intTypePromotion=3

LUẬN VĂN:Quản lý rác thải ở khu đô thị Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Nguyenn Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

0
279
lượt xem
81
download

LUẬN VĂN:Quản lý rác thải ở khu đô thị Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm vừa qua, vấn đề nổi cộm trên thế giới là vấn đề môi trường, đã được nhân loại thấy rõ tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của nó đối với sự phát triển của con người. Môi trường có sự ảnh hưởng rất lớn cùng với sự phát triển của xã hội thì quá trình đô thị hoá ngày càng cao, sự phát triển của các khu công nghiệp, mức sống dân cư tăng lên khéo theo tình trạng môi trường xuống cấp nghiêm trọng, tại các khu công nghiệp khu đô thị thì...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN:Quản lý rác thải ở khu đô thị Thực trạng và giải pháp

  1. LUẬN VĂN: Quản lý rác thải ở khu đô thị Thực trạng và giải pháp
  2. Lời nói đầu Trong những năm vừa qua, vấn đề nổi cộm trên thế giới là vấn đề môi trường, đã được nhân loại thấy rõ tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của nó đối với sự phát triển của con người. Môi trường có sự ảnh hưởng rất lớn cùng với sự phát triển của xã hội thì quá trình đô thị hoá ngày càng cao, sự phát triển của các khu công nghiệp, mức sống dân cư tăng lên khéo theo tình trạng môi trường xuống cấp nghiêm trọng, tại các khu công nghiệp khu đô thị thì môi trường đang ảnh hưởng rất lớn tới sự sống của con người. Mặt khác sự gia tăng dân số nhanh nảy sinh nhiều vấn đề, công ăn việc làm, mức sống đời sống sinh hoạt của nhân dân từ các vấn đề đó thì lượng rác thải ngày càng tăng, tăng theo tỷ lệ thuận với sự gia tăng dân số của con người. Con người với nhu cầu ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng cuộc sống tăng nhiều nhu cầu tăng dẫn đến lượng rác phát sinh tăng dẫn đến ô nhiễn môi trường nặng ơ nhiều khu vực đặc biệt là các khu đô thị và các khu công nghiệp. Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến nhu cầu sử dụng cầu nguồn tài nguyên thiên nhiên tăng lên, khai thác một cách bừa bãi phá hoại môi trường sinh thái, phá rừng đầu nguồn dẫn đến lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi, khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức giới hạn làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ô nhiễm môi trường trên khắp thế giới. Việt Nam, vấn đề môi trường đang đứng trước những thách thức, sự chuyến biến nền kinh tế, từ nền kinh tế tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường nảy sinh nhiều vấn đ ề môi trường, quá trình đô thị hoá tăng nhanh dân số tang nhanh lượng rác thải tăng nhanh khối lượng ngày càng tăng gây ô nhiễm môi trường đất không khí, nước…. ảnh hưởng tới đời sống con người. Chính vì vậy mà việc thu gom vận chuyển và quản lý có một vai trò rất quan trọng trong việc quản lý môi trường trong việc làm sạch môi trương, trong sự phát triển nền kinh tế sự phát triển của con người . Nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Là một sinh viên khoa môi trường em xác định cho mình một nhiệm vụ làm sao để bảo vệ môi trường. Do đó Em chọn đề tài: “Quản lý rác thải ở khu đô thị Thực trạng và giải pháp” (Địa điểm là Công ty môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh)
  3. Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý môi trường và quản lý rác thải. I. Quản lý môi trường. 1. Khái niệm môi trường: Môi trường đang là vấn đề cấp bách của thời đại, là thách thức gay gắt đối với tương lai phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, Vậy môi trường là gì? Môi trường là một khái niệm rộng và được định nghĩa theo các cách tiếp cận khác nhau: •Theo tuyên ngôn của Unesco năm 1981 thì môi trường được định nghĩa là: “Môi trường được hiểu là toàn bộ hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh minh. Trong đó con người sống bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc tài nguyên nhận tạo nhằm thoả mãn nhu cầu của mình”. •Theo báo cáo toàn cầu năm 2000 công bố n ăm 1982 đã nêu ra định nghĩa môi trường nh ư sau: “Theo tự nghĩa môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh con ngườ. Mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa cá thể con người với môi trường bị xoá nạht đi”. • Theo luật môi trường Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và tự nhiên”. 2. Khái niệm quản lý môi trường. Trong các cách tiếp cận về môi trường như trên thì môi trường có quan hệ mật thiết va gắn bó với sự tồn tại và phát triển của con người. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người đã tác động vào hệ thống môi trường, tác động sự cân bằng vốn có của nó. Điều này đã làn cho hệ thống môi trường mất đi sự cân bằng, và có những tác động ngược trở lại đối với con người. Vậy để cho hệ thống môi trường trở lại hệ thống cân bằng con người phải tác động vào hệ thống theo chiều hướng tích cực vào hệ thống môi trườn. Do đó chúng ta phải quản lý môi trường. Vậy “Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đ ồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ
  4. thống môi trường và khách thể quản lý môi trường sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng cơ hội nhằn đạt được mục tiêu quản lý môi tr ường đã đề ra sao cho phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành. 3. Mục tiêu quản lý môi trường. Mục tiêu chung lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhăm góp phần tạo lập sự phát triển bền vững. Uỷ ban Quốc tế về môi trường và phát triển đã định nghĩa phát triển bền vững là cách pháp triển: “ Thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai sau”. Con đường đi đến phát triển bền vững không giống nhau đối với mỗi quốc gia. Phát triển bền vững có thể được xem là tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của cả bốn lĩnh vực: Kinh tế, Môi trường, Xã hội và kỹ thuật với những mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực. Giữa bốn lĩnh vực này có mối quản hệ tương tác rất chặt chẽ với nhau và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác. 4. Nội dung của quản lý môi trường. Theo điều 37 Luật bảo vệ môi trường có quy định việc quản lý môi trường như sau: *Ban hành và tổ chức và thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vên môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường *Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường kế hoạch phòng chống khác phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trướng, sự cố môi trường. *Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường. *Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, địng kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường. *Thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh. *Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
  5. *Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường: giả i quyết các tranh chấp, khiếu lại tố cáo về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm phát luật về bảo vệ môi trường. *Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường: Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường. *Tổ chức nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. *Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường II. Rác thải và quản lý rác thải. A. Rác thải. 1. Khái niệm rác thải: Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người, một bộ phận vật liệu không có hoặc không còn giá trị sử dụng nữa gọi chung là chất thải. Người ta phân biệt chất thảitừ nguồn gốc tạo ra nó, đó là chất thải công nghiệp, nông nghiệ, dịch vụ. Chất thải từ quá trình sinh hoạt của con ngườigọi là rác thải, nhiều trường hợp chất thải dịch vụ cũng là rác thải. Cũng có thể hiểu, rác thải chính là chất rắn: Chất rắn là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người và động vật tạo ra. Những “ản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có ích do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người. Chất thải rắn có thể ở dạng thành phần hoặc bán thành phẩm được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và tiêu dùng. 2.Nguồn, phân loại và thành phần rác thải: 2.1. Nguồn rác thải: Có rất nhiều nguồn tạo ra rác thải, và thường liên quan đến việc sử dụng đất và vùng. Các nguồn này bao gồm: -Khu dân cư -Thành phố -Khu đất trống -Khu làn nông nghiệp
  6. -Khu thương mại -Khu công nghiệp -Các nhà máy chế biến 2.2. Phân loại rác thải: Có rất nhiều cách phân loại rác thải. Tuỳ thuộc vào từng nguồn tạo ra rác thải khác nhau mà có các loại rác thải khác nhau, có đặc trưng của từng thành phần của từng loại rác thải. Trong mỗi một nguồn tạo ra rác thải có thể có nhiều loại rác thải cùng tồn tại, tuy nhiên thành phần của các loại rác thải này phụ thuộc vào nguồn tạo ra nó. *Theo cách phân loại thông thường, ta có thể phân loại thành các loại sau. -Rác thực phẩm: Rác thực phâm bao gồn phần thừa thãi, không sử dụng và được sinh ra trong khâu chuẩn bị và sau khâu tiêu dùng. Đặc điểm quan trọng của loại rác thải này là dễ thối rữa nhanh phân huỷ trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, trong quá trình phân huỷ thường gây ra mùi khó chịu. -Rác bỏ đi: gồm các chất thải cháy nh ư: giấy bìa, plastic, vải, cao su, da, gỗ, …Và các chất không cháy như thuỷ tinh và vỏ hộp kim loại…chúng được sinh ra từ các hộ gia đình, công sở, nhà hàng nhà máy xí nghiệp. -Tro xỉ: là những chất còn lại trong quá trình đốt củi, rơm rạm than lá cây.., ở các gia đình, công sở nhà máy… -Rác xây dựng, sửa chữa: bao gồm rác từ các nhà đổ vỡ, hư hỏng và xây mới, các loại vật liệu không sử dụng nữa trong quá trình xây dựng và quá trình đào móng… -Rác đặc biệt: bao gồm rác thải quét phố,rác từ các thùng rác công cộng, xác động vật, vôi gạch đổ nát ..ở nơi công cộng. -Rác từ các nhà máy xử lý: nh ư rác từ hệ thống xử lý nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp. -Rác thải trong nông nghiệ: bao gồm vật chất từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trong nông nghiệp, trong chăn nuôi như thuốc trừ sâu, phân động vật….
