intTypePromotion=1

Luận văn: THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VACCIN H5N1 PHÕNG BỆNH CÖM GIA CẦM TẠI THÁI NGUYÊN

Chia sẻ: Carol123 Carol123 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:116

0
100
lượt xem
14
download

Luận văn: THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VACCIN H5N1 PHÕNG BỆNH CÖM GIA CẦM TẠI THÁI NGUYÊN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) là bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm do virus cúm type A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra cho các loài lông vũ như gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim, một số động vật có vú và con người. Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh và mạnh. Thời gian ủ bệnh trung bình từ vài giờ đến 3 ngày. Triệu chứng lâm sàng biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, có dạng tỷ lệ chết rất cao, có dạng không biểu hiện triệu chứng và tỷ lệ chết có...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VACCIN H5N1 PHÕNG BỆNH CÖM GIA CẦM TẠI THÁI NGUYÊN

  1. 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---------- NGUYỄN THẾ TĨNH THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VACCIN H5N1 PHÕNG BỆNH CÖM GIA CẦM TẠI THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thái Nguyên, năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  2. 2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---------- NGUYỄN THẾ TĨNH THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VACCIN H5N1 PHÕNG BỆNH CÖM GIA CẦM TẠI THÁI NGUYÊN CHUYÊN NGÀNH THÚ Y MÃ SỐ 60.62.50 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Hƣớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUANG TS HOÀNG VĂN DŨNG Thái Nguyên, năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp làm dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Văn Quang và Tiến sỹ Hoàn Văn Dũng. Các số liệu và kết quả trình bầy trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, được rút ra từ tình hình thực tế hiện nay tại tỉnh Thái Nguyên và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn. Các thông tin và tài liệu trình bầy trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả Nguyễn Thế Tĩnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  4. 4 LỜI CẢM ƠN Sau thời gian dài học tập và nghiên cứu, với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn và giúp đỡ quý báu của các Thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp, đến nay đề tài nghiên cứu của tôi đã hoàn thành. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc và vô cùng biết ơn tới hai người Thầy hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang - Trưởng khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. TS Hoàng Văn Dũng - Chi cục trưởng Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên. Những người Thầy uyên bác, mẫu mực, tận tình và chu đáo đã luôn cổ vũ, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể Cán bộ Công chức của Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên và Trạm Thú y huyện Định Hoá, Trạm Thú y Thành phố Thái Nguyên, Trạm Thú y huyện Phú Bình đã luôn cộng tác và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Xin trân trọng cảm ơn tập thể Cán bộ Công chức của Viện Thú y Quốc Gia và Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương nơi tôi phân tích mẫu đã cộng tác giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này. Xin gửi lời cảm ơ n sâu sắc tới tập thể Cán bộ Công chức Khoa Chăn nuôi Thú y, Khoa Sau Đại Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của mình. Tôi xin trân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp gần xa và những người thân trong gia đình đã cùng chung lo và luôn cổ vũ động viên tôi hoàn thành tốt công trình nghiên cứu khoa học này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. 