intTypePromotion=1

Luận văn tốt nghiệp: Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Chia sẻ: Hồ Văn Mậu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:106

0
177
lượt xem
47
download

Luận văn tốt nghiệp: Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngoài lời nói đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn với đề tài "Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam" gồm 3 chương sau: Chương 1 những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, chương 2 thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chương 3 các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG  KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn : GS. ĐINH XUÂN TRÌNH Sinh viên thực hiện : GIANG THỊ THU TRANG Lớp : A5 - K38B - KTNT
  2. lời cảm ơn Trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp "Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam”, em đã nhận đợc sự động viên, khích lệ từ nhiều phía. Trớc hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Tr- ờng Đại học Ngoại thơng. Luận văn này không chỉ là sự nỗ lực của bản thân em mà còn chính là thành quả của quá trình học tập, nghiên cứu hơn 4 năm tại trờng dới sự chỉ bảo, dìu dắt và giúp đỡ của các thầy cô. Đặc biệt, em xin dành lời cảm ơn và biết ơn chân thành tới thầy giáo hớng dẫn - G.S Đinh Xuân Trình thuộc bộ môn Thanh toán quốc tế, và phòng Kinh doanh ngoại tệ Ngân hàng Ngoại Thơng Việt Nam. Sự giúp đỡ và chỉ bảo nhiệt tình của thầy cùng các cán bộ phòng Kinh doanh ngoại tệ là động lực vô cùng quan trọng để em hoàn thành luận văn này. Do điều kiện tài liệu và thời gian có hạn, kinh nghiệm bản và khả năng bản thân còn hạn chế, luận văn của em không khỏi có những thiếu sót. Vì vậy, em rât mong đợc các thầy cô xem xét đánh giá, góp ý để khoá luận tốt nghiệp của em mang tính thiết thực hơn và có chiều sâu hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
  3. LỜI NÓI ĐẦU I. TÊN ĐỀ TÀI: “Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam.” II. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức sôi động. Cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy các quốc gia không thể tách mình ra khỏi quá trình này, ngợc lại, các nớc, nhất là các nớc đang phát triển và chậm phát triển cần nhanh chóng hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu. Chính vậy, ngành ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng đang đứng trớc những thách thức và vận hội lớn. Với vai trò là một lĩnh vực kinh doanh tiềm năng trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng, kinh doanh ngoại hối đang ngày càng trở nên có vị thế quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế, do thiếu kinh nghiệm thực tiễn, thời gian tham gia vào hoạt động ngoại hối quốc tế cha nhiều, trình độ nghiệp vụ chuyên môn cha cao, kinh nghiệm quản lý yếu kém nên không ít ngân hàng thơng mại Việt nam đã gặp phải những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. Do đó, quản lý rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối là một vấn đề hết sức bức xúc, đòi hỏi sự nghiên cứu tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao khả năng quản lý rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối.
  4. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam” đã đợc chọn làm đề tài nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp. III. ĐỐI TỢNG NGHIÊN CỨU: Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Phân tích tổng quan hoạt động kinh doanh ngoaị hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam, thực trạng quản lý các rủi ro kinh doanh ngoại hối th- ờng gặp trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, đồng thời trình bày các biện pháp quản lý rủi ro đợc áp dụng tại ngân hàng, trên cơ sở đó đa ra các điểm hạn chế trong hoạt động quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam. Đánh giá nhằm rút ra những giải pháp và kiến nghị cho việc nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng. IV. PHƠNG PHÁP, PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Khoá luận sử dụng phơng pháp nghiên cứu tài liệu, phơng pháp thống kê, tổng hợp dựa trên các số liệu thu thập từ Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam, vụ quản lý Ngoại hối; cũng nh phơng pháp phỏng vấn trực tiếp nhằm đem lại hiệu quả tích cực cho đề tài. VI.CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI: Ngoài lời nói đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng sau:
  5. 2 Chơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doang ngoại hối. 3 Chơng II: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam. 4 Chơng III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam. CHƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI I. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI. 1. Một vài nét về hoạt động kinh doanh ngoại hối Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phơng tiện có giá trị đợc dùng để tiến hành thanh toán giữa các quốc gia. Tuỳ theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia mà khái niệm ngoại hối có thể khác nhau, nhng xét đại thể ngoại hối có thể gồm: 5 Ngoại tệ: bao gồm cả ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng 6 Các phơng tiện thanh toán quốc tế đợc ghi bằng ngoại tệ: Hối phiếu, Kỳ phiếu, Séc, Th chuyển tiền, Điện chuyển tiền, Thẻ tín dụng, Th tín dụng ngân hàng 7 Các chứng khoán có giá trị bằng ngoại tệ nh: Cổ phiếu, Trái phiếu công ty, Công trái quốc gia, Trái phiếu kho bạc 8 Vàng bạc, kim cơng, đá quí, ngọc trai...đợc dùng làm tiền tệ.