  7. -Rác thải y tế trong quá trình điều trị bệnh nhân bệnh viện thải ra một phầm lớn chất thải nguy hiểngây ô nhiễn môi trường nặng và còn nguy hiển cho môi trường và cho con người. -Rác thải nguy hiển: Chất thải hoá chất, sinh học, dễ nổ, dễ cháy hoặc mang tính phóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con người, động thực vật. Những chất thải nguy hiển thường tồn tại ở ba dạng rắn lỏng khí việc thu gom và xử lý chúng là rất khó khăn cần có các biện pháp thích hợp đảm bảo an toàn hạn chế những rủi ro có thể xảy ra một cách thấp nhất. 2.3. Thành phần và tính chất của rác thải: Tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển của từng vùng, tùng địa phương mỗi quốc gia, mỗi khu vực mà có thành phần rác thaỉ khác nhau. Thành phần rác thải ở các nước đang phát triển và các nước phất triển là rát khác nhau. Tại các nước phát triển thì các thành phần như: Thuỷ tinh, kim loại nhựa thường thấp hơn ở các nước đang phát triển. ậnước ta thành phần rác thải có đặc trưng cảu các nước đang phát triển. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… lượng rác thải ngày một ra tăng trong những năm gần đây. Vì vậy công tác quản lý rác thải là một tất yếu phải phát triển theo. Quản lý rác thải là một công việc chính trong công tác quản lý môi trườngở các thành phố, các khu đô thị hoá, khu phát triển… Do đó, xác định thành phần rác thải sẽ giúp ích rất nhiều cho quản lý rác thải. Thành phần rác thải của Bắc Ninh được thể hiện trong bảng sau: Thành phần Khoảng(% khối lượng) Điển hình (% khối lượng) Rác thực phẩm 6-26 15
  8. Giấy 25-45 40 Bìa 3-15 4 Nhựa 2-8 3 Vải 0-6 2 Cao su 0-2 0.5 Da 0-2 0.5 Que củi 0-20 12 Gỗ 1-4 2 Thuỷ tinh 4-16 8 Vỏ hộp thiếc 2-8 2 0-1 1 Kim loại ngoài sắt Bụi tro gạch 1-10 4 Tổng 100 B. Quản lý rác thải: Trong hoạt động phát triển sản xuất, hoạt động sinh hoạt và các hoạt động tự nhiên khác trong hoạt động sống của con người tạo ra rác thải nó là nguyên nhận gây ra biến động môi
  9. trường. Rác thải đã ảnh hưởng rất lớntới môi trường nó tạo ra những tác động tiêu cực tới môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ con người của cộng đồng, tới nền kinh tế. Do vậy, cần phải quản lý, kiển soát được lượng rác thải từ đó có biện pháp phù hợp với từng điều kiện cụ thể ở từng địa điểm thời điểm phù hợp. Nhằn khác phục những tác động tiêu cực cảu rác thải, ngăn chặn những ảnh hưởng xấu của rác thải bằng những chi phí phù hợp. Tạo điều kiện vừa pháp triển kinh tế vừa đảm bảo sức khoẻ cộng đồng tạo đà đưa đất nước phát triển theo sự phát triển bền vững. Để thực hiện tốt công tác quản lý rác thải cần phân ra các công đoạn, hiểu được đặc trưng, đặc tính của từng công đoạn này, kết hợo việc hoàn thành tốt toàn bộ hệ thống đó nhằn tạo những kết quả tốt nhất. Việc quản lý thường được thực hiện theo các công đoạn chính nh ư sau. Mô hình quản lý rác : Chôn lấp Thu gom Vận Xử lý Trác ế ái ch chuyển rác Thiêu đốt 1. Công tác thu gom rác thải Việc quản lý rác bắt đầu từ lưu giữ tại nguồn: yếu tố chủ yếu trong việc phân loại các thiết bị lưu giữ là tính tương hợp của các thiết bị với nguồn phát sinh, tính nguy hại tối thiểu đối với sức khoẻ, tính sửa đổi đối với thu gom hiệu quả và chi phí. Khối lượng thu gom chất thải dựa vào dung lượng và tần xuất thu gon rác. Việc cung cấp các thiết bị lưu giữ rác trong các hộ gia đình ở các vùng đô thị trong các nước thường đắt và không thuận lợi. Quá trình thu gom rác bao gồm việc chuyển rác từ các nơi tập trung rác về đến bãi xử lý rác quá trình đó được tiến hành do các công nhân thực hiện tại các điểm tập kết rác được vận chuyển bằng xe cơ giới đến bãi rác và được xử lý. 2. Vận chuyển rác:
  10. Đây là một giai đoạn trong quá trình thu gom và xử lý, sau khi rác được các hộ gia đình tập trung lại công nhân môi trường thu lại chuyên trở bằng xe đẩy tay ra chỗ tập kết được xe chuyên dùng vận chuyển ra bãi thải và được xử lý. Tuỳ theo mức độ rác thải mà lượng vận chuyển nhiều hay ít. Vận chuyển rác được thực hiện bằng các loại xe từ 2.4-5 tấn thực hiện 3. Xử lý rác: Xử lý rác là công đoạn cuối cùng quả quá trình thu gom và xử lý khâu này đòi hỏi có một công nghệ để thực hiện xử lý. Hiện nay có nhiều phương pháp xử lý khác nhau: Chôn lấp là một phương pháp phổ biến nhất, mặt khác tu ỳ thuộc vào loại rác thải khác nhau mà có biện pháp khác nhau. 3.1. Chôn lấp: Điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện chôn lấp là có khu đất để thực hiện việc chôn lấp. •Chôn lấp giản đơn: Rác sau khi được vận chuyển vào bãi chôn lấp sẽ được phun hoá chất IM lên rác vừa đ ổ xuống bãi và sau đó rác vôi bột lên và được xe ủi đắp đất lên. •Chôn lấp hợp vệ sinh: Là phương pháp kiển soát phân huỷ chất thải trong đất bằng cách chôn nén chặt và phủ lấp bề mặt. Các chất thải bị phân huỷ tạo thành các chất lỏng và khí do vi khuẩn và hóa chất bao gồm:Nước, axít hữu cơ, cacbon đioxit, mêtan, nitơ, amoniac, sunfit sắt, mangan…..Các chất như cao su chất rẻo và túi nilon có độ kháng huỷ cao. Vì vậy, chôn nén và lấp đất hợp vệ sinhcần có sự kiểm tra độ nguy hại về môi trường bằng các biện pháp chuyên môn. Chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp tương đối rẻ có thẻ chấp nhận được về khía cạnh môi trường. Bởi vậy, tổ chức và hoạt động của các bãi chôn lấp có kiểm soát và thiết kế chuẩn mực thì công việc xử lý mới thực hiện tốt và đản bảo việc xử lý cuối cùng • ủ thành phân hữu cơ(compot) ủ là một quá trình trong đó các chất hữu cơ chuyển hóa thành các hợp chất hữu cơ khác do s ự tác động của vi khuẩn tạo thành phân có lợi cho cây trồng.
  11. Công đoạn thực hiện ủ phân compot được thực hiện: sau khi rác được phân loại một phần rác hữu cơ được giữ lại để chế tạo phân compot • ủ tạo khí ga là quá trình phân huỷ các chất hữu cơ thành các khí rễ cháy như mêtan, cacbon đioxit gọi là sinh khí sinh ra do quá trình hoạt đọng của vi khuẩn được thực hiện tại các hộ gia đình 3.2. Thiêu đốt: Là một phương pháp dùng năng lượng để phân huỷ rác thải.Là quá trình chất thải dễ cháy bị chuyển hoá thành cặn bã chứa các chất hầu như không cháy được và các chất khí phát tán vào khí quyển. Chất bã còn lại và khí thải ra thường được tiếp tục xử lý. Nhiệt phát sinh trong quá trình nàyđược thu hồi và sử dụng cho các mục đích khác nhau. Thiêu đốt không phải là một giải pháp quan trọng về kinh tế và phù hợp về kỹ thuật với các thành phố ở các nước đang phát triển, xét về khía cạnh giá trị calo thấp và nồng độ hơi nước cao trong chất thải. Trong nhiều trường hợp trong giai đoạn cuối của quá trình đốt cần nhiều nguyên liệu bổ sung. Hơn nữa, thiêu đốt là quá trình cần phải có vốn cũng như chi phí vận hành dễ vượt quá khả năng của hầu hết các thành phố ở các nước đang phát triển. Giá cả cao được chấp nhận ở các nước công nghiệp vì sẽ làm giảm bớt nhu cầu về mặt bằng đất đai và vì vậy sẽ bảo tồn đất đai ven đô tu ỳ theo thời gian vận chuyển chất thải hoặc chất cặn bã sau sử lý đến nơi chôn lấp xa hơn. Trong khi đó, việc giảm nhu cầu mặt bằng đất đai trong trường hợp dung lượng chất thải cao ở các nước đang phát triển thì không nhiều, không chắc gì các nước này sẽ tận dụng đất đai như ở các nước công nghiệp hoá để thiêu đốt các chất thải rắn. Hơn nữa nó sẽ dẫn đến vấn đề ô nhiễm không khí ở đô thị. Phương pháp này đòi hỏi chi phí rất lớn không phù hợp với các loại rác thải thông thường chỉ xử dụng cho các loại rác thải y tế và các thải độc hại không thể chôn lấp được. Phương pháp này thường áp dụng cho các nước có nền kinh tế phát triển và không phù hợp với nền kinh tế đang pháp triển. So sánh chi phí các phương pháp sử lý chất thải Tiêu chuẩn Huỷ chất thải lựa chọn
  12. ủ phân Hợp vệ Thiêu sinh đốt Chi phí vốn liên quan 1 1.5-5 3-5 Chi phí quản lý và vận hành liên quan 1 1.7 2.5-3 Nhu cầu đất liên quan 1 0.33 0.33 (Nguồn: số liệu Công ty Môi Trường) 3.3. Phương pháp tái chế: Là phương pháp sử dụng lại các chất có thể dủ dụng lại được thông qua tái chế Tất cả các chất thải rắn thải có thể được tái chế thì được tận thu chất thải này thường là kim loại, thuỷ tinh ... Tất cả các dạng sử lý và chôn lấp chất thải tạo ra các cơ hội để chiết và tái chế chất thải. Tái chế co thể được thực hiện tại nguồn phát sinh chất thải, tại điển thu gom và trên các xe thu gom rác và chuyên chở tại các trạm chuyển và các nơi chôn lấp cuối cùng. Các thành phần chất thải thường được thu nhặt có thể được dùng trong công nghiệp bao gồm giấy, kim loạithuỷ tinh cao su chất dẻo. ởơ các nước đang phát triển tình trạng quá nghèo dẫn đến khai thác các nguồn nguyên liệu nh ư than xỉ than vun vỏ dừa vỏ hộp kim loại chất thải thực vật và hầu hết và tất cả thứ giấy lộn linh tinh có giá trị khác nhau. Các công nghệ phân tích chi phí. Lợi ích của các giải pháp thu hồi tài nguyên từ chất thải rắn trình bày trong tài liệu tham khảo và CBA III. Một số mô hình quản lý rác thải ở nước ngoài và ơ việt nam 1. Mô hình quản lý nước ngoài 1.1. Mô hình quản lý của Nhật Bản •Thu gom vận chuyển: Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển mạnh có nền kinh tế cao về hạng nhất trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người cao mức sống cao do đó lượng rác thải cung khá là lớn. Việc thu gom được thực hiện kết hợp giữa dân c ư và các nhà quản lý,
  13. công tác thu gom được thục hiện theo các ngày quy định. Rác được phân loại ngay tại nguồn thành 3 loại cháy được không cháy được, rác có kích thước lớn. Rác thải được phân loại ngay tại nguồn (Tại TOKYO việc phân loại rác được tiến hành ngay tại các hộ gia đình mỗi nhà có 3 thùng rác, rác được đổ vào các túi nylon có màu khác nhau, tuỳ thuộc vào mầu túi mà được cho vào các thùng khác nhau. Trong 3 thùng rác có quy định thùng thứ nhất đựng túi màu trắng chứa vỏ chai, thuỷ tinh vỏ đồ hộp, sắt thép phê liệu, thùng thứ hai đựng túi màu xanh chứa những thứ có thể tái chế bao gói, bìa và giấy thùng thứ 3 đựng túi màu đen chứa các loại thức ăn hoa quả). Đối với rác có kích thước lớn thì khách hàng gọi điện thoại cho công ty dịch vụ sẽ thống nhất ngày giờ vận chuyển. Rác ở những nơi công cộng được thu vận chuyển thường xuyên, các cơ sở sản xuất dược thu gom vận chuyển theo những qui địng riêng. •Xử lý : Dựa vào thành phần, số lượng rác thải thu gom đã đ ược phân loại ngay từ quá trình thu gom. Một phần rác thải được tái sử dụng một phần được đem đi đốt ở các nhà đốt rác, nhiệt lượng phá ra được cung cấp cho các công trình công cộng như trường học bệnh viện một số lò đốt được sử dụng vào việc cung cấp điện . Để bảo vệ môi trường biển thì người ta khoanh tròn các khu vực đổ rác bằng các cọp thép sau đến tận đáy biển, có khả năng chống những trận động đất, bão thông thường. Sau khi đóng các cọc sắt thì dùng loại keo đặc biệt gắn kín các lỗ nhỏ để nước từ trong bãi rác không ro rỉ ra bên ngoài gât ô nhiễm. •Việc thu phí Tại Nhật Bản người dân không phải trả tiền đổ rác chỉ có các cửa hàng kinh doanh phải trả tiền. Riêng đối với các loại rác có kích thước lớn đối với mọi người dân đều phải trả tiền phí tính theo trọng lượng của rác thải. Còn các cơ sở sản xuất, các nhà máy khu công nghiệp tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm phải trả tiền phí khác nhau cho công tác bảo vệ môi trường. 1.2. Mô hình quản lý rá thải ở Singapo •Thu gom và vân chuyển: Singapo được coi là nước có chính sách môi trường tốt nhất, môi trường ở đây được xem là xanh và sạch nhất thế giới.
  14. Tại đây rác được thu gom ỏ các khu dân cư, nơi công sở đều được phân loại ngay trước khi đưa thải vào bãi thải. Rác được phân loại thành hai loại chính chất có thể tái chế và chất không thể tái chế. Đối với chất thải có thể tái chế sẽ được tập trung đ ưa vào nhà máy tái chế để thực hiện tái chế. Đối với chất thải không thể tái chế thì được thu gom vận chuyển tại các trạn trung chuyển rồi được đưa vào nhà máy xử lý rác thải hoặc có thể được chuyển trực tiếp vào nhà máy, tại nhà máy rác thải được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thiêu đốt. Việc vận chuyển được trang bị xe hiện đại hầu hết là xe trọng tải từ 5-7 tấn Nhà máy xử lý rác ở phía Tây trong khi đó rác thu gom chủ yếu ở khu dân cư khu thương mại phía Đông và phía Nam nên để tiết kiệm việc vận chuyển thì Sing apo xây dựng các trạm trung chuyển. Rác thu gom được chuyển bằng các máy ép vào các Container và đ ược xe tải chuyển đến các nhà máy xử lý. Thực hiện công việc thu gom vận chuyển rác thải gồm cả nhà nước và tư nhân tham gia, Cơ quan tổ chức thuộc bộ môi trường thực hiện thu gom ở các các công ty và hộ gia đình. Còn tư nhân thực hiện thu ở khu công nghiệp và thương mại. •Xử lý rác Công nghệ xử lý rác thải là công nghệ hiện đại chủ yếu là thiêu đốt năng lượng được sinh ra trong quá trình thiêu đốt dùng để phát điện . Hiện nay Singapo có 5 nhà máy thiêu huỷ rác trong khi đôt thì chất thải như khói, bụi được xử lý bằng hệ thống lọc khí trước khi thải vào trong không khí. •Việc thuphí: Trong công tác thu phí thì Singapo đã xử dụng khá sớm và có hiệu quả các công cụ kinh tế vào hoạch định chính sách môi trường. Công cụ kinh tế quan trọng nhất được sử dụng ở Singapo là hệ thống thuế nước thải thương mại. Hệ thống thuế nước thải của Singapo đánh vào các loại nước thải của tất cả các loại và tất cả các ngành công nghiệp và gồm các loại phí áp dụng cho các chấ oxy sinh hoá(BOD) và các chất rắn lơ lửng(TSS). Dựa vào nồng độ BOD và TSS người ta xác định các mức phí khác nhau. Khi nồng độ vượt quá tiêu chuẩn môt trường đã quy định người trả tiền phải trả thuế luỹ tiến. Điều đáng chú ý ở đây là mức phí như nhau được áp dụng trong tất cả các ngành công nghiệp và các xí nghiệp,
  15. không phân biệt xí nghiệp cú hay xí nghiệp mới. Mức phải trả thuế luỹ tiến đối với các chất BOD cà TSS phụ thuộc vào nồng độ của chúng trong nước giới hạn từ 401 – 1800mg/l. Mức cụ thể như sau: +Đối với BOD - Từ 401 đến 600mg/l là 0.08USD/m3 -Từ 1601 đến 1800mg/l là 0.59USD/m3 +Đối với TSS -Từ 401 đến 600mg/l là 0.07USD/m3 -Từ 1601 đến 1800mg/l là0.49USD/m3 Còn đối với các nồng độ BOD và TSS nằm giữa hai mức này thì lệ phí tăng lên 200mg/l một cấp 2. Mô hình quản lý rác thải ở Việt Nam 2.1. Mô hình quản lý rác thải ở Hà Nội Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, với nhiệm vụ chính là nghiên cứuđề xuất các giải pháp, ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm do tình hình đất nước phát triển do đó ô nhiễm Đô Thị ngày càng tăng do hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, các hoạt động kinh tế xã hội và hoạt động của dân cư gây ra. Công ty Môi trường đô thị là cơ quan chủ yếu chiu trách nhiệm quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị. Công ty Môi trường đô thị chịu trách nhiệm trực tiếp (theo ngành dọc) của sở giao thông công chính, ngoài ra còn liên quan trực tiếp với Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường. Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường chị chỉ đạo và quản lý trực tiếp của Uỷ ban nhân dân thành phố, thực hiện các chính sách do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đề ra . Sơ đồ: Bộ Khoa học Bộ xây Uỷ ban nhân Công nghệ và dựng dân thành phố Sở giao Sở khoa học
  16. Hà Nội việc thu gom được tiến hành theo các phương pháp sau: - Thu tại các bể chứa xây cố định, sau đó xe ô tô chuyên dùng đến vận chuyển đi. -Thu bằng xe đẩy tay gõ kẻng rồi đưa lên xe chuyên dùng lớn chở đi về bãi chôn lấp. - Thu bằng thùng rác Container đặt gần như cố định tại các điển dân cư rồi sau đó xe chở đi. - Thùng bằng xe ô tô chở rác có lắp đậy, kết hợp với xúc thủ công ở các điểm thông lệ nơi dân cư thường đổ, sau đó chở về nơi xử lý. •Xử lý rác thải: Việc xử rác tại Hà Nội chủ yếu thực hiện theo các phương pháp chôn lấp và ủ lên men. - Chôn lấp rác thải được thực hiện ở các bãi đất trống hoặc hồ cạn ở ngoại vi thành phố. Hiện tại rác thải của thành phố Hà Nội chủ yếu được vận chuyển vào bãi rác ở Sóc Sơn - ủ lên mem và thổi khí cương bức tại nhà máy phân rác Cầu Diễn. Nhà máy sử dụng công nghệ ủ khí hiếm nhằm rút ngắn thời gian phân huỷ. •Thu Phí:
  17. Hiện nay ở Hà Nội việc thu phí được thực hiện bởi các cơ quan, thu phí của cơ quan, xí nghiệp, theo hợp đồng. Những thực trạng tồn tại là người dân thành toán phí này như là một loại phí không bắt buộc, đây là một nguyên nhân gây ra hiệu quả kém trong việc thu phí. Một số cơ quan, xí nghiệp vẫn không thực hiện đúng trong hợp đồng. Vì vậy, thu phí của người dân và của cơ quan, xí nghiệp phải được thực hiện cùng với trách nhiệm của thành phố: Nếu như nhân dân không đủ giàu để trả tiền thì chính phủ với trách nhiệm của mình phải cân đối phần thiếu hụt. Việc thu tiền các hợp đồng phải được thành phố ủng hộ bằng cách bắt buộc tất cả các xú nghiệp ký hợp đồng về quyền xử dụng rác và phạt nặng những trường hợp không tuân thủ. Ngoài ra, còn có một số nguồn thu khác như : bán phân huỷ,bán hàng hoá tái sinh, tiền cước bao bì cho các sản phẩm tái sinh hoặc sản phẩm độc hại…. 2.2. Mô hình quản lý rác thải ở thành phố Hồ Chí Minh: •Thu gom vận chuyển: Tại thành phố Hồ Chí Minh thì việc thu gom vận chuyển do cả tổ chức của nhà n ước và tư nhân thực hiện gồm có: Công ty dịch vụ công cộng thành phốthu gom khoảng 50% lượng rác thải hàng ngày. Các xí nghiệp công trình đô thị cấp quận, các đội vệ sinh công cộng, lực lượng dọn rác dân lập Tại thành phố rác thải của các hộ gia đình trong các hẻm, đường phốchủ yếu do lực lượng dân lập thực hiện, phương tiện chủ yếu là xe hai bán và xe ba gác. Xí nghiệp công trình đô thị cấp quận thu gom rác từ các hộ gia đình mặt tiền, các đường chính trên các diện tích quy ước, cơ quan trường học. Sau khi thu gom rác tại các khu dân cư thì tập kết lại tại các điểm quy định. Bộ trung chuyển là nơi các xe chở rác nhỏ đưa về từ các nơi tập kết sau đó đưa lên xe tài hay xe chuyên dùng. • Xử lý rác: Sau khi xe chuyên dùng chở rác từ các bộ trung chuyển về bãi rác lớn thì rác được xử lý bằng phương pháp chôn lấp là chủ yếu. Ngoài ra, một số rác thải còn được sử dụng làm ủ phân bón, phương pháp này chủ này do nhân dân tự làm.
  18. • Thu phí : Tại thành phố Hồ Chí Minh Chương 2 Thực trạng môi trường thị xã Bắc Ninh I. Tổng quan về điều kiện tự nhiên thị xã Bắc Ninh 1. Vị trí địa lý. Thị xã Bắc Ninh là thủ phủ của Tỉnh Bắc Ninh, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, kỹư thuật của tỉnh. Thị xã Bắc Ninh nằm trên toạ độ 105056’ - 106007’ kinh Đông, 20010’ vĩ độ Bắc, Cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía Nam. Quá trình đô thị hoá đã kiến các khu dân cư phát triển dọc theo quốc lộ 1 càng làm cho mối quan hệ qữa thị xã Bắc Ninh với thủ đô Hà Nội xích lại gần nhau hơn trong phát triển. Thị xã Bắc Ninh được giới hạn bởi: - Phía Bắc giáp với sông Cầu, bên kia sông là huyện Việt Yên - Bắc Giang. - Phía Nam giáp xã Văn Tương, Khắc Niệm, huyện Tiên Du. - Phía Đông giáp xã Kim Chân, huyện Quế Võ. - Phía Tây giáp xã Phúc Xuyên huyện Yên Phong. Thị xã Bắc Ninh là cửa ngõ phía Bắc của hủ đô Hà Nội nên nó có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, mặt khác thị xã Bắc Ninh còn có hàng loạt các tuyến đường quốc lộ chạy qua như tuyến đường sắt quốc gia, quốc lộ 1A , quốc lộ 18, quốc lộ 38... Chính vì thế thị xã đã trở thành đầu mối giao thông quan trọng của vùng tam giác kinh tế trọng điểm : Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Hiện tại, thị xã Bắc Ninh gồm có 6 phường nội thị là: Ninh xá, Tiền An, Thị Cầu, Đáp Cầu, Suối Hoa, và 4 xã ngoại thị bao gồm: Vũ Ninh, Đại Phúc Kinh Bắc, Võ Cường. Với tổng diện tích 2635 ha trong đó:1505ha là đất nông lâm nghiệp, 103ha là đất ao hồ, 710ha là đất chuyên dùng và chưa s ử dụng, đất ở chỉ chiếm 317ha. Diện tích bình quân trên đầu người của toàn thị xã vào khoảng 42,15m2/người. Khu vực nội thị có tổng diện tích khoảng 270ha. Diện tích bình quân trên đầu người đạt 24m2/người.
  19. Với vị trí địa lý khá thuận lợi như thế này thị xã Bắc Ninh sẽ có nhiều cơ hội để phát triển sánh ngang với các đô thị khác trong cả nước. 2.Điều kiện tự nhiên. 2.1. Địa hình khí hậu. Nhìn chung địa hình thị xã Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, chênh lệch địa hình không lớn lắm. Khu vực cao nằm ở phía Đông Bắc có địa hình trung du gồm nhiều đồi thấp cao từ 20 - 60m. Khu vực nằm ở phía Tây Nam có địa hình bằng phẳng chủ yếu là ruộng và ao hồ. Phía Tây Bắc cũng bao gồm nhiều núi nhỏ do giáp với Bắc Giang. Thị xã Bắc Ninh nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên chịu ảnh hưởng của khí hậu miền bắc: khí hậu á nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng ẩm, độ ẩm cao và được phân thành bốn mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng từ 23,4 - 2 9,50, lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Độ ẩm không khí hàng năm đạt 78%, hướng gió chủ đạo là hướng Đông Nam. 2.2. Chế độ thuỷ văn, địa chất. Dựa vào kết quả đo đạt và những nghiên cứu trước đây cho thấy, thị xã Bắc Ninh chịu ảnh hưởng của đất phù sa cổ nên đất ở đây rất mầu mỡ bởi sự bồi tụ của hai con sông: sông Hồng, Sông Cầu. Sông Cầu nằm ở phía Bắc Thị xã bắt nguồn từ vùng núi Tam Đảo của tỉnh Vĩnh Phúc cao >1200m, chảy qua chợ Đồn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, đ ến Phả Lại, với tổng chiều dài 288km. Đoạn sông Cầu chảy qua thị xã Bắc Ninh dài 5km, chiều rộng của sông vào mùa khô khoảng 70m- 90m và vào mùa mưa là 100m- 140m, lưu lượng nước là vào khoảng 51,5m3/s. Về thổ nhưỡng, do ảnh hưởng của đất phù sa cổ cho nên phía Bắc tương đối bằng phẳng dùng để sản xuất nông nghiệp, còn phía tây bắc giáp với Bắc Giang có nhiều đồi núi nhỏ thành phần đất ở đây chủ yếu là cuội kết, sạn kết, thạch anh. Các đỉnh đồi có dạng hình bát úp, không có hiện tượng sụt nún hay lở đất. 2.3. Điều kiện kinh tế xã hội 2.3.1. Dân số.
  20. Theo số liệu điều tra của Uỷ ban dân số KHHGD thị xã Bắc Ninh, dân cư thị xã năm 2003 là 85152 người. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1%, tăng dân số cơ học là 2,7%. Theo dự báo tỷ lệ tăng tự nhiên có thể giảm trong các năm tiếp theo. Tình hình dân cư và tốc dộ tăng dân số của tỉnh được thể hiện qua bảng dưới đây : Bảng1: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thị xã Bắc Ninh qua các năm. Năm 1997 1998 1999 2000 2003 1,23 1,11 0,92 1,0 0,95 Tỷ lệ tăng tự nhiên(%) (Nguồn: Uỷ ban dân số KHHGĐ th ị xã Bắc Ninh ) Với tổng diện tích 2635 ha, mật độ dân số của thị xã là 28,98 người/ ha. Mật độ này là không lớn so với các đô thị khác. Tuy nhiên, dân cư lại phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các khu vực đô thị, dọc các đường quốc lộ. Phường Tiền An có mật độ dân số cao nhất : 236người/ha. Bốn phường còn lại có mật độ dân số trung bình từ 80 - 90 người/ha. Dân số ngoại thị thì thưa thớt hơn chủ yếu tập trung ở các xóm làng. Có đến 68% dân số ngoại thị vẫn còm làm nông nghiệp. Thành phần dân số trung bình của thị xã chia theo các khu vực đô thị- nông thôn, giới tính nam - nữ được thể hiện trong bảng sau : Bảng 2 : Dân số năm 2000 của thị xã Bắc Ninh Tổng dân số Giới tính Khu vực Nam Nữ Thành thị Nông thôn 76370 39102 37268 39483 36887 (Nguồn: Uỷ ban dân số KHHGĐ th ị xã Bắc Ninh )
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản