
LUẬN VĂN:
kinh tế chính trị Mác Lênin

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế xã hội nói chung và nền kinh tế tư bản nói riêng, không phải
lúc nào cũng tiến hành một cách trôi chảy. Giữa các ngành mà trong quá trình cạnh
tranh khốc liệt với nhau thì trong phạm vi xã hội làm sao đảm bảo được sự cân bằng.
Trong những điều kiện như vậy tỉ lệ chỉ có thể hình thành lên một cách tự phát, qua
việc chuyển từ ngành nọ sang ngành kia theo tỷ suất lợi nhuận cho lên hiện tượng tỉ
lệ giữa các ngành chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên, tạm thời. Còn mất tỉ lệ mới là hiện
tượng thường xuyên, mới là quy tắc chung của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong
đời sống thực tế của xã hội tư bản, những hiện tượng mất tỷ lệ: khi thì sản phẩm này
ứ đọng, không bán chạy; khi sản phẩm kia khan hiếm; khi xí nghiệp này đóng cửa vì
thiếu nguyên liệu; khi xí nghiệp kia phá sản vì sản xuất quá nhiều…
Không phải tái sản xuất tư bản chủ nghĩa vấp phải những hiện tượng mất cân
đối cục bộ, thường xuyên xảy ra như trên mà cứ khoảng trên dưới 10 năm. Giống
như có một sức mạnh nào xui khiến toàn bộ sản xuất tư bản chủ nghĩa lại bỗng nhiên
dừng lại: hiệu buôn phá sản, ngân hàng vỡ nợ, nhà máy đóng cửa, sản xuất thụt lùi…
sản xuất hàng hoá quá thừa, hiện tượng đổ vỡ này gọi là khủng hoảng kinh tế.
Bài viết của em được chia ra làm 5 phần chính: khủng hoảng kinh tế chu kì là
điều tất yếu gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nguyên nhân, hậu quả, cách khắc
phục và thực tiễn ở Việt Nam. Với hiểu biết còn hạn hẹp, chưa tìm hiều sâu về kinh
tế chính trị Mác Lênin

I) Trong CNTB khủng hoảng kinh tế chu kì là điều tất yếu gây ra những
hậu quả nghiêm trọng:
Khủng hoảng kinh tế là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng kinh tế mất ổn
định kéo dài mà không điều chỉnh được của quá trình tái sản xuất trong nền kinh tế
gây ra những trấn động và hậu quả kinh tế xã hội trong quy mô rộng hoặc hẹp.
Khủng hoảng kinh tế diễn ra trong mọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội trong
tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất
Khủng hoảng kinh tế chu kỳ gồm có 4 giai đoạn
Khủng hoảng: đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ kinh tế. Xuất hiện
trước hết là khủng hoảng tiêu thụ, dự trữ hàng hoá trong kho của các xí nghiệp tăng
lên, giá cả hàng hoá giảm xuống do cung lớn hơn cầu có khả năng thanh toán cuộc
cạnh tranh để tiêu thụ hàng hoá trở lên gay gắt, các nhà tư bản buộc phải thu hẹp,
thậm chí đình chỉ sản xuất. Do các xí nghiệp không có khả năng thanh toán các
khoản nợ, tâm lý hoảng loạn, việc rút tiền khỏi ngân hàng, bán các cổ phiếu, trái
phiếu làm giá trị thị trường giảm mạnh. Tín dụng thương mại và ngân hàng bị thu
hẹp trong khi nhu cầu tín dụng tăng lên làm cho tỷ xuất lợi tức tăng lên rất cao.
Khủng hoảng công nghiệp và thương nghiệp đưa đến cả khủng hoảng tiền tệ tín
dụng. Khủng hoảng đã phá huỷ nghiêm trọng lực lượng sản xuất, người lao động
thất nghiệp đông đảo, đời sống hết sức khó khăn. Nghiêm trọng hơn đó lại là điều
kiện để nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân. Do đó công nhân buộc phải chấp
nhận những điều kiện lao động nặng nhọc, hoặc tiền lương thấp. Trong khi đó cường
độ lao động lại tăng.
Tiêu điều: là giai đoạn tiếp sau khủng hoảng. Đặc điểm của giai đoạn
này, sản xuất không tiếp tục giảm sút nữa nhưng cũng không tăng lên, nền sản xuất ở
trạng thái trì trệ. Để thoát khỏi tình trạng này, các nhà tư bản tìm cách tăng cường
bóc lột lao động bằng cách hạ thấp tiền lương, tăng cường độ và thời gian lao động,
để giảm chi phí sản xuất và đổi mới tư bản cố định, cải tiến kỹ thuật. Việc đổi mới tư

bản cố định đã làm tăng về nhu cầu tư liệu sản xuất làm cho kinh tế dần dần thoát
khỏi trạng thái khủng hoảng có bước chuyển biến khỏi trạng thái trì trệ, chuyển sang
giai đoạn phục hồi.
Phục hồi: là giai đoạn tiếp nối với giai đoạn tiêu điều. Từ tiêu điều chuyển
sang phục hồi và bắt đầu mở rộng sản xuất nhờ đổi mới tư bản cố định. Sản xuất
được mở rộng đạt mức trước khủng hoảng. Số người làm việc tăng lên, giá cả hàng
hoá cũng tăng lên, lợi nhuận thu được cũng tăng, nền kinh tế bước sang giai đoạn
mới, giai đoạn hưng thịnh.
Hưng thịnh: là giai đoạn phát triển cao nhất của chu kỳ kinh tế. ở giai đoạn này
cung cầu về hàng hoá tăng lên, sản xuất mở rộng và phát triển vượt mức cao nhất
của chu kỳ trước. Thế là lại tạo điều kiện chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng mới,
bắt đầu và chín muồi.
II) Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế:
Trong phương thức trước chủ nghĩa tư bản vẫn thường xảy ra những biến động
trong đời sống kinh tế. Những biến động này là do thiên tai, dịch tễ, hoặc chiến tranh
gây lên làm cho sản xuất bị tàn phá, nhân dân bị đói là do thiếu thốn về sản phẩm.
Các nhà kinh tế học tư sản đã giải thích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh
tế là do mất cân đối “ngẫu nhiên” giữa các ngành sản xuất hoặc do tiêu dùng “tạm
thời” không theo kịp sản xuất. Dựa trên kết luận vu vơ ấy họ bày ra trăm phương
nghìn kế “cứu chữa” cho chủ nghĩa tư bản thoát khỏi cái tai hoạ ghê gớm. Nào là
thực hiện “kinh tế chỉ huy”, nào là “công quỹ đặc biệt” cho hàng hoá xuất khẩu, nào
là đi xâm chiếm thị trường nước ngoài, hàng hoá bán chịu…
Mặc dù có thay đổi phương thuốc chủ nghĩa tư bản, từ hơn một thế kỷ nay, nó
vẫn cứ định kỳ, không những không thuyên giảm mà ngày một trầm trọng thêm lên.
Từ 1925 là năm nổ ra cuộc khủng hoảng sản xuất thừa đầu tiên trong lịch sử của chủ
nghĩa tư bản cho đến nay. It nhất chủ nghĩa tư bản trải qua 16 lần khủng hoảng.

Những cuộc khủng hoảng này bao trùm toàn bộ thế giới tư bản hoặc xảy ra ở một số
nước tư bản.
ở Anh năm 1925 nổ ra cuộc khủng hoảng có tính chất toàn quốc đầu tiên thì
11năm sau tức là năm 1936 nổ ra cuộc khủng hoảng thứ hai. Năm1947-1948 nổ ra
cuộc khủng hoảng thứ ba. Về cơ bản là khủng hoảng thế giới đầu tiên trong nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa. Năm 1957 nổ ra cuộc khủng hoảng thứ 4 bao trùm các nước chủ
yếu của lục địa Châu Âu có cả Anh và Châu Mĩ. Các cuộc khủng hoảng tiếp sau là:
1866, 1873, 1882, 1890, 1920-1921, 1929-1933: là thảm hoạ của chủ nghĩa tư bản,
1957,1948-1949…liên tiếp nổ ra ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Khủng hoảng kinh tế là hiện tượng riêng chủ nghĩa tư bản mới có và đã là cố tật
thì không thể nào cứu chữa được thì nguyên nhân không thể đi tìm ở những nhân tố
bên ngoài, ngẫu nhiên. Nguyên nhân của nó chỉ có thể là mâu thuẫn đối kháng mà
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay từ khi ra đời vốn đã mang trong lòng nó.
Trước hết phaỉ kể đến mâu thuẫn giữa tính tổ chức của sản xuất ở trong từng xí
nghiệp riêng rẽ và tình trạng vô chính phủ của sản xuất trong phạm vi toàn xã hội.
Mâu thuẫn này tạo ra tình trạng vô chính phủ cực kỳ nghiêm trọng, mọi người đều
biết không chỉ riêng chủ nghĩa tư bản mới có tình trạng sản xuất vô chính phủ. Bất cứ
hàng hoá nào dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đều có chung đặc
điểm này. Ơ đây người sản xuất đều sản xuất theo ý mình không ai biết thị trường
cần đến loại hàng hoá nào và cần bao nhiêu. Chỉ đến khi mang ra thị truờng thì số
phận của hàng hoá mới được định đoat, hàng hoá có thể bán được hoặc không bán
được, nếu nó không đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Như vậy tình trạng vô chính
phủ của sản xuất hàng hoá đã ấp ủ sẵn khả năng khủng hoảng. Vì vậy, những gián
đoạn về tiêu thụ do tình trạng vô chính phủ của sản xuất hàng hoá gây ra chưa thể
dẫn tới một sự đổ vỡ bao trùm toàn bộ nền sản xuất. Tình thế luôn luôn bị đảo lộn.
Tình trạng mất cân đối giữa các ngành sản xuất với tiêu dùng. Mâu thuẫn giữa sản
xuất và tiêu dùng sản sinh ra từ bản chất của chủ nghĩa tư bản.