  6. 9 Tiền tệ quốc gia có nguồn gốc là ngoại tệ. Tuy nhiên, trong đó thành phần cơ bản của ngoại hối là ngoại tệ và các phơng tiện có giá trị ngoại tệ. Các ngoại tệ đợc giao dịch trên thị trờng ngoại hối dới hình thức tiền mặt chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, mà chủ yếu chúng tồn tại dới các hình thức của các phơng tiện thanh toán quốc tế và phơng tiện lu thông tín dụng nh séc, hối phiếu... Thêm vào đó, không phải loại tiền nào cũng đợc mua bán rộng rãi trên thị trờng ngoại hối mà chỉ có một số đồng tiền chính là đối tợng mua bán rộng rãi trên thị trờng kinh doanh ngoại hối nh: đồng Đô la Mỹ (USD), đồng Yên Nhật (JPY), đồng Bảng Anh (GBP), đồng tiền chung Châu Âu (EUR). Thị trờng ngoại hối là thị trờng thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các loại ngoại hối, trong đó chủ yếu là trao đổi mua bán ngoại tệ và các phơng tiện thanh toán quốc tế. Trung tâm của thị trờng ngoại hối là thị trờng liên ngân hàng, thông qua thị trờng liên ngân hàng mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể đợc tiến hành trực tiếp với nhau. Các giao dịch chủ yếu trên thị trờng ngoại hối bao gồm: Giao dịch giao ngay( Spot transaction), Giao dịch kỳ hạn (Forward transaction), Giao dịch hoán đổi (Swap transaction) và Giao dịch quyền chọn (Option transaction). Trong phạm vi luận văn này, ngời viết sẽ chủ yếu xem xét ngoại hối dới khía cạnh là ngoại tệ kinh doanh và bốn hoạt động chủ yếu của một ngân hàng trên thị trờng ngoại hối bao gồm: 10 Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các hợp đồng ngoại thơng.
  7. 11 Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm mục đích thực hiện đầu t nớc ngoài trực tiếp và gián tiếp. 12 Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó để giảm rủi ro hối đoái. 13 Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến động của tỷ giá. Trong bốn hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên, hai hoạt động đầu ngân hàng thực hiện cho khách hàng để thu phí, do đó ngân hàng không phải hứng chịu rủi ro hối đoái. Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức là làm giảm rủi ro hối đoái. Nh vậy rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối ngoài các rủi ro thuần tuý do hoạt động kinh doanh đem lại thì có liên quan trực tiếp đến hoạt động thứ t, tức là liên quan trực tiếp đến trạng thái hối đoái mở đối với những hoạt động mua bán mang tính đầu cơ. 2. Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó. Rủi ro gồm hai loại chính là rủi ro mang tính đầu cơ và rủi ro thuần tuý. Hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thơng mại là một hoạt động hết sức nhạy cảm và không nằm ngoài quy luật, nó cũng tiềm ẩn những rủi ro. Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là những rủi ro làm sai lệch
  8. kết quả hoạt động kinh doanh do sự cố biến động về tỷ giá của các ngoại tệ có liên quan. Đặc biệt trong hệ thống tỷ giá thả nổi hiện nay, tỷ giá hối đoái với t cách là giá cả của một loại hàng hoá đặc biệt luôn biến động không ngừng do nhiều nhân tố tác động, thì vấn đề rủi ro hối đoái thờng xuyên xuất hiện. Các đối tợng thờng xuyên chịu rủi ro hối đoái là các Ngân hàng và các công ty tham vào nền tài chính quốc tế. Toàn bộ số tiền có thể chịu rủi ro hối đoái là trạng thái hối đoái mở (open position), mỗi khi có một trạng thái hối đoái mở thì sẽ có một trạng thái rủi ro hối đoái. Nếu nh trạng thái hối đoái ở trạng thái mở và tỷ giá hối đoái thay đổi thì sẽ thu thêm hay mất đi một lợng tiền liên quan đến trạng thái hối đoái mở. Để loại trừ và giảm bớt rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, Ngân hàng đánh giá đúng mức độ của từng rủi ro trong kinh doanh ngoại hối và đa ra các biện pháp quản lỷ rủi ro thích hợp trong kinh doanh ngoại hối. 3. Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối. Về mặt nguyên tắc, chúng ta có thể chia rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối ra làm bốn nhóm chính: 14 Rủi ro tài chính 15 Rủi ro tín dụng 16 Rủi ro về khả năng thanh toán
