intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Luận văn hay về: Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:107

0
103
lượt xem
31
download

Luận văn hay về: Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo định hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Trong Nhà nước pháp quyền, tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm bảo cho các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền được thể hiện đầy đủ, toàn diện. Vì vậy, kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn hay về: Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tũa ỏn nhõn dõn ở nước ta hiện nay
  2. 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo định hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Trong Nhà nước pháp quyền, tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm bảo cho các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền được thể hiện đầy đủ, toàn diện. Vì vậy, kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trong nền tư pháp nước nhà, Tòa án được xác định là trụ cột. Hoạt động của Tòa án là nơi thể hiện rõ nhất chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng và toàn bộ quyền lực nhà nước nói chung, vì vậy, để cải cách, nâng cao chất lượng hoạt động của Toà án trong đó trọng tâm là hoạt động xét xử là khâu đột phá của quá trình cải cách tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tế hoạt động xét xử trong những năm gần đây cho thấy các vụ án dân sự ngày càng tăng đặc biệt là các tranh chấp về nhà, đất. Mặc dù Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004 đã có nhiều quy định mới rõ ràng hơn tạo thuận lợi cho mọi công dân đưa quyền sử dụng đất vào giao lưu dân sự, góp phần thúc đẩy kinh tế gia đình và xã hội phát triển thông qua hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật về đất đai vẫn còn nhiều khoảng trống, tính ổn định thấp, đặc biệt có những thời kỳ pháp luật đất đai chưa phù hợp với cuộc sống đã tạo ra các hoạt động ngầm trong lĩnh vực đất đai như chuyển nhượng quyền sử dụng đất không qua chính quyền địa phương. Trong khi đó, yêu cầu của xã hội và công dân đối với công tác này ngày càng cao; Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 nhưng nhiều văn bản pháp luật liên quan đến công tác xét xử loại tranh chấp này chưa được hướng dẫn, tập huấn kịp thời; bên cạnh đó, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở, vật chất của các Tòa án chưa được tiếp tục kiện toàn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cải cách tư pháp trong đó có việc tăng thẩm quyền trong xét xử cho Tòa án cấp huyện.
  3. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì trong những năm gần đây các vụ, việc dân sự đều tăng đáng kể. Số lượng đơn đề nghị Tòa án xem xét vụ án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm ngày một tăng và tính chất ngày càng phức tạp. Trong đó phần lớn là các vụ, việc liên quan đến tranh chấp nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm tỷ lệ lớn và là loại tranh chấp gay go nhất, phức tạp nhất trong số các tranh chấp về dân sự. Do số lượng các vụ án tăng, tính chất ngày càng phức tạp và do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hoạt động xét xử của Tòa án còn bộc lộ những hạn chế nhất định như để quá thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật, tỷ lệ các bản án, quyết định bị sửa, hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và do áp dụng sai pháp luật về nội dung, về thủ tục tố tụng vẫn còn nhiều. Tuy số bản án bị hủy, sửa không nhiều nhưng là nhược điểm lớn nhất trong hoạt động xét xử. Đáng chú ý có một số vụ án tranh chấp về nhà, đất kéo dài qua nhiều năm, nhiều cấp xét xử làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vẫn còn tình trạng một số bản án giải quyết tranh chấp nhà, đất tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, do việc nghiên cứu các văn bản pháp luật chưa đầy đủ dẫn đến việc đánh giá chứng cứ thiếu khách quan toàn diện, áp dụng văn bản pháp luật không đúng dẫn đến phán quyết sai lầm hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp trên phải hủy hoặc sửa án của Tòa án cấp dưới. Trước tình hình đó ngành Tòa án nhân dân đã tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết các loại vụ án, đặc biệt là các vụ án dân sự đảm bảo thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất các bản án, quyết định của Tòa án có sai lầm nghiêm trọng, khắc phục việc áp dụng sai pháp luật; tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật liên quan đến công tác xét xử và tổ chức hoạt động của ngành Tòa án nhân dân. Tiếp tục củng cố và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp. Hầu hết các bản án, quyết định của Tòa án được ban hành đúng pháp luật, khách quan,thấu tình đạt lý đúng thời hạn luật định và có tính giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật trong quần chúng nhân dân. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án nhân dân đã và đang đặt ra những yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư
  4. pháp ở nước ta theo đúng đường lối của Đảng. Vì vậy, chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án là một trong những yếu tố quan trọng có tính chất quyết định chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay thì về mặt lý luận và thực tiễn có nhiều vấn đề đặt ra cần nghiên cứu, trong đó có vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân nói riêng. Chính vì ý nghĩa lý luận và thực tiễn như đã nêu trên tôi đã lựa chọn vấn đề " Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tũa ỏn nhõn dõn ở nước ta hiện nay " làm đề tài luận văn thạc sĩ luật. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý. Đặc biệt trong tình hình hiện nay thì số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về cải cách tư pháp và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án tăng lên rõ rệt. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử đã được một số nhà khoa học, các bộ thực tiễn ngành Tòa án thực hiện và đã được công bố trong các công trình khoa học như: - Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Thân: "áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay", năm 2004. - Luận văn thạc sĩ của tác giả Chu Đức Thắng: "áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân ở cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay", năm 2004. - Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài "Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử", Tạp chí Tòa án nhân dân số tháng 5/2005. - Tác giả Phạm Thanh Hải Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Hà Tây với bài "Trao đổi thêm về việc áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003", Tạp chí Tòa án tháng 5/2005.