5 Với những kiến thức ít ỏi của bản thân cùng với những yêu cầu rất lớn của đề tài, đặc biệt là nội dung nghiên cứu còn khá mới mẻ ở nước ta hiện nay nên trong quá trình nghiên cứu và những kết quả thu được của đề tài ắt hẳn còn nhiều thiếu sót. Kính mong các Thầy cô giáo, các Nhà khoa học và các bạn bè đồng nghiệp tham gia đóng góp ý kiến để đề tài của tôi được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin trân trọng cảm ơn ! Tác giả Nguyễn Thế Tĩnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. 6 CÁC CHỮ VIẾT TẮT HPAI Hight Pathogenic Avian Influenza. LPAI Low Pathogenic Avian Influenza. n Số mẫu. < Nhỏ hơn. > Lớn hơn. ≥ Lớn hơn hoặc bằng. ≤ Nhỏ hơn hoặc bằng. (+) Dương tính. (%) Tỷ lệ phần trăm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. 7 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở một số huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên 46 Bảng 3.2. Quy mô đàn gà nuôi trong các nông hộ. 48 Bảng 3.3. Quy mô đàn vịt nuôi trong các nông hộ. 49 Bảng 3.4. Quy mô đàn ngan nuôi trong các nông hộ. 50 Bảng 3.5. Tỷ lệ hộ nuôi gà ở các phương thức nuôi. 52 Bảng 3.6. Tỷ lệ hộ nuôi vịt và ngan ở các phương thức nuôi. 53 Bảng 3.7. Tỷ lệ hộ nuôi gà có tiêm phòng một số bệnh chính. 56 Bảng 3.8. Tỷ lệ hộ nuôi vịt có tiêm phòng một số bệnh chính. 58 Bảng 3.9. Tỷ lệ hộ nuôi ngan có tiêm phòng một số bệnh chính. 60 Bảng 3.10. Tỷ lệ gia cầm được kiểm tra trong giết mổ và lưu thông. 62 Bảng 3.11. Tỷ lệ xuất hiện bệnh cúm theo loại gia cầm. 66 Bảng 3.12. Tỷ lệ xuất hiện bệnh cúm theo phương thức chăn nuôi. 68 Bảng 3.13. Tỷ lệ xuất hiện bệnh cúm ở gia cầm theo quy mô đàn nuôi 69 Bảng 3.14. Tỷ lệ phát hiện mẫu huyết thanh có kháng thể H5 ở gia cầm chưa tiêm phòng theo đàn và theo cá thể. 72 Bảng 3.15. Tỷ lệ phát hiện kháng thể cúm H5 ở cá thể gia cầm theo phương thức chăn nuôi. 73 Bảng 3.16. Tỷ lệ phát hiện kháng thể cúm H5 ở đàn gia cầm chưa tiêm phòng theo phương thức chăn nuôi. 75 Bảng 3.17. Tỷ lệ phát hiện virus cúm H5 trong mẫu swab của gia cầm nuôi tại Thái Nguyên. 76 Bảng 3.18. Tỷ lệ phát hiện virus cúm H5 trong mẫu swab của gia cầm theo phương thức chăn nuôi. 78 Bảng 3.19. Tỷ lệ phát hiện kháng thể ở gà sau khi tiêm vaccin H5N1 21 ngày theo đàn và theo cá thể. 81 Bảng 3.20. Hiệu giá kháng thể ở gà sau tiêm vaccin H5N1 21 ngày. 83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. 8 Bảng 3.21. Khả năng bảo hộ đàn gà chống cúm của vaccin H5N1. 84 Bảng 3.22. Tỷ lệ phát hiện kháng thể ở vịt sau khi tiêm vaccin H5N1 21 ngày theo đàn và theo cá thể. 86 Bảng 3.23. Hiệu giá kháng thể ở vịt sau khi tiêm vaccin H5N1 21 87 ngày. Bảng 3.24. Khả năng bảo hộ đàn vịt chống cúm của vaccin H5N1. 89 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. 9 DANH MỤC CÁC ẢNH Ảnh 1. Tiêu bản mẫu swab âm tính. 77 Ảnh 2. Tiêu bản mẫu swab dương tính. 77 Ảnh 3. Lấy mẫu huyết thanh của vịt. 104 Ảnh 4. Lấy mẫu huyết thanh của gà. 104 Ảnh 5. Lấy mẫu huyết thanh của gà. 105 Ảnh 6. Lấy mẫu huyết thanh của ngan. 105 Ảnh 7. Tiêm phòng cúm H5N1 cho vịt. 106 Ảnh 8. Tiêm phòng cúm H5N1 cho gà. 106 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. 10 CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƢỢC CÔNG BỐ CỦA ĐỀ TÀI Tên công trình: “Lưu hành virus cúm và đáp ứng miễn dịch vacxin phòng cúm của gia cầm tỉnh Thái Nguyên”. Tên tác giả: Nguyễn Thế Tĩnh, Nguyễn Văn Quang, Hoàng Văn Dũng. Công trình đã được duyệt và sẽ đăng trên Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y số 4/2008 (có giấy xác nhận của Ban biên tập kèm theo). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. 11 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) là bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm do virus cúm type A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra cho các loài lông vũ như gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim, một số động vật có vú và con người. Bệnh có khả năng lây lan rấ t nhanh và mạnh. Thời gian ủ bệnh trung bình từ vài giờ đến 3 ngày. Triệu chứng lâm sàng biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, có dạng tỷ lệ chết rất cao, có dạng không biểu hiện triệu chứng và tỷ lệ chết có thể lên đến 100% số gia cầm mắc bệnh (Horimoto, 2001) [43]. Những năm gần đây, bệnh liên tục bùng phát ở nhiều địa phương trong cả nước với nhiều quy mô khác nhau, trong đó có tỉnh Thái Nguyên, đã làm chết và tiêu hủy hàng triệu con gia cầm các loại, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm. Đồng thời gây lo lắng cho cộng đồng về nguy cơ lây nhiễm dịch cúm A – H5N1 ở người. Nhiều tác giả cho rằng, sự xuất hiện của bệnh có liên quan và ảnh hưởng rất lớn từ phương thức chăn nuôi và công tác vệ sinh thú y trong giết mổ và lưu thông gia cầm. Để tìm hiểu tình hình thực tế ở địa phương nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng chăn nuôi và một số đặc điểm dịch tễ, khả năng đáp ứng miễn dịch của vacxin H5N1 phòng bệnh cúm gia cầm tại Thái Nguyên”. 2. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá về thực trạng chăn nuôi, lưu thông giết mổ gia cầm ở một số huyện thành của tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. 12 - Tình hình dịch cúm gia cầm ở Thái Nguyên từ năm 2004 đến nay. - Sự lưu hành virus cúm trên đàn gia cầm tại tỉnh Thái Nguyên. - Xác định hiệu giá kháng thể ở gà và vịt sau tiêm phòng vaccin H5N1 (Trung Quốc). 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Đánh giá về thực trạng chăn nuôi, lưu thông và giết mổ gia cầm và ảnh hưởng của nó đến công tác phòng chống dịch cúm tại Thái Nguyên. - Bổ sung một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm. - Xác định tỷ lệ lưu hành virus cúm trên đàn gia cầm ở Thái Nguyên. - Đánh giá đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm va ccin phòng cúm H5N1 của gia cầm ở tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất những giải pháp thực tế nhằm hạn chế sự tái bùng phát và lây lan dịch bệnh cúm trên đàn gia cầm của tỉnh Thái Nguyên nói riêng cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung. 4. Địa điểm nghiên cứu - Các cơ sở và hộ chăn nuôi gia cầm của tỉnh Thái Nguyên. - Chi cục Thú y Thái Nguyên. - Viện Thú y Quốc gia. - Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương. 5. Thời gian nghiên cứu đề tài - Từ tháng 1 năm 2007 đến ngày 15 tháng 2 năm 2008. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. 13 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Thái Nguyên và định hƣớng phát triển trong thời gian tới 1.1.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm những năm qua Theo niên giám của Cục thống kê Thái Nguyên thì năm 2005, toàn tỉnh có 180 xã, phường, thị trấn, 2.370 thôn xóm, khoảng 231.392 hộ và trên 80% số hộ có chăn nuôi gia cầm. Tổng đàn gia cầm là 4.669.374 con, trong đó có 3.858.317 con gà, 811.057 con vịt, ngan và ngỗng. Có khoảng 86 trang trại chăn nuôi gia cầm tập trung với quy mô từ 500 con gia cầm trở lên bằng 3,7%, trong đó có 20 trang trại chăn nuôi với quy mô từ 6.000 – 8.000 con gia cầm một lứa, còn lại hầu hết là chăn nuôi nhỏ lẻ, thủ công thuộc các nông hộ. Tại thời điểm ngày 1 tháng 8 năm 2007, tổng đàn gia cầm của tỉnh Thái Nguyên là 5.070.959 con, trong đó có 4.196.808 con gà chiếm 82,8%, 874.151 con vịt và ngan bằng 17,2%. Có khoảng 231.403 hộ trong đó có khoảng 80% số hộ có chăn nuôi gia cầm và có khoảng trên 200 hộ và trang trại chăn nuôi với quy mô trên 500 con bằng khoảng 8,6%, chủ yếu ở Thành phố Thái Nguyên và các huyện phía Nam như Phổ Yên, Sông Công, Phú Bình và một số huyện khác như Phú Lương, Đồng Hỷ …. Tổng đàn gia cầm lớn nhất là ở huyện Phú Bình với 1.099.022 con, tiếp theo là huyện Phổ Yên với 747.093 con và thấp nhất là ở Thị xã Sông Công với 268.670 con. Riêng Thành phố Thái Nguyên có 538.218 con và huyện Định Hoá có 691.528 con. Trong khi ở nước ta, tổng đàn gia cầm trước dịch cúm gia cầm cuối năm 2003 là 254,06 triệu con nhưng sang năm 2004, sau khi dịch cúm gia cầm xảy ra thì tổng đàn gia cầm đã giảm đi 14,23% và chỉ còn 218,15 triệu con. Trong đó miền Nam giảm 25,69% và miền Bắc giảm 6,43%. Trong khoảng 80% hộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. 14 nông dân chăn nuôi gia cầm thì có 15% nuôi theo phương thức nuôi nhốt, 20% nuôi theo phương thức bán chăn t hả và 65% nuôi theo phương thức chăn thả tự do (Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Sơn, 2005) [13]. 1.1.2. Định hướng phát triển trong thời gian tới Những năm qua, do ảnh hưởng của dịch cúm nên ngành chăn nuôi gia cầm ở Thái Nguyên được quan tâm hơn từ các b an ngành chức năng và chính quyền các cấp cũng như người chăn nuôi. Những năm trước dịch cúm, ngành chăn nuôi gia cầm vẫn chủ yếu là nhỏ lẻ, thủ công và chăn thả tự do trong các nông hộ thì từ năm 2005 đến nay ngành chăn nuôi gia cầm đang chuyển dần sang chăn nuôi theo quy mô nuôi nhốt, mặc dù còn chậm nhưng cũng rất đáng khích lệ. Theo kế hoạch phát triển chăn nuôi gia cầm năm 2004 – 2005 của tỉnh Thái Nguyên là chuyển dịch cơ cấu và quy mô chăn nuôi theo hướng tập trung, giảm tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ và thủ công, xây dựng vùng và cơ sở chăn nuôi an toàn sinh học nhằm kiểm soát và khống chế được dịch cúm gia cầm. Phấn đấu đến năm 2005 khôi phục lại sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm đặc biệt là chăn nuôi gà. Mục tiêu phát triển giai đoạn 2006 - 2010 là phấn đấu đạt tỷ trọng sản xuất chăn nuôi gia cầm hàng hoá theo quy mô trang trại, gia trại chiếm khoảng trên 30%. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng số đầu con từ 7 – 7,5%, trong đó đối với gà là khoảng từ 9,5 – 10% và vịt ngan từ 4,5 – 5%. Tổng số đàn gia cầm đến năm 2010 là khoảng 6.980.000 con, trong đó gà là 5.780.000 con và vịt ngan là 1.200.000 con. Phấn đấu kiểm soát được dịch cúm gia cầm. Quy hoạch và kiểm soát các cơ sở giống gia cầm, chăn nuôi gia cầm tập trung như trang trại công nghiệp và bán công nghiệp cho các địa phương mang tính hàng hoá theo hướng an toàn sinh học. Quy hoạch và xây dựng các cơ sở giết mổ và chế biến gia cầm tập trung cũng như chợ đầu mối cho các huyện, thành, thị. Kiểm soát chặt chẽ việc kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. 15 doanh, lưu thông và giết mổ. Động viên và khuyến khích người chăn nuôi và các cơ sở chăn nuôi gia cầm đăng ký sản xuất giống, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng và thương hiệu giống của cơ sở mình sản xuất và kinh doanh. Tổ chức lại thị trường tiêu thụ gia cầm và nâng cao ý thức của người dân trong việc sử dụng thực phẩm an toàn dịch bệnh. Nâng cao tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh cho đàn gia cầm, đối với bệnh cúm gia cầm phải tiêm phòng triệt để số gia cầm trong diện tiêm. Tăng cường và thực hiện nghiêm ngặt công tác vệ sinh sát trùng tiêu độc. Thường xuyên kiểm tra phát hiện dịch bệnh, bao vây, khống chế và dập tắt dịch bệnh ngay khi dịch xảy ra …. 1.1.3. Một số giống gia cầm và phương thức chăn nuôi phổ biến ở Thái Nguyên Qua quá trình điều tra và thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy, đàn gia cầm ở Thái Nguyên hiện nay là rất phong phú về giống loài gia cầm. Trong số các loài gia cầm phổ biến hiện nay thì gà chiếm đa số với nhiều giống khác nhau, chủ yếu và phổ biến nhất vẫn là các giống gà địa phương như gà ri, gà chọi, gà hồ …. Các giống gà nhập nội như gà sao, gà lương phượng, gà ai cập và một số giống gà khác nhưng số lượng không nhiều. Một số giống vịt phổ biến hiện nay như vịt cỏ, vịt siêu trứng, vịt khoang tầu, vịt bơ … trong đó vịt khoang tầu và vịt bơ chiếm đa số do có trọng lượng lớn và khả năng tăng trưởng nhanh, còn các giống vịt khác như vịt bầu bến, vịt bầu quỳ gần như không còn. Đối với đàn ngan thì hiện nay chủ yếu và khá phổ biến là giống ngan pháp, các giống như ngan sen, ngan trâu, ngan ré mặc dù có khả năng chống chịu bệnh tật tốt hơn nhưng khả năng tăng trưởng chậm và trọng lượng thấp nên hiện nay hầu như không còn phổ biến. Cũng giống như nhiều địa phương khác trong cả nước, ở Thái Nguyên hiện nay ngành chăn nuôi gia cầm phổ biến ở 3 phương thức chăn nuôi chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. 16 là nuôi nhốt, nuôi bán chăn thả và nuôi chăn thả. Trong đó ở chăn nuôi gà thì vẫn phổ biến ở cả 3 phương thức chăn nuôi nói trên và chủ yếu là chăn thả tự do với khoảng 50%, ít nhất là ở phương thức nuôi nhốt tập trung công nghiệp và bán công nghiệp với chỉ khoảng 18 – 34%. Còn ở vịt và ngan hiện nay chỉ còn phổ biến ở ở phương thức nuôi nhốt và nuôi bán chăn thả nhưng chủ yếu là nuôi nhốt với khoảng trên 80% ở ngan và 60% ở vịt. Đối với quy mô đàn nuôi hiện nay thì đã tăng dần cả về số đầu con và quy mô nuôi nhốt so với những năm trước đây khi chưa xảy ra dịch cúm gia cầm. Ở quy mô chăn nuôi từ 200 con trở lên đã chiếm khoảng 17 – 20% ở gà và từ 7 – 9% ở vịt và ngan. Những quy mô chăn nuôi này chủ yếu tập trung ở Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Lương và các huyệ n phía Nam như Phổ Yên, Sông Công và Phú Bình. Còn lại vẫn chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ và thủ công tại các nông hộ dải rác khắp các thôn xóm trong tỉnh. 1.2. Những hiểu biết chung về bệnh cúm gia cầm 1.2.1. Sơ lược về lịch sử phát triển của bệnh Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) trong lịch sử còn có tên gọi là Fowl Plague, đã được Porroncito mô tả lần đầu tiên ở Italia vào năm 1878 và Ông nhận định một cách sáng suốt rằng tương lai nó sẽ là một bệnh quan trọng và nguy hiểm. Nhưng sau đó 23 năm, năm 1901 Centai và Savunozzi mới xác định được căn nguyên siêu nhỏ (Filterable agent) là yếu tố gây bệnh. Từ đó, mãi đến năm 1955 virus gây bệnh mới được Achafer xác định virus thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7. Bệnh được Beard.C.W mô tả khá kỹ ở Mỹ vào năm 1971 qua đợt dịch trên gà tây. Những năm tiếp theo, bệnh được phát hiện ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi, Trung cận Đông, Châu Âu, Vương Quốc Anh và Liên Xô cũ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. 17 Các công trình nghiên cứu có hệ thống và chi tiết về bệnh này cũng lần lượt được công bố ở nhiều nơi trên Thế giới như Úc năm 1975, Anh năm 1979, Mỹ năm 1983 – 1984, AiLen năm 1983 – 1984 và nhiều Quốc gia khác. Việc các vụ dịch liên tục bùng nổ ở khắp các Châu lục trên Thế giới đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chức Hội thảo lần đầu tiên vào năm 1981 về chuyên đề Bệnh Cúm Gà. Hội thảo tiếp tục được tổ chức lần hai tại Ailen năm 1987 và lần ba cũng tại Ailen năm 1992. Từ đó đến nay bệnh ngày càng xảy ra với quy mô lớn hơn và nguy hiểm hơn nên luôn được coi là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong các Hội nghị về dịch tễ ở khắp nơi trên Thế giới. Bệnh được tổ chức Dịch tễ Thế giới (OIE) liệt vào danh sách một trong bốn bệnh đỏ đặc biệt nguy hiểm đối với ngành chăn nuôi trên toàn Thế giới do bệnh ngày càng trở nên phổ biến và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi đồng thời làm chết nhiều gia cầm và hạn chế thương mại giữa các nước. Đặc biệt nguy hiểm là bệnh có khả năng lây nhiễm sang con người và cả một số loài động vật có vú khác như lợn, hải cẩu, c ầy hương. Tại Pakistan tháng 10/1994, Newe.C.W và cộng sự đã công bố dịch cúm do virus H7 gây ra ở gà từ 7-66 tuần tuổi, làm chết 63% gà trong ổ dịch. Năm 1997, dịch cúm gia cầm xảy ra tại Hồng Kông – Trung Quốc có thể coi là một đại dịch trong chăn nuôi gia cầm và gây thiệt hại to lớn về mọi mặt cho đặc khu này với hàng chục người bị tử vong do dịch cúm gà. Cũng như vậy, tại Italia năm 2001 đã có gần 400 cơ sở chăn nuôi gia cầm bị dịch, làm chết và tiêu huỷ 14 triệu con gia cầm các loại. 1.2.2. Tình hình bệnh cúm gia cầm * Tình hình trong nước Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên vào cuối tháng 12 năm 2003 tại tỉnh Hà Tây, Tiền Giang, Long An sau đó nhanh chóng phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. 18 tán và lây lan ra các tỉnh thành khác với diễn biến hết sức phức tạp. N gay trong đợt dịch này (từ tháng 12/2003 đến ngày 27/02/2004), bình quân mỗi ngày có khoảng 150 – 230 xã của 15 – 20 huyện phát sinh ổ dịch mới thuộc 57 tỉnh thành trong cả Nước, làm chết và tiêu huỷ hàng ngày từ 2 – 3 triệu con gia cầm các loại, có ngày lên tới 4 triệu con (Cục Thú y, 2004) [6]. Tổng số xã, phường có dịch là 2.574 (chiếm 24,6% số xã phường trong cả nước) thuộc 381 quận, huyện, thị xã (chiếm 60%), số gia cầm chết và tiêu huỷ là 43,9 triệu con, chiếm 16,79% tổng đàn, trong đó gà chiếm 30,4 triệu con, thuỷ cầm chiếm 13,5 triệu con, ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và tiêu huỷ (Phạm Sỹ Lăng, 2005) [16]. Thiệt hại ước tính khoảng 1.300 tỷ đồng (Nguyễn Tiến Dũng, 2006) [12] Dịch tái phát đợt hai từ tháng 4 – 11 năm 2004 ở 46 xã, phường tại 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh thành, làm chết và tiêu huỷ 84.078 con, trong đó 55.999 con gà, 8.132 con vịt và 19.947 con chim cút (Phạm Sỹ Lăng, 2005) [16]. Đợt ba dịch tái phát từ tháng 12 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005 ở 15 tỉnh phía Bắc và 21 tỉnh phía Nam với 670 xã, 182 huyện, tiêu huỷ 1.847.213 con (Trần Công Xuân và cộng sự, 2005) [30]. Từ đầu tháng 10 năm 2005 đến ngày 25 tháng 12 năm 2005 dịch đã tái phát và xuất hiện ở 285 xã phường của 100 huyện thuộc 24 t ỉnh thành. Tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ là 3.735.620 con gia cầm các loại. Đến ngày 08 tháng 01 năm 2006 tất cả các tỉnh thành trong cả Nước đã tạm thời khống chế được dịch (Tô Long Thành, 2006) [27]. Sau gần một năm Việt Nam không có dịch thì ngày 6 tháng 12 năm 2006 dịch cúm gia cầm lại tái phát trở lại ở các địa phương thuộc hai tỉnh là Bạc Liêu và Cà Mau, đưa Việt Nam trở thành nước lần thứ tư xuất hiện dịch (Lê Văn Năm, 2007) [21]. Sau đó phát tán và lây lan ra 9 tỉnh thành khác, đã có 83 xã phường của 33 quận huyện thuộc 11 tỉnh thành. Tổng số gia cầm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. 19 mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 103.094 con, trong đó có 13.622 con gà và 89.472 con vịt ngan. Dịch xảy ra ở quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu ở vịt dưới 3 tháng tuổi do ấp nở gia cầm trái phép chưa được tiêm vac cin, ngoài Cà Mau và Bạc Liêu thì hầu hết các tỉnh chỉ xảy ra ổ dịch ở quy mô rất nhỏ (1 hoặc 2 hộ) nên đã ngay lập tức được dập tắt. Đợt 2, dịch xảy ra vào tháng 5 năm 2007 tại Nghệ An rồi lây lan ra 167 xã phường của 70 quận huyện, thuộc 23 tỉnh thành, làm chết và tiêu huỷ 294.849 con gia cầm, trong đó có 21.525 con gà bằng 7,31%, 264.549 con vịt bằng 89,71% và 8.775 con ngan bằng 2,98%. Nặng nhất là Nam Định với 26 xã phường thuộc 6 huyện thành và Nghệ An 26 xã phường thuộc 5 huyện thành. Riêng tỉnh Đồng Tháp, dịch đã 3 lần xuất hiện trên đàn gia cầm (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) [3]. Năm 2008, chỉ tính đến tháng 2 đã có 17 tỉnh thành trong cả nước xuất hiện dịch, làm chết hàng triệu con gia cầm. * Tình hình dịch cúm tại Thái Nguyên Riêng tỉnh Thái Nguyên, đến nay dịch cúm gia cầm đã 4 lần xuất hiện và ở những quy mô khác nhau. Lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 01 năm 2004 tại xã Kha Sơn, huyện Phú Bình sau đó lây lan rất nhanh ra 8/9 huyện thành thị trong tỉnh, với tổng số 1.258 hộ có dịch, thuộc 163 xóm ở 48 xã. Làm chết và tiêu huỷ 172.288 con gia cầm các loại chiếm 3,58% so với tổng đàn và 13.760 quả trứng. Ngày 08/4/2004 tỉnh Thái Nguyên đã công bố hết dịch cúm gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh. Năm 2005 dịch đã tái phát trở lại ở tỉnh T hái Nguyên với 5 điểm có dịch thuộc 5 xóm ở 5 xã tại hai huyện là Phú Lương và Thị xã Sông Công. Làm chết và tiêu huỷ 12.513 con gia cầm các loại. Đến ngày 17/12/2005 dịch cúm đã được khống chế trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đó đến tháng 7 năm 2007, do làm tốt công tác phòng chống và tiêm phòng vaccin nên dịch cúm gia cầm đã tạm thời được khống chế, đặc biệt là năm 2006 dịch đã không xuất hiện trở lại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. 20 Năm 2007, dịch xuất hiện trở lại ở Thái Nguyên vào ngày 23 tháng 8 tại gia đình Bà Nguyễn Thị Nga – xóm Phú Thịnh – Xã Thuận Thành - huyện Phổ Yên với tổng đàn có gia cầm mắc bệnh, ốm, chết và tiêu huỷ là 185 con, trong đó gồm 150 con vịt và 35 con gà. Những ngày đầu năm 2008 (từ 1/1 đến 15/2) dịch đã xảy ra tại 5 hộ và 1 trại gà tại Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công với 5 ổ dịch thuộc 4 xã phường, tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ là 5.789 con, trong đó có 4.228 con gà, 834 con vịt, 725 con ngan và 2 con gia cầm khác. 1.2.3. Căn nguyên gây bệnh * Đặc điểm về hình thái, cấu tạo và kích thước Virus gây bệnh cúm gia cầm có tên khoa học là Influenza virus, thuộc họ Orthomyxovirus, là họ virus đa hình thái, có vỏ ngoài, genom là ARN sợi đơn, âm, phân đoạn (Swayne D.E, Suarez D.L, 2000) [48]. Trước đây, các virus Orthomyxo và Paramyxo đều được xếp chung vào một họ là Myxoviridae do chúng có cấu trúc và khả năng gây bệnh giống nhau, nhưng về sau được tách thành hai họ riêng là Orthomyxoviridae và Paramyxoviridae do phát hiện thấy chúng có nhiều đặc điểm cơ bản không giống nhau. Chữ “myxo” có nghĩa là chất nhầy, nguồn gốc của phần này là do phần ngoài của protein của virus có mang các loại đường và phần ngọn của các mạch nối đường chính là một loại acid: Acid Sialic hay còn gọi là acid neuraminidic. Chữ “ortho” có nghĩa là chính thống, nói lên loại myxovirus được phát hiện và đặt tên trước. Có ba type virus cúm được ký hiệu là A, B và C được phân biệt với nhau qua bản chất kháng nguyên NP (Nucleoprotein) và M (Matric antigen). Type A gây cúm ở tất cả các loài gia cầm, type B và C gây cúm điển hình ở người và động vật (Lê Văn Năm, 2004) [18]. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy virus cúm type A ở người, lợn, ngựa và một số động vật có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2