intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:98

0
110
lượt xem
39
download

LUẬN VĂN: Quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ. Trình độ dân trí và tiềm lực khoa học - công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia. Trên thế giới giáo dục và đào tạo được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi Quốc gia. Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 4 thông qua ghi rõ “Giáo dục và đào tạo là quốc...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

  1. LUẬN VĂN: Quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
  2. mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ. Trình độ dân trí và tiềm lực khoa học - công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia. Trên thế giới giáo dục và đào tạo được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi Quốc gia. Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 4 thông qua ghi rõ “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đất nước”, và nhấn mạnh “tăng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo”, “tăng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo”. Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2020 cũng ghi rõ: "... Xây dựng một nền giáo dục - đào tạo chất lượng cao đạt chuẩn khu vực và Quốc tế”. Đại Học Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định 32/CP ngày 04/04/1994 của Chính phủ và Quyết định 477/TTg ngày 5/9/1994 của Thủ tướng Chính phủ; được điều chỉnh theo Nghị định số 07/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ và Quyết định số 16/001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Sự ra đời của Đại học Đà Nẵng đánh dấu bước đổi mới quan trọng đối với quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung, ở Đà Nẵng nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với xu hướng phát triển đại học của các nước tiên tiến trên thế giới, xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học chất lượng cao của khu vực và cả nước. Để hoàn thành nhiệm vụ trọng đại đó, Đại Học Đà Nẵng phải phát huy tiềm năng của mình, trên cơ sở sự ưu tiên đầu tư của Nhà nước, trong đó hoàn thiện quản lý tài chính là bộ phận quan trọng. Với những điều kiện mới, nhiệm vụ mới, Đại học Đà Nẵng cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính để phối hợp cùng với các mảng công tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm góp phần nâng
  3. cao năng lực quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng. Vì vậy, đề tài: “Quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn này. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực quản lý tài chính trong các trường đại học, trên cả nước nói chung và khu vực miền Trung nói riêng. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau đây: - Ngân hàng Thế giới, nghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam, Hà Nội, (1996) - Nguyễn Duy Bắc (2002), “Phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần xã hội hoá”, Tạp chí lý luận Chính trị. - Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan (1999), Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Nguyễn Công Nghiệp (1996), Xây dựng quy trình lập kế hoạch và cơ chế điều hành ngân sách giáo dục - đào tạo, Bộ Tài chính. - Trần Thị Thu Hà (1993), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục Quốc dân, Luận án Phó tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. - Trần Xuân Hải (2000), Giải pháp vốn đầu tư phát triển sự nghiệp đào tạo trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. - Lê Phước Minh (2001), “Vấn đề thu chi trong giáo dục Đại học và một số ý kiến về tạo nguồn”, Tạp chí Giáo dục, (7). - Trần Văn Phong (2001), Nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trường Đại học công lập trong giai đoạn hiện nay, Luận án Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. - Phạm Văn Ngọc (2001), Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học quốc gia Hà Nội-Thực trạng và giải pháp, Luận án Thạc sĩ Kinh tế,Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
  4. - Nguyễn Duy Tạo (2000), Hoàn thiện quản lý tài chính các trường đào tạo công lập ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Các công trình trên tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và đã đề cập đến nhiều khía cạnh về đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trường đào tạo công lập. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về vấn đề quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn là thông qua phân tích thực trạng quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn tới. Phù hợp với mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý tài chính phục vụ giáo dục đào tạo, nhân tố tác động tới việc quản lý tài chính phục vụ giáo dục đào tạo, kinh nghiệm của một số nước trong việc quản lý tài chính phục vụ giáo dục đào tạo. - Đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Đại Học Đà Nẵng thời gian qua và nêu ra những tồn tại cần khắc phục, những điểm mạnh cần phát huy. - Luận chứng giải pháp nâng cao năng lực quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn tới.
  5. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng (đơn vị sự nghiệp có thu), các yếu tố quyết định năng lực quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng bao gồm yếu tố con người, quy chế quản lý và thiết bị hỗ trợ... Phạm vi nghiên cứu trong luận văn: - Về nội dung: Chủ yếu giới hạn ở các nội dung quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng. - Về không gian: Đối tượng khảo sát của luận văn là Đại học Đà Nẵng bao gồm 5 trường thành viên. - Về thời gian: Từ năm 2000 trở lại đây. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, bám sát điều kiện thực tế ở địa phương. Trong từng nội dung cụ thể, còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát tài liệu sẵn có kết hợp phương pháp nghiên cứu thực tiễn: (mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia tổng kết kinh nghiệm), qua đó xử lý số liệu: (dùng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu, các kết quả điều tra khảo sát) để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu. 6. Dự kiến đóng góp của luận văn - Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính trong đào tạo đại học. - Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề quản lý tài chính trong đào tạo đại học. - Nêu ra bức tranh khái quát về quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Đề xuất những giải pháp quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương, 7 tiết. Chương 1
  6. một số vấn đề chung về quản lý tài chính ở trường đại học công lập 1.1. Quản lý tài chính ở trường Đại học công lập 1.1.1. Khái niệm tài chính, nguồn tài chính và quản lý tài chính ở trường Đại học công lập 1.1.1.1. Khái niệm tài chính Tài chính không những tượng trưng cho các quan hệ - mặt bản chất bên trong mà còn tượng trưng cho các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ - Mặt biểu hiện bên ngoài “vỏ vật chất” của các quan hệ đó. Tài chính phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị (gọi tắt là các quan hệ phân phối). Là một bộ phận của các quan hệ phân phối của xã hội. Bản chất của tài chính - các quan hệ phân phối sản phẩm xã hội - chịu sự ràng buộc bởi bản chất của quan hệ sản xuất xã hội mà đặc trưng cơ bản là các quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất.Có nhiều khái niệm về tài chính,nhưng khái niệm về tài chính dưới đây cho phép chúng ta nhìn nhận đầy đủ,toàn diện về tài chính: Khái niệm tài chính: Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặ c sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội. Việc xác định đúng đắn quan niệm tài chính và bản chất tài chính có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó tạo cơ sở cho việc vận dụng các quan hệ tài chính tồn tại khách quan để quyết định chính xác các quyết định tài chính, đồng thời thông qua các chính sách tài chính để tổ chức các quan hệ tài chính nhằm sử dụng tài chính tác động tích cực tới các hoạt động và các hoạt động kinh tế - xã hội theo các phương hướng đã xác định. 1.1.1.2. Khái niệm nguồn tài chính Nguồn tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình. Nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng
  7. tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất. Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ). Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi chủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn tài chính nhất định là nắm trong tay một sức mua để có thể nắm được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định phục vụ cho mục đích tích lũy hay tiêu dùng của mình. Nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp đào tạo nói chung và đào tạo ở các trường đại học công lập nói riêng là đầu tư cơ bản, đầu tư cho sự nghiệp phát triển của con người - là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhà kinh tế học Hoa Kỳ Gray Backer đã khẳng định “Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực”. Đầu tư cho đào tạo là đầu tư “lợi ích tương lai”, hiệu quả không thấy ngay được, lợi ích của việc đầu tư cho sự nghiệp đào tạo có tác dụng như đầu tư cho phương tiện sản xuất, một loại phương tiện sản xuất tạo ra sản phẩm có tính chất vô hình, sản phẩm đó không thuộc loại tiêu dùng mà thuộc loại “tạo tiềm năng”. Hiệu quả của việc đầu tư cho sự nghiệp đào tạo được phát huy trên phạm vi toàn xã hội, đồng thời được xác định đầy đủ khi những sản phẩm của đào tạo đi vào cuộc sống và thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Có thể thấy quan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển sự nghiệp đào tạo (được minh hoạ theo Sơ đồ 1.1).
