồng thời đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng. + Mở rộng tín dụng là đáp ứng được tối đa nhu cầu hợp lí của khách  hàng trong phạm vi năng lực của ngân hàng. Bất cứ ngân hàng nếu nguồn  Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
  20. Khoá luận tốt nghiệp lực đảm bảo về  nhân sự, tài chính, quản tri,…thì việc càng mở  rộng tín   dụng có khả thi càng mang lại được nhiều lợi ích cho ngân hàng. Việc xác định các dự án vay vốn khả thi là rất quan trọng. Nó đòi hỏi  ngân hàng phải đánh giá chính xác được nhiều vốn, tính khả  thi của dự án  đó tránh việc dự án khả  thi không được ngân hàng chấp nhận hoặc dự  án   không khả thi thì lại được ngân hàng chấp nhận. Cả hai trường hợp đó đều   gây bất lợi cho ngân hàng. + Mở rộng tín dụng là đáp ứng được nhiều hơn nữa nhu cầu vay vốn   hợp lí của nhiều đối tượng khách hàng. Ngân hàng sẽ  cho vay với nhiều đối tượng khách hàng thuộc nhiều  ngành nghề khác nhau. Điều này sẽ giúp ngân hàng sẽ phân tán được rủi ro,  cung cấp được nhiều sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Đặc biệt là rủi ro   về  ngành. Nếu ngân hàng chỉ  tập trung vào một số  ngành nghề  nhất định  thì rủi ro ngành xảy ra sẽ  gây  ảnh hưởng đến lượng lớn khách hàng của   ngân hàng, ảnh hưởng khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng. Việc mở  rộng đối tượng khách hàng giúp ngân hàng tìm được những khách hàng tốt  có dự án kinh doanh khả thi và có hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả. + Mở rộng tín dụng  nghĩa là ngân hàng sẽ chủ động cung cấp các sản  phẩm tín dụng đa dạng và hợp lí cho khách  hàng. Để  thu hút được khách   hàng sử  dụng sản phẩm của ngân hàng thì ngân hàng cần cung cấp ngày  càng nhiều các loại hình cho vay để đáp ứng tốt nhất điều kiện vay vốn và   phù hợp với từng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Đa dạng các hình thức cho vay như: cho vay từng lần, cho vay tài trợ  vốn lưu động, cho vay theo hạn mức…cho vay ngắn hạn, dài hạn, trung   hạn. Mỗi loại hình sẽ  phù hợp vơi đặc tính sản xuất kinh doanh của từng   doanh nghiệp trong từng ngành nghề. Việc đa dạng các sản phẩm tín dụng  như  vậy sẽ  đáp  ứng được tốt nhất theo tính chất hoạt động của doanh   nghiệp. Đặng Thị Mai Chang    Lớp: NHD ­ K8
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2