  9. 17 Rủi ro hoạt động 3.1. Rủi to tài chính Rủi ro tài chính bao gồm rủi ro tỷ giá hối đoái và rủi ro lãi suất. Đây chính là các rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. 3.1.1. Rủi ro tỷ giá hối đoái Rủi ro tỷ giá là loại rủi do gây nên bởi sự biến động mạnh của tỷ giá dẫn đến thua lỗ trong giao dịch. Nói một cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro thua lỗ từ trạng thái không cân bằng không bảo hiểm (trạng thái mở) do sự biến động tỷ giá xác định. Đây là loại rủi ro có ý nghĩa rộng lớn trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ. Trờng hợp thờng xảy ra nhất đối với loại rủi ro này là vịêc duy trì một trạng thái hối đoái mở của một đồng tiền nhất định. Nếu nh trạng thái hối đoái mở là dơng (Long position) đối với một loại ngoại tệ hay tài sản Có (Asset) lớn hơn tài sản Nợ (Liabilities) mà ngoại tệ đó bị giảm gía thì chắc chắn sẽ bị rủi ro. Mặt khác nếu đồng tiền đó lên giá, ngời quản lý ngân quỹ đang d thừa đồng tiền đó sẽ thu đợc lợi nhuận từ việc chuyển đổi bằng tỉ giá đó. Kết quả ngợc lại nếu trạng thái hối đoái mở là âm hoặc tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có đồng tiền đó. Nh vậy, rủi ro về tỷ giá sẽ xuất hiện nếu một trạng thái hối đoái mở đợc tạo ra. Ví dụ, một ngân hàng Việt Nam mua của một khách hàng hay của một ngân hàng khác một lợng USD với tỷ giá nào đó, thì cho đến khi bán hết khối lợng này, ngân hàng mới hết lo lắng về rủi ro tỷ giá, rủi ro chỉ xảy ra cho đến khi san bằng trạng thái hối đoái mở này. Rủi ro sẽ tăng lên theo thời gian trạng thái hối đoái mở tồn tại, nhng nó cũng quan trọng ngay trong
  10. khoảng thời gian giữa lúc hình thành và khoá sổ trạng thái hối đoái mở này, thậm chí trong vòng một phút, khi có một biến động nhỏ của tỷ giá thì điều đó đã dẫn tới hậu quả của một thất thoát lớn, nếu khối lợng ngoại tệ kinh doanh nhiều. Nếu tỷ giá hối đoái khi bán ra giảm xuống thì ngân hàng sẽ bị thiệt hại. Nếu giả sử ngân hàng vẫn muốn giữ khoản tiền này thêm thì rủi ro càng lớn hơn nữa. Mối nguy hiểm này không hề phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái, tức là bất kể đồng tiền này theo tỷ giá thả nổi hay tỷ giá cố định. Thật ra, biên độ biến động hàng ngày của tỷ giá USD đã mở rộng nhiều trong giai đoạn chuyển sang cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, thế nhng trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định lại có những rủi ro khác đó là tăng hoặc giảm giá trị của đồng tiền. Đặc biệt khi chế độ Bretton Woods sụp đổ năm 1971, quan hệ tiền tệ giữa các nớc đợc thả nổi, trong đó điển hình nhất là cơ chế “Tỷ giá thả nổi” của các quốc gia t bản chủ nghĩa. Với cơ chế này tỷ giá hối đoái của các nớc biến động hàng ngày, hàng giờ trên thị trờng do chịu ảnh huởng của nhiều nhân tố nh lạm phát, tình hình cán cân thanh toán quốc tế, tình hình cung cầu ngoại hối trên thị trờng... Cung cầu ngoại hối trên thị trờng là nhân tố ảnh hởng trực tiếp và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Quan hệ cung cầu về ngoại hối bị ảnh hởng bởi các nhân tố sau: 18 Tình hình d thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán d thừa thì có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn hơn cầu ngoại hối và ngợc lại. 19 Thu nhập thực tế tức mức độ GNP thực tế tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên.
  11. 20 Những nhu cầu ngoại hối bất thờng tăng lên do thiên tai, bão lụt, hạn hán, mất mùa, chiến tranh...cũng nh do buôn lậu hàng nhập khẩu gây ra. Bên cạnh quan hệ cung cầu ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái biến động còn có các nhân tố khác nh mức chênh lệch lạm phát giữa hai nớc và mức chênh lệch lãi suất giữa các nớc có đồng tiền liên quan. Xem xét mức chênh lệch lạm phát của hai nớc ảnh hởng đến sự biến động của tỷ giá. Giả sử, trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nớc nh nhau, quản lý hối đoái tự do. Một loại hàng ở Mỹ có giá trị 1 USD và ở Nhật là 100 JPY, có nghĩa là ngang giá sức mua đối nội của hai đồng tiền này là USD/JPY = 100. Nếu ở Mỹ có mức lạm phát là 5% và ở Nhật là 10% thì hàng hoá ở Mỹ tăng lên là 1,05 USD và ở Nhật là 110 JPY dó đó ngang sức mua đối nội sẽ là 1,05 USD= 110 JPY Hay là USD/JPY= 104,761 Mức chênh lệch tỷ giá là 4,761 hay gần tơng tự nh mức chênh lệch lạm phát 5%. Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nớc cũng ảnh hởng đến sự biến động tỷ giá. Nớc nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn các nớc khác hoặc cao hơn LIBID thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm xuống, tỷ giá hối đoái cũng giảm. Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thờng xuyên thay đổi kéo theo sự biến động không ngừng của tỷ giá hối đoái. Vấn đề này đặt ra với những công ty là những ngời thờng xuyên có thu chi ngoại hối và đặc biệt là những nhà kinh doanh ngoại tệ, chấp nhận rủi ro để kiếm lời. Đối với các ngân hàng thơng mại cỡ lớn có giao dịch với
  12. các công ty thơng mại lớn thì không những số lợng hợp đồng ký kết là rất nhiều mà khối lợng ngoại hối đợc giao dịch trong ngày cũng rất lớn do đó mà những biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái của các ngoại tệ sẽ gây ra một ảnh hởng rất lớn đối với kết quả kinh doang của ngân hàng. Trạng thái hối đoái mở của mỗi ngoại tệ có thể là dơng hoặc âm. Trạng thái ngoại hối dơng khi tài sản Có lớn hơn tài sản Nợ. Trạng thái ngoại hối âm khi tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có. Tại phòng kinh doanh nơi mà nhà kinh doanh phải thoả mãn các yêu cầu của khách hàng, thì trạng thái hối đoái thờng xuyên xuất hiện. Tình trạng này xuất hiện là do hàng ngày luôn có các nguồn luân chuyển vốn. Mỗi khi một trạng thái mở xuất hiện là ngân hàng ở trạng thái rủi ro hối đoái, nghĩa là khả năng thu đợc hay mất đi một số tiền nếu tỷ giá thay đổi. Đặc biệt khi lợng ngoại hối d thừa hoặc thiếu hụt đến mức nếu rủi ro hối đoái xảy ra sẽ đa ngân hàng vào tình trạng phá sản, vì vậy ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái hối đoái thực để hạn chế bớt những thiệt hại của rủi ro này. Để làm đợc điều này thì ngân hàng phải có mối quan hệ bạn hàng rộng rãi với các công ty thơng mại cỡ lớn cũng nh hoạt động tích cực trên thị trờng liên ngân hàng. 3.1.2. Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất hay còn gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP là rủi ro về lãi suất th- ờng xảy ra trong trạng thái kỳ hạn. Trạng thái kỳ hạn không cân bằng có thể gặp rủi ro lãi suất. Ngay cả trong trờng hợp trạng thái ròng cân bằng cũng có thể gặp rủi ro lãi suất nếu nh thời điểm đáo hạn của các hợp đồng mua và bán không khớp nhau. Sở dĩ nh vậy là vì rủi ro đối với trạng thái kỳ hạn nằm ở lãi suất của các ngoại tệ có mặt trong giao dịch mua bán ngoại tệ đó. Nếu trớc thời điểm đáo hạn của giao dịch có sự biến động về lãi suất của một
  13. trong hai đồng tiền giao dịch mà nằm ngoài mong muốn thì sẽ xuất hiện rủi ro lãi suất. Giao dịch SWAP là giao dịch gồm đồng thời hai giao dịch mua và bán của cùng một số lợng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có 2 đồng tiền đợc thực hiện trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch đợc xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch hoán đổi. Do đó giao dịch SWAP không có tác động đến trạng thái hối đoái mở. Vì vậy lãi hay lỗ trong trạng thái SWAP chỉ phụ thuộc duy nhất vào biến động lãi suất của hai đồng tiền có liên quan. Rủi ro tỷ lệ SWAP trở nên quan trọng nếu trạng thái hối đoái thời hạn với khối lợng kinh doanh đã thoả thuận xong nhng thời hạn thanh toán thì cha chấm dứt. Ví dụ: một ngân hàng mua 5 triệu GBP theo 3 tháng và bán theo thời hạn 4 tháng thì hai khoản này về giá trị là bằng nhau nhng thời hạn thì không đồng nhất. Điều đó có nghĩa là ở đây không có rủi ro về tỷ giá, nh- ng lại có rủi ro về tỷ lệ SWAP, tức là rủi ro sẽ nảy sinh vào cuối tháng thứ 3, nếu trạng thái hối đoái này đợc hình thành qua thực hiện một nghiệp vụ SWAP mà tỷ lệ SWAP lại phát triển không thuận lợi. Rủi ro này có ý nghĩa : một mặt trong nghiệp vụ Arbitrage về tỷ giá thời hạn và mặt khác là trong nghiệp vụ khách hàng. Trong giao lu với khách hàng, các ngân hàng phải ký kết các nghiệp vụ thời hạn, với thời hạn vòng, tức là thời hạn mà lúc đó thị trờng không hoạt động. Sau đó các ngân hàng ký thực hiện nghiệp vụ đối ứng với thời hạn tiêp theo trong thị trờng và khắc phục những bất đồng về thời điểm, bằng cách ký hợp đồng SWAP ngắn hạn và luân chuyển (ví dụ SWAP theo ngày). Khi hạch toán các ngân hàng thờng căn cứ vào tình hình lúc ký kết nghiệp vụ thời hạn. Theo nguyên tắc các ngân hàng cũng dự tính một
  14. khoảng an toàn nhất định, nhng khi xem xét tới góc độ cạnh tranh ngân hàng không thể dự tính khoảng an toàn lớn đợc. Ví dụ, khi chênh lệch lãi suất có lợi cho đồng GBP là 3%/năm (lãi suất GBP=12%/năm, lãi suất SGD= 9% năm và cho các loại thời hạn) ngân hàng đã bán cho khách hàng 5 triệu GBP thời hạn 4 tháng. Số GBP này ngân hàng đã phải huy động trên thị trờng với thời hạn vay 3 tháng và tới cuối tháng thứ 3 thì chênh lệch lãi suất giảm quá mạnh xuống tới 3%/năm. Do vậy, ngân hàng phải gánh chịu khoản lỗ của tháng 4. Giả sử tỷ giá giao ngay GBP/SGD vào lúc ký nghiệp vụ thời hạn với khách hàng là 2,80 hạch toán chuyển đổi này sẽ có kết quả sau (cha tính đến lợng lợi nhuận và an toàn): 21 Bán 5 triệu GBP cho khách hàng với thời hạn 4 tháng theo tỷ giá GBP/SGD là 2,7731:= 13.865.000 SGD. 22 Mua 5 triệu GBP trên thị trờng theo thời hạn 3 tháng với tỷ giá GBP/SGD là 2,7769:=13.898.000 SGD Nghiệp vụ SWAP gia hạn khi hết 3 tháng: 1 Nếu quan hệ lãi suất không đổi (tỷ giá giao ngay ổn định): Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8:=14.000.000 SGD. Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá GBP/SGD là 2,793: =13.965.500 SGD. Sự chuyển đổi này đợc thực hiện không có lãi mà cũng không bị lỗ, khoản chênh lệch 2.000 SGD đợc tạo ra từ tỷ giá ngoại hối thời hạn. 2 Chênh lệch lãi suất có lợi cho đồng GBP là 1%/năm: Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8 = 14.000.000 SGD Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá là 2,7977:=13.988.500 SGD
  15. Ngân hàng chịu lỗ một khoản 21.000 SGD (cha tính đến phần lãi suất duơng từ doanh thu tiền mặt phát sinh do từ cuối tháng thứ 3 ngân hàng thu đợc 14.000.000 SGD từ nghiệp vụ SWAP gia hạn, nhng chỉ phải trả có 13.965.500 SGD. Nếu tỷ giá GBP/SGD giảm thì doanh lợi về lãi suất sẽ trở thành thiệt hại về lãi suất). So sánh với rủi ro tỷ về tỷ giá, không nghi ngờ rằng, rủi ro về tỷ lệ lãi suất ít có ý nghĩa hơn, nhng với khối lợng kinh doanh lớn cũng tạo ra điều đáng quan tâm. Điều này ít có giá trị cho nghiệp vụ giao dịch với khách hàng, vì ngay từ đầu nghiệp vụ này bị giới hạn bởi số lợng khách hàng và một phần hoạt động chuyển đổi đối ứng đã đợc các nhà xuất nhập khẩu tự cân đối với nhau. Trong nghiệp vụ với khách hàng, khối lợng lợi nhuận tạo ra đã tạo thành khối lợng đảm bảo. Ngợc lại trong trờng hợp Arbitrage tỷ giá hối đoái kỳ hạn không thể có đợc một giới hạn rủi ro “tự nhiên”. Nếu xét về khả năng ký kết các hợp đồng nghiệp vụ Arbitrage thời hạn có phạm vi rộng lớn. Tơng tự nh vậy, ở đây sẽ xuất hiện nguy cơ làm thất thoát lớn. Tóm lại, rủi ro lãi suất hay gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP chính là rủi ro về tỷ lệ lãi suất, tuy nhiên nó khác rủi ro lãi suất trên hoạt động thị trờng tiền tệ ở chỗ trên thị trờng tiền tệ chúng ta chỉ quan tâm đến sự biến động lãi suất của một đồng tiền. Nhng khi hoạt động trên thị trờng hối đoái qua giao dịch SWAP cần phải xem xét thay đổi lãi suất của cả hai đồng tiền. 3.2 Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng (rủi ro độ tin cậy) là tình trạng khách hàng hay đối tác của ngân hàng cố tình hoặc rơi vào tình trạng bất khả kháng, không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng giao dịch mua bán ngoại tệ vào thời điểm phát sinh các nghĩa vụ cam kết đó.
  16. Trong rủi ro tín dụng, có rủi ro đối tác và rủi ro do các nguyên nhân chính trị. 3.2.1. Rủi ro đối tác Với mỗi nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do ngân hàng ký kết, luôn xuất hiện rủi ro do bên đối tác không chịu hay không thể thực hiện trách nhiệm của họ do các nguyên nhân chủ quan, và hậu quả là hoạt động này sẽ kết thúc bằng thua lỗ. Giả sử một ngân hàng bán cho một khách hàng hay một ngân hàng khác 5 triệu GBP với tỉ giá GBP/SGD là 2,8005 và mua lợng này từ một ngân hàng khác theo tỉ giá GBP/SGD là 2,8. Sau khi đã ký kết hợp đồng với ngời mua thì ngời mua bị phá sản và không thể thực hiện trách nhiệm của mình. Tỉ giá GBP/SGD trên thị trờng hạ xuống còn 2,75, ngân hàng đành phải bán theo giá này cho đối tác khác và chấp nhận chịu lỗ 250.000 SGD. 3.2.2. Rủi ro chính trị Là trờng hợp rủi ro xảy ra khi đối