  5. - Tiến sĩ Nguyễn Văn Cường với bài "Những vấn đề cần trao đổi khi áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003", Tạp chí Tòa án tháng 8/2005. - Tác giả Thủy Nguyên với bài " áp dụng luật hôn nhân gia đình khi giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài", Tạp chí Tòa án nhân dân số 17 tháng 9/2005. - Ban biên tập Tạp chí Tòa án nhân dân với bài "Những vấn đề trao đổi khi áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003", Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 9/2005. Ngoài ra, trên các tạp chí khác như: Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và pháp luật cũng có những bài viết nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật. Các công trình nêu trên hoặc nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân nói chung hoặc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân ở một số địa phương cụ thể. Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật vấn đề áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân - loại tranh chấp gay go nhất, phức tạp nhất trong tất cả các tranh chấp về dân sự. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân, nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên nhân và những bất cập trong việc áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc áp dụng các văn bản pháp luật vào việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất. * Về phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật, luận văn chỉ bao gồm những nội dung lý luận, thực tiễn có liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân.
  6. Giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất là một lĩnh vực rộng với nhiều cơ quan khác có thẩm quyền tham gia. Tuy nhiên, với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về việc áp dụng các văn bản pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân trong đó đi sâu phân tích nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục. 4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn * Về mục đích: Luận văn nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân. * Về nhiệm vụ của luận văn: - Phân tích cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án đối với các tranh chấp quyền sử dụng đất. Dưới góc độ lý luận Mác - Lênin về Nhà nước pháp luật, luận văn nêu khái niệm, đặc điểm, quy trình áp dụng pháp luật, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân. - Đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân từ năm 2000 đến năm 2005, rút ra những ưu điểm, thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó. - Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp.
  7. * Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác xít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh. 6. Những đóng góp của luận văn Luận văn phân tích khái niệm, đặc điểm, quy trình áp dụng pháp luật, xác định tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng áp dụng pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân nói riêng. Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân. Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất. 7. ý nghĩa của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử nói chung và trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân nói riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh Tư pháp nói riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với các Thẩm phán dân sự, giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và các vụ án có liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất. 8. Kết cấu của luận văn
  8. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
  9. chương 1 cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân 1.1. Khái quát những vấn đề chung về áp dụng pháp luật 1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hợp các quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành theo trình tự nhất định với các hình thức nhất định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hình thức thể hiện của pháp luật xã hội chủ nghĩa là các quy phạm pháp luật được các chủ thể ban hành dưới dạng văn bản có tên gọi khác nhau và có hiệu lực pháp lý khác nhau. Khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước hướng tới mục đích là dùng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng, khoa học kỹ thuật... Tuy nhiên, để pháp luật thực sự đi vào đời sống thì ngoài các yếu tố như sự phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật bởi các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xã hội, Nhà nước còn phải quan tâm đến hoạt động không kém phần quan trọng là tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh. Bởi vì, văn bản pháp luật khi ban hành dù hoàn chỉnh đến đâu nhưng nếu các quy định của văn bản đó không thực hiện được trên thực tế thì mục đích điều chỉnh pháp luật vẫn chưa đạt được. Thực hiện pháp luật là hành vi của con người phù hợp với những quy định của pháp luật, không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và cho cá nhân. Đó là những hoạt động, những phương cách, những quá trình làm cho những quy tắc xử sự chung chứa đựng trong các quy phạm pháp luật trở thành hành vi, cách xử sự của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật rất đa dạng và phong phú, phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thể chỉ