  8. Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển sự nghiệp đào tạo Đầu tư cho sự nghiệp Đào tạo Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Phát triển đào tạo Đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài 1.1.1.3. Khái niệm quản lý tài chính Quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý và có hiệu quả theo các mục đích đã định. Đồng thời quản lý tài chính cũng chính là thông qua các hoạt động kể trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội. Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng để Nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế đất nước, hình thành và đảm bảo các cân đối chủ yếu và tỷ lệ phát triển của nền kinh tế quốc dân. Quản lý tài chính thực chất là sử dụng và phát huy vai trò của hệ thống tài chính thông qua Nhà nước. Điều đó được thể hiện thông qua cơ chế hoạt động và vận động của tài chính phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước. Quản lý tài chính trong trường đại học: Quản lý tài chính trong trường đại học là quản lý việc thu-chi một cách có kế hoạch, tuân thủ các chế độ tài chính, đã quy định và tạo ra được hiệu quả chất lượng giáo dục. 1.1.2. Đặc điểm, yêu cầu quản lý tài chính ở trường đại học công lập
  9. 1.1.2.1. Đặc điểm Quản lý tài chính ở trường đại học công lập là quản lý hệ thống các nguyên tắc, các quy định, quy chế, chế độ của Nhà nước về tài chính, nguồn hình thành tài chính… mà hình thức biểu hiện là những văn bản pháp luật, pháp lệnh nghị định…Ngoài ra nó còn được thể hiện thông qua các quy chế, quy định của trường đại học đối với các hoạt động tài chính của trường đại học công lập. 1.1.2.2. Yêu cầu Các quy định về quản lý tài chính ở trường đại học công lập phải tuân thủ theo các văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan tới các hoạt động tài chính của trường, vì tài chính trong trường đại học công lập là sự vận động của đồng tiền để thực hiện mục tiêu phát triển, mục tiêu đào tạo và bản chất của việc đầu tư cho giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đào tạo đại học nói riêng là đầu tư cho phát triển, cho sự hoàn thiện nhân cách con người. Quản lý tài chính trong trường đại học công lập phải đáp ứng được các yêu cầu sau: - Nắm vững được các chế độ, chính sách hiện hành - Xác định được các khoản thu - Xác định các nguồn thu - Thanh quyết toán, báo cáo tài chính - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có nghiệp vụ về tài chính 1.1.3. Vai trò của quản lý tài chính đối với sự phát triển của các trường đại học công lập Trong điều kiện cơ chế thị trường, các trường đại học công lập có quyền tự chủ (tự trị) nhất định về huy động nguồn tài chính và quản lý các nguồn tài chính đó. Tài chính phục vụ cho giáo dục đào tạo ở các trường đại học công lập hiệu quả chủ yếu từ hai nguồn: Ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp và nguồn ngoài NSNN, trong đó nguồn NSNN có vai trò quan trọng nhất (minh hoạ trên Sơ đồ 1.2). Sơ đồ 1.2: Nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo Nguồn tài chính cho giáo dục - đào tạo Nguồn NSNN Nguồn ngoài NSNN
  10. Ngân sách nhà nước: (Điều 1 - Luật ngân sách): là toàn bộ các khoản thu-chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trong cơ chế thị trường, NSNN không còn là ngân sách của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhưng trong tất cả các nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp đào tạo thì nguồn NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất. NSNN với tư cách là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước có vị trí cực kỳ quan trọng, phân phối các nguồn tài chính, thể hiện mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. Quyền lực về NSNN thuộc về Nhà nước, mọi khoản thu-chi tài chính của Nhà nước đều do Nhà nước quyết định nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước. Bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm thực hiện các chức năng quản lý và điều hành kinh tế, xã hội của mình, trong đó có các khoản chi cho bộ máy quản lý của Nhà nước, cho giáo dục - đào tạo, y tế… Tất cả các khoản chi tiêu tài chính của Nhà n ước đều được đảm bảo từ thuế và các hình thức thu khác vào ngân sách. Trong nền kinh tế thị trường, NSNN không chỉ đơn thuần là quỹ tiền tệ tập trung để thoả mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, mà thực sự trở thành công cụ điều tiết vĩ mô
  11. quan trọng của Nhà nước trong quản lý kinh tế. Có thể nói đầu tư từ NSNN là yếu tố quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển sự nghiệp đào tạo, biểu hiện: Thứ nhất: Chi phát triển văn hoá - xã hội trong đó có sự nghiệp giáo dục - đào tạo là những nội dung cơ bản nhất của hoạt động chi ngân sách Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta coi trọng giáo dục - đào tạo là “Quốc sách hàng đầu”, tại điều 89 Luật Giáo dục nêu rõ: Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tỷ lệ ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. Hiện nay, nguồn đầu tư của NSNN vẫn chiếm ưu thế trong tổng chi cho sự nghiệp đào tạo. Do hệ thống trường công còn chiếm tỷ lệ lớn, phát triển các trường bán công, dân lập chưa nhiều, việc xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đa dạng hoá các loại hình trường, lớp chưa phổ biến, chưa có khả năng thu hút nguồn đầu tư khác cho sự nghiệp đào tạo. Song NSNN duy trì và phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo theo định hướng của Đảng và Nhà nước là chiến lược chung của Quốc gia. Đặc biệt chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo được ưu tiên hàng đầu, khoản chi này tương đối ổn định và chiếm tỷ trọng trong NSNN, gồm 4 nhóm: Nhóm 1: Chi cho con người: lương, phụ cấp lương, phúc lợi, BHXH, khoản chi này theo kế hoạch chiếm khoảng 38 - 43% song vẫn chưa đảm bảo cuộc sống cho cán bộ công nhân viên, vì vậy việc đầu tư cho giáo dục là phải có các chính sách ưu đãi đối với giáo viên là cần thiết. Nhóm 2: Chi quản lý hành chính bao gồm: công tác phí, công vụ phí (điện, nước, xăng xe, hội thảo, hội nghị…) khoản chi này thường chiếm khoảng 22%/Tổng chi thường xuyên. Nhóm 3: Chi giảng dạy, học tập: Bao gồm việc mua tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình, đồ dùng học tập, vật liệu, hoá chất thí nghiệm, phấn viết…Đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, chiếm khoảng 13 -14% / Tổng chi ngân sách. Nhóm 4: Chi mua sắm, sửa chữa: bao gồm chi cải tạo, sửa chữa, nâng cấp trường lớp, bàn ghế, trang thiết bị, cơ sở vật chất… phục vụ cho việc giảng dạy và học tập. Khoản chi này chiếm khoảng 20 -21% / Tổng chi ngân sách.
  12. ở mỗi giai đoạn khác nhau thì mức độ, nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo cũng có sự khác nhau. Thứ hai: đầu tư NSNN cho xây dựng cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và cũng là cơ sở để khuyến khích thu hút đầu tư từ các khâu, đơn vị, doanh nghiệp… Thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo”. Thứ ba: NSNN từng bước đảm bảo ổn định đời sống đội ngũ cán bộ giảng dạy, phục vụ giảng dạy thông qua thang, bậc lương, ngoài ra còn hưởng phụ cấp ưu đãi trong ngành giáo dục, với mức 30% cho cán bộ trực tiếp giảng dạy, 50% đối với giáo viên ở các trường sư phạm. Thứ tư: NSNN đảm bảo học bổng cho học sinh, sinh viên, ưu tiên đối với diện chính sách, đảm bảo kinh phí cho đào tạo cán bộ giảng dạy và quản lý. Thứ năm: NSNN có vai trò điều phối cơ cấu của mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống thông qua định mức chi ngân sách hàng năm giúp cho việc định hướng, sắp xếp cơ cấu mạng lưới các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, phát huy tiềm lực đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất trong việc tạo chất lượng cao và hiệu quả, phân biệt ngành nghề đào tạo theo khối lượng (y tế, tài chính, kinh tế, tổng hợp…) và tập trung ngân sách cho mục tiêu chương trình quốc gia như: xây dựng trung tâm đào tạo chất lượng cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. 1.1.3.2. Vai trò, vị trí của nguồn ngoài ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp đào tạo Nguồn thu ngoài ngân sách: bao gồm sự đóng góp của các tổ chức kinh tế – xã hội, vốn của nhà trường do hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất tạo ra, vốn do nguồn tài trợ của nước ngoài, vốn do sự đóng góp của các tổ chức cá nhân… Nguồn ngoài NSNN có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo: Thứ nhất: Tăng đầu tư, nâng cấp cơ sở đào tạo, cải thiện đời sống cán bộ giảng dạy, sinh viên… nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Thứ hai: Khai thác tiềm năng của các thành phần, tổ chức kinh tế đóng góp kinh phí cho sự nghiệp đào tạo khi NSNN còn hạn hẹp.
  13. Thứ ba: Phát huy tính năng động trong việc huy động các nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp đào tạo. 1.2. Nội dung quản lý tài chính trong các trường đại học công lập Quy trình quản lý tài chính trong các trường đại học công lập phục vụ giáo dục, đào tạo gồm 4 bước: Lập kế hoạch: Dựa vào quy mô đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Nhà nước, nắm đầy đủ số lượng biên chế, học sinh – sinh viên, cơ sở vật chất năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế hoạch cho trường. Dựa vào số liệu chi cho con người, quản lý hành chính, mua sắm, sửa chữa, nghiệp vụ chuyên môn, xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu... của năm báo cáo để làm cơ sở dự kiến năm kế hoạch cho trường. Điều hành thực hiện: Cấp phát kinh phí và thực hiện các khoản chi tiêu kịp thời theo kế hoạch, đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị, giám sát việc chi tiêu của các bộ phận, đảm bảo đúng chế độ, đúng mục đích và có hiệu quả. Quyết toán kinh phí: là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí, phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu. Trên cơ sở báo cáo quyết toán để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu cho công tác đào tạo và rút ra ưu, nhược điểm trong quá trình quản lý, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch của năm sau sát hơn. Kiểm tra: Trong quá trình thực hiện kế hoạch, không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến vì vậy đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên để nắm tình hình quản lý tài chính, nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư và kịp thời đưa ra những giải pháp điều chỉnh sai lệch, hạn chế rủi ro. 1.2.1. Mô hình quản lý tài chính ở các trường đại học công lập Trong bối cảnh thực hiện chiến lược giáo dục 2001 - 2010, việc quản lý tài chính của các trường đại học công lập đòi hỏi phải đáp ứng được đầy đủ những nội dung, yêu cầu đặt ra. ở mỗi giai đoạn khác nhau mức độ, nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp
  14. đào tạo cũng khác nhau. Ta có thể mô tả hoạt động tài chính của các trường đại học công lập theo mô hình sau: Sơ đồ 1.3:Mô hình hoạt động tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam Đầu vào Trường Đào tạo công Đầu ra lập Nguồn lực tài (Mục tiêu kế hoạch đào chính tạo) NSNN Trung Học sinh tốt Đào tạo ương nghiệp các hệ (chính quy, tại Ngân sách địa chức, mở phương rộng, hợp đồng) Học phí Hoạt động Đóng góp cộng ngoài đào đồng Các công trình khoa tạo (NCKH, học sản xuất, Sản phẩm, dịch Tài trợ nước ngoài dịch vụ…) 1.2.2. Nội dung quản lý tài chính ở các trường Đại học công lập - Quản lý các nguồn thu của trường đại học là phải xác định đúng, đủ các nguồn thu theo quy định của Nhà nước, có kế hoạch khai thác các nguồn thu từ NSNN và nguồn thu do nhà trường tự huy động được nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính của trường. - Quản lý việc chi tiêu của trường đại học, trường cần phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính một cách hợp lý nhất, hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất, nhằm đảm bảo sự ổn định về các nguồn tài chính dài hạn và ngắn hạn, phục vụ các mục tiêu hoạt động tài chính của nhà trường. Phải căn cứ vào các nguồn thu để lập kế hoạch chi tiêu sao cho
  15. đảm bảo thu đủ bù chi và có phần chênh lệch. Nội dung chi phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng luật và tiết kiệm nhưng vẫn hiệu quả, đảm bảo chất lượng giảng dạy. - Phân phối chênh lệch thu-chi: Phần chênh lệch thu-chi hằng năm sẽ được Thủ trưởng đơn vị trích lập các quỹ, sau khi thống nhất với tổ chức Công đoàn, theo thứ tự: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Việc quản lý thu, chi càng tốt phần chênh lệch sẽ càng lớn thì việc trích lập các quỹ sẽ hợp lý hơn, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên, giáo viên trong trường, tạo điều kiện tái đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy. Những công việc cụ thể trong quản lý tài chính ở các trường đại học có thể khái quát như sau: - Phân tích tình hình - Xác định nhu cầu - Nắm vững các chế độ chính sách hiện hành - Xác định nhiệm vụ cụ thể đối với công tác quản lý tài chính trong trường đại học - Xây dựng kế hoạch tài chính trên cơ sở phân tích chi phí - lợi ích - Xác định các nguồn lực cần khai thác - Tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính - Tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính theo các mục tiêu đặt ra - Chỉ đạo, điều phối các hoạt động tài chính - kế toán - Kiểm tra, đánh giá - Đổi mới 1.2.2.1. Quản lý nguồn thu của các Trường Đại học công lập Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, đầu tư phát triển. Mục tiêu của Giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
  16. Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Chính vì vậy phải tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục, tăng đầu tư từ NSNN, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính, chuẩn hoá và hiện đại hoá nhà trường, các trang thiết bị giảng dạy, nghiên cứu và học tập. Sự chuyển đổi của nền kinh tế đã làm thay đổi một cách căn bản quan điểm đầu tư cho giáo dục. Đầu tư cho giáo dục - đào tạo không chỉ từ một nguồn gần như duy nhất là từ NSNN như trước đây, mà còn xã hội hoá giáo dục, nhất thiết đầu tư cho giáo dục phải bao gồm từ nhiều nguồn đầu tư: - Nguồn kinh phí do NSNN cấp - Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí - Các nguồn thu hợp pháp khác * Nguồn kinh phí do NSNN cấp Giáo dục - đào tạo là của toàn Đảng, toàn dân và của Nhà nước. Để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ CNH-HĐH đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã giành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. Ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục là một trong những nội dung quan trọng nhất của hoạt động chi NSNN. Luật giáo dục ghi rõ: “Nhà nước giành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ NSNN chi cho giáo dục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. NSNN chi cho giáo dục phải được phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân chủ, căn cứ vào quy mô phát triển giáo dục, điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng, miền và thể hiện được chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”. Ngoài ra, Nhà nước còn giành một phần kinh phí từ ngân sách và sử dụng các nguồn khác để đưa cán bộ khoa học đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến.
  17. Ngân sách Nhà nước cấp cho các trường Đại học công lập bao gồm các khoản mục: - Một phần kinh phí hoạt động thường xuyên của trường Đại học công lập được NSNN bảo đảm. - Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền giao, kinh phí thanh toán cho trường Đại học công lập theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. - Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học theo dự án và kế hoạch hằng năm, vốn đối ứng cho các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt kinh phí đầu tư ban đầu… Nguồn kinh phí do NSNN cấp hiện vẫn giữ vai trò chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tài chính của các trường đại học công lập. Tuy nhiên quy trình cấp phát ngân sách cho giáo dục đại học vẫn theo lối mòn của cách cấp phát theo nhu cầu thường niên. Việc cấp phát NSNN cho các trường đại học công lập nằm trong chức năng điều hành và được thực hiện theo sơ đồ sau. Sơ đồ 1.4: Điều hành thực hiện thu chi ngân sách Nhà nước Chính phủ Các Bộ, Bộ Tài Bộ KH - ĐT Kho bạc Nhà nước ngành liên chính quan Kho bạc tỉnh, thành phố Các đơn vị đào tạo Kho bạc quận, huyện
  18. ở nước ta việc cấp phát tài chính cho các trường Đại học công lập: “Dựa trên cơ sở đầu vào và chủ yếu dựa trên số lượng sinh viên cùng các chi phí của đơn vị, do đó không khuyến khích được các trường giảm chi phí để nâng cao chất lượng”. Kinh nghiệm ở một số nước như Australia, Hà Lan, Singapore… thì việc cấp phát tài chính đều dựa trên cơ sở đầu ra, thông qua số lượng sinh viên đã được đào tạo và tốt nghiệp. Như vậy chất lượng giáo dục và kết quả được nâng lên rõ nét (vì do số lượng sinh viên bỏ học và lưu ban). Quy trình phân bổ tài chính cho các trường Đại học công lập ở nước ta còn bộc lộ một số yếu điểm sau: - Các tiêu chí thiếu rõ ràng - Việc cấp kinh phí còn dựa vào các tiêu chuẩn định mức thô sơ, thiếu tổng hợp và chưa đề cập đầy đủ các nguồn tài chính khác. Chưa chú ý đến nhu cầu cụ thể của các trường đại học và những chính sách ưu tiên của Chính phủ, mức độ, cơ cấu chi phí khác nhau của các trường, các bậc đào tạo, các lĩnh vực, các loại hình đào tạo… - Chi tiêu NSNN chỉ nhấn mạnh đầu vào, ít chú ý đến mục tiêu cuối cùng là sản phẩm sinh viên tốt nghiệp - Thiếu cơ chế khuyến khích các trường đào tạo nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ. Trong những năm qua, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21, đầu tư cho giáo dục từ NSNN không ngừng được tăng lên. Năm 2004 đầu tư cho giáo dục đào tạo từ NSNN đã đạt đến 17,1%/năm trong tổng chi tiêu của NSNN, tăng hơn 3,4% so với năm 2000. Quy trình đầu tư, phân bổ ngân sách đã có những bước cải cách căn bản làm tăng tính hiệu quả của đầu tư cho giáo dục * Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí:
  19. Để tăng cường nguồn lực cho giáo dục, thể hiện đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho giáo dục, Điều 36 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục và khuyến khích các nguồn đầu tư khác”. Chính sách đó cho phép huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho phát triển giáo dục đào tạo, nhằm chia sẻ bớt gánh nặng đối với Nhà nước. Nguồn thu từ học phí, lệ phí… đã góp phần tăng cường kinh phí đầu tư cho giáo dục. Thông qua việc thu học phí Nhà nước cũng có thể điều tiết quy mô, cơ cấu đào tạo và thực hiện chính sách công bằng xã hội. Theo luật giáo dục: Học phí, lệ phí là khoản đóng góp của gia đình người học hoặc người học để góp phần đảm bảo cho các hoạt động giáo dục. Chính phủ quy định khung học phí, cơ chế thu và sử dụng học phí đối với tất cả các loại hình trường, cơ sở giáo dục khác theo nguyên tắc không bình quân, thực hiện miễn giảm cho các đối tượng hưởng chính sách xã hội và người nghèo. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính căn cứ vào các quy định của Chính phủ về học phí, hướng dẫn việc thu và sử dụng học phí, lệ phí tuyển sinh của các trường và cơ sở giáo dục khác trực thuộc trung ương. Sau khi Nhà nước xoá bỏ bao cấp trong giáo dục, học phí có một vị trí rất quan trọng, chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng thu của các trường. Thậm chí có những trường, nguồn thu từ học phí cao hơn gấp hai lần so với NSNN cấp. Việc thực hiện chính sách học phí mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Thứ nhất, học phí là một trong những nguồn kinh phí quan trọng nhất để phát triển giáo dục đại học trong điều kiện nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường Thứ hai: Thông qua chính sách học phí, Nhà nước có thể thực hiện điều tiết quy mô và cơ cấu giáo dục đại học Thứ ba: Thông qua học phí, Nhà nước thực hiện chính sách xã hội và thực hiện công bằng xã hội. Với ý nghĩa như vậy, Nhà nước ta đã nhiều lần điều chỉnh chính sách học phí. Lần thứ nhất theo Quyết định số: 241/TTg ngày 24/05/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thu học phí đối với tất cả học sinh, sinh viên theo học tại các trường công lập (trừ bậc tiểu học). Đây là lần đầu tiên Nhà nước chính thức quy định mức học phí đối với giáo dục các cấp. Lần thứ hai, sau năm năm thực hiện Quyết định
  20. 241/TTg, mức học phí ở các cơ sở giáo dục - đào tạo công lập được quy định lại theo Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/03/0998 học phí được phân thành nhiều mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào loại trường, vùng, miền, địa điểm trường, thời gian và cơ cấu ngành nghề đào tạo… * Các nguồn thu khác: Ngoài hai nguồn thu chính trên, các trường đại học còn có thể huy động sự đóng góp của các tổ chức kinh tế - xã hội, và các cá nhân, các nguồn tài trợ của nước ngoài, các nguồn thu do hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất tạo ra, các khoản thu do hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cơ sở giáo dục, nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng…, các nguồn thu này sẽ tạo điều kiện cho các trường nâng cấp cơ sở vật chất, cải thiện đời sống của giảng viên và sinh viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Nó cũng giúp khai thác tiềm năng của các thành phần, tổ chức kinh tế - xã hội trong việc đóng góp kinh phí khi nguồn kinh phí NSNN còn hạn hẹp. Đồng thời phát huy tính năng động của các trường đại học trong việc huy động nguồn tài chính cho giáo dục - đào tạo. Với xu hướng nâng cao tính tự chủ về tài chính cho các trường đại học công lập như hiện nay, việc tăng cường khai thác các nguồn vốn này đang trở thành một trong những chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của hệ thống các trường Đại học công lập. Công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn và dịch vụ trong các cơ sở đào tạo hiện chiếm khoảng 3 -> 4% tổng số nghiên cứu khoa học của cả nước, đây là một tỷ lệ rất thấp, các sản phẩm nghiên cứu lại không được tiếp thị nên nhiều đề tài rất có ý nghĩa đối với sản xuất nhưng không được áp dụng, không được trao đổi, mua bán trên thị trường. Cơ chế đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung còn bị phân tán, chậm đổi mới. Sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và Viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong công tác giảng dạy và nghiên cứu còn lỏng lẻo. Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn hạn chế, vì vậy việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu rất hạn chế. để tăng cường nguồn đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo, thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, cần thiết phải tranh
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2