  10. phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước; có thể được thực hiện xuất phát từ nhiều nguyên nhân như sự tự giác của bản thân chủ thể hoặc do ảnh hưởng của dư luận xung quanh hoặc là kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Thực hiện pháp luật có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Do các quy phạm pháp luật rất phong phú nên cũng có nhiều hình thức thực hiện khác nhau. Khoa học pháp lý đã xác định có bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Tuân thủ pháp luật: Là hình thức các chủ thể pháp luật không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm, mà cho các quy phạm pháp luật ngăn cấm được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Ví dụ: Việc tuân thủ các quy định về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất. Hộ gia đình và cá nhân muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định của Luật đất đai.v.v. Chủ thể thực hiện hình thức tuân thủ pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức, cá nhân và mọi công dân trong xã hội. Thi hành pháp luật (còn gọi là chấp hành pháp luật): Các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý chủ động, tích cực bằng các hành vi cụ thể mà pháp luật quy định được thực hiện trong những hoàn cảnh, những quan hệ pháp luật cụ thể. Ví dụ: Thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất, thực hiện các quy định về sinh đẻ có kế hoạch, thực hiện các nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái của cha mẹ v.v... Chủ thể thực hiện hình thức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội. Sử dụng pháp luật: Các chủ thể thực hiện pháp luật, chủ động sử dụng các quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình. Hình thức thực hiện pháp luật này khác hai hình thức tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật là các chủ thể quan hệ pháp luật có quyền thực hiện hoặc không thực hiện các quyền của mình, không bị bắt buộc phải thực hiện như 2 hình thức tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật. Ví dụ: Quyền khởi kiện hay không khởi kiện vụ án dân sự của cá nhân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, quyền chuyển nhượng
  11. hay không chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở của mình.v.v.. Chủ thể thực hiện hình thức sử dụng pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội. áp dụng pháp luật: Là một trong những hình thức thực hiện pháp luật và bao giờ cũng có sự tham gia của cơ quan nhà nước, cán bộ Nhà nước có thẩm quyền. áp dụng pháp luật là một trong những hình thức của thực hiện pháp luật. Nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền để ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Thông qua đó, hoạt động áp dụng pháp luật bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng, thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất: các quyền của chủ thể pháp luật được thực hiện và được bảo vệ trên thực tế; các hành vi vi phạm pháp luật được xử lý nghiêm minh và kịp thời. Hoạt động áp dụng pháp luật diễn ra hàng ngày trong các cơ quan nhà nước và chỉ do nhân viên nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc áp dụng pháp luật thường do cơ quan nhà nước được giao quyền hoặc người có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục hành chính như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất hoặc thu hồi đất. Trong hoạt động tư pháp, áp dụng pháp luật được điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán, hội thẩm nhân dân tiến hành theo thủ tục nhất định để thu thập chứng cứ, xác minh, điều tra nhằm xác định sự thật khách quan sự việc, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Hình thức áp dụng pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, do có sự can thiệp của nhà nước buộc các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật làm cho các quy định của pháp luật đều được thực hiện chính xác, triệt để. Qua đó tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất. áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau: - Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc áp dụng các chế tài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật - Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. Chẳng hạn, trong một hợp đồng dân sự, do một hoặc các bên tham gia ký kết không thực hiện đúng nghĩa
  12. vụ đối với bên kia mà các bên không thể trao đổi, thỏa thuận tự giải quyết được. Trường hợp này, bên bị vi phạm có quyền đề nghị Tòa án can thiệp và đưa ra phán quyết buộc bên vi phạm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. - Trong một số quan hệ pháp luật, Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên hoặc xác nhận sự tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế. Chẳng hạn như công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán nhà, đất; chứng nhận giấy đăng ký kết hôn, chứng nhận giấy khai sinh, khai tử... Như vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính thực tiễn cụ thể và sinh động do cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước được giao quyền tiến hành theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định và đồng thời là hình thức thực hiện pháp luật, là thủ tục bắt buộc để Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật. áp dụng pháp luật mang tính thực tiễn, cụ thể và sinh động và được tiến hành theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định. áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, là thủ tục bắt buộc để các cơ quan nhà nước thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật; khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể hoặc khi nhà nước cần phải can thiệp để thực thi các quyền của chủ thể theo quy định của pháp luật. áp dụng pháp luật có vai trò rất to lớn và rất quan trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế,văn hóa, an ninh quốc phòng. 1.1.2. Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật áp dụng pháp luật có các đặc điểm chủ yếu sau: - áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước. Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền tiến hành và mỗi cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được giao một số hoạt động áp dụng pháp luật nhất định trong phạm vi thẩm quyền của mình. Trong một số trường hợp cá biệt, một số tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền cũng có thể tiến hành áp dụng pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của những chủ thể có liên quan. Trường hợp cần thiết, áp dụng pháp luật được
  13. bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền phải xem xét, cân nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm pháp luật đã được xác định để ra văn bản áp dụng pháp luật cụ thể. Văn bản áp dụng pháp luật là hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng pháp luật; là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xây dựng, được Nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp, trách nhiệm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật. - áp dụng pháp luật là hoạt động theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình áp dụng pháp luật. Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó, để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác. Hình thức thể hiện của hoạt động áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước, người và tổ chức có thẩm quyền ban hành có tính chất cá biệt, một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định, phải phù hợp với pháp luật và dựa trên những quy phạm pháp luật cụ thể; được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định như bản án, quyết định, lệnh... Văn bản áp dụng pháp luật có hai loại: văn bản xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể và văn bản bảo vệ pháp luật chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật. - áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật cá biệt hóa một cách cụ thể và chính xác những quy phạm pháp luật nhất định. - áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo. Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật phải nghiên cứu kỹ vụ việc, phân tích làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó, trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải áp dụng tương tự để từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp,
  14. ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành. Trong quá trình áp dụng pháp luật, người có thẩm quyền phải có ý thức pháp luật cao, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Tóm lại, hoạt động áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. 1.1.3. Quy trình áp dụng pháp luật Để hoạt động áp dụng pháp luật được chính xác, đạt chất lượng, hiệu quả cao cần tiến hành theo quy trình sau đây: * Xác định đối tượng, phân tích đánh giá đúng, chính xác mọi tình huống, hoàn cảnh điều kiện của vụ việc thực tế đã xảy ra. Trước khi quyết định áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải điều tra, xem xét, kể cả các biện pháp chuyên môn đặc biệt như xem xét thực địa, trưng cầu giám định, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để làm sáng tỏ những sự việc có liên quan. Khi điều tra, xem xét phải đảm bảo sự khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của vụ việc; phải nghiên cứu, xác định vụ việc đó thực sự có ý nghĩa pháp lý hay không, đánh giá được tầm quan trọng về mặt pháp lý của nó; tuân thủ các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc. Các cơ quan áp dụng pháp luật phải quan tâm không chỉ kết quả việc xem xét đánh giá sự việc khách quan mà phải xác minh kết quả đó có mang tính chân lý và đúng pháp luật hay không? Trên cơ sở đó xem xét có cần phải áp dụng pháp luật đối với vụ việc cụ thể hay không? Nếu cần thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo của quy trình. * Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng pháp luật. Trước hết, phải xác định ngành luật điều chỉnh để đi đến lựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc. Quy phạm được lựa chọn phải từ các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra sự việc cần áp dụng. Trong
  15. trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) thì áp dụng theo quy định đó. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy phạm trong văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng quy phạm pháp luật của văn bản mới. Khi đã lựa chọn được quy phạm pháp luật cụ thể, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải tư duy khoa học, logic, biện chứng làm sáng tỏ, nhận thức đúng đắn nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật. * Ban hành văn bản áp dụng pháp luật. Giai đoạn này là quan trọng nhất của quá trình áp dụng pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật cá biệt hóa, cụ thể hóa những quyền và nghĩa vụ chung chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật để ấn định những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp, trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm. Văn bản áp dụng pháp luật phải phù hợp với lợi ích và mệnh lệnh của Nhà nước được thể hiện trong các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác. Vì vậy, khi ra văn bản, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải đánh giá những tình tiết của vụ việc mang tính pháp lý, có cơ sở khoa học và thực tiễn; phải "chí công, vô tư" không thể xuất phát từ động cơ cá nhân hoặc quan hệ riêng tư. Văn bản áp dụng pháp luật phải đáp ứng những yêu cầu sau: - Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền đúng tên gọi và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; nội dung văn bản phải rõ ràng, chính xác, đầy đủ, hình thức văn bản phải đảm bảo các quy định của thủ tục hành chính. - Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở pháp lý, chỉ rõ chi tiết cụ thể tới điểm, khoản, điều của văn bản pháp luật áp dụng. Nếu văn bản áp dụng pháp luật được ban hành trong trường hợp áp dụng pháp luật tương tự thì phải có sự lý giải kỹ càng về tính hợp pháp, hợp lý của việc áp dụng pháp luật tương tự đó, đồng thời cũng phải ghi rõ đã áp dụng tương tự quy phạm pháp luật nào hoặc nguyên tắc pháp luật nào.
  16. - Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở thực tế, căn cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và có thật thì mới đảm bảo áp dụng pháp luật chính xác, có tính thuyết phục. Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành phù hợp với nhu cầu thực tế của cuộc sống thì mới bảo đảm cho văn bản quy phạm pháp luật có tính hiện thực. Nếu văn bản áp dụng pháp luật không phù hợp với thực tế thì khó được thi hành nghiêm chỉnh, thi hành kém hiệu quả, thậm chí không thể thi hành. * Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật, tiến hành những hoạt động tổ chức nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật như việc tổ chức thi hành bản án v.v... Trong quá trình tổ chức thực hiện văn bản cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định áp dụng pháp luật nhằm đảm bảo để quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật. Cuộc sống xã hội hàng ngày có không ít những sự kiện, những quan hệ xảy ra trong thực tế liên quan tới lợi ích cá nhân, tổ chức cần phải được pháp luật điều chỉnh ngay lập tức để đảm bảo lợi ích của công dân, các tổ chức và của Nhà nước, song pháp luật không thể điều chỉnh hết các quan hệ xã hội để có những quy phạm pháp luật mới, điều chỉnh vấn đề này đòi hỏi phải có thời gian. Mặt khác, rất nhiều sự kiện xảy ra đột xuất, nhất thời nên cũng chưa hẳn đã cần đến các quy phạm pháp luật mới. Giải pháp cho những tình huống này là áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật tương tự phải rất hạn chế, chỉ khi thật sự cần thiết mới nên áp dụng. Việc áp dụng pháp luật tương tự phải xuất phát từ lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của công dân, đồng thời phải đảm bảo những yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Không được tùy tiện áp dụng nguyên tắc tương tự.
  17. 1.2. Khái niệm, đặc điểm và quy trình áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân 1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân Theo pháp luật hiện hành thì xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng riêng có của Tòa án nhân dân. Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là hoạt động trung tâm và chủ yếu của hoạt động tư pháp. áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án là một nội dung cụ thể, đặc biệt và quan trọng của hình thức áp dụng pháp luật nói chung. áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân hiện nay là việc thực hiện pháp luật của Thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án để ban hành các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phán xét, phân xử đúng, sai, xác định tính có căn cứ hay không có căn cứ, có hợp pháp hay không hợp pháp đối với các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Xét xử là chức năng đặc biệt của Tòa án, "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [20, tr. 3]. Có thể thấy rằng, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất được giao quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính nên hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân chính là hoạt động áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực giải quyết vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính. Khi giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất, hội đồng xét xử có quyền và nghĩa vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án và tiến hành xét xử, đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ đối với việc yêu cầu của đương sự có căn cứ pháp lý hay không? Ai là người có quyền sử dụng đất đó? Có quyền lựa chọn các văn bản, quy phạm pháp luật phù hợp, chính xác và ban hành các bản án, quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể pháp luật hoặc buộc các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
  18. Trong đời sống xã hội, tranh chấp quyền sử dụng đất phát sinh giữa các chủ thể quan hệ pháp luật (gọi chung là các đương sự) bởi do đất đai là tài sản có giá trị lớn đối với các bên đương sự, việc tranh chấp thắng hay thua có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế và hoạt động kinh doanh của họ. Trong quá trình tranh chấp luôn tồn tại một hoặc tất cả các bên đương sự không thực hiện theo các quy định của pháp luật. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng tựu trung lại có các nguyên nhân chính sau: - Khi các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách thức giải quyết tranh chấp phát sinh, một bên hoặc các bên đương sự không muốn thực hiện đúng các quy phạm pháp luật. - Khi tranh chấp quyền sử dụng đất, không phải đương sự nào cũng biết hoặc cũng hiểu được các quy phạm pháp luật của Bộ luật dân sự, Luật đất đai cũng như các hướng dẫn thi hành Luật đất đai, vì vậy họ hành xử một cách tự nhiên, bột phát theo thói quen cuộc sống đời thường. Đây là tình trạng phổ biến nhất đối với các loại quan hệ pháp luật dân sự nói chung cũng như quan hệ pháp luật về đất đai nói riêng. Bên cạnh đó, hệ thống quy phạm pháp luật dân sự về giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất có số lượng lớn, quy định lại chung chung, không rõ ràng nên cần có nhiều văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ; Thông tư liên ngành; Nghị quyết của hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành. - Khi các tranh chấp quyền sử dụng đất xảy ra, nếu các đương sự không tự giải quyết được thì họ có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sau khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự mà pháp luật tố tụng dân sự quy định như thẩm tra, xác minh các tình tiết liên quan đến vụ án; lựa chọn quy phạm pháp luật điều chỉnh để giải quyết vụ án và cuối cùng là ra bản án, quyết định buộc các đương sự thi hành bằng các hình thức tự nguyện thi hành hoặc có sự cưỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự. áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất, ngoài cơ quan Tòa án còn có sự tham gia của cơ quan Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án
  19. dân sự cùng giữ vai trò là chủ thể của hoạt động áp dụng pháp luật. Nếu thiếu sự tham gia của các chủ thể này thì có thể sẽ dẫn tới việc áp dụng pháp luật không chính xác, khách quan và triệt để. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân luôn là chủ thể chủ yếu trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Qua sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân là hình thức thực hiện pháp luật mang tính tổ chức, tính quyền lực của Nhà nước được thực hiện thông qua Hội đồng xét xử, do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chủ trì nhằm xác định sự thật khách quan, phân xử đúng, sai, xác định tính có căn cứ hay không có căn cứ để ban hành các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự góp phần ổn định trật tự xã hội và củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân. áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân và tổ chức, góp phần to lớn vào việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân. 1.2.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân là sự biểu hiện cụ thể của việc áp dụng pháp luật dân sự và pháp Luật đất đai nói chung. Vì vậy, nó mang đầy đủ các đặc điểm của áp dụng pháp luật (đã trình bày cụ thể ở mục 1.1.2.). Tuy nhiên, với tính chất phong phú đa dạng của các quan hệ pháp luật dân sự về đất đai cùng với những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất do pháp luật tố tụng dân sự quy định thì áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
  20. - ở giai đoạn đầu tiên của quy trình áp dụng pháp luật là tiến hành thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự và tiến hành một số hoạt động tố tụng khác để làm rõ các tình tiết liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất. Tòa án nhân dân là chủ thể chủ yếu của hoạt động này. Hoạt động đối chất, xem xét, thẩm định tại chỗ, ủy thác thu thập chứng cứ là nhiệm vụ của Tòa án chứ không phải của các cơ quan điều tra như trong tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành một số hoạt động tố tụng theo một trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nói chung và trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án. Sự khác nhau giữa hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự và hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong tố tụng dân sự, không chỉ đơn thuần ở chủ thể của hoạt động mà còn thể hiện ở nhiệm vụ điều tra. Nếu như trong tố tụng hình sự, việc chứng minh tội phạm là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, thì trong tố tụng dân sự nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là thuộc về đương sự. Xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của các đương sự cũng như tính chất, đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, khi Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thì Tòa án nhân dân đã có hồ sơ về vụ tranh chấp quyền sử dụng đất đó. Khi khởi kiện, bên nguyên đơn và bên bị đơn đều phải có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ liên quan và tự chứng minh yêu cầu của mình. Trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện thì Tòa án nhân dân cũng yêu cầu các chủ thể này cung cấp những tài liệu, chứng cứ cần thiết và Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập những chứng cứ trong trường hợp cần thiết do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong nhiều trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ, nhất là các chứng cứ có liên quan đến việc quản lý hồ sơ của các cơ quan nhà nước thì Tòa án phải làm thay họ. Việc quy định nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất như trên là cơ sở để Tòa án nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ tố tụng của mình, mặt khác tạo điều kiện cho những người tham gia tố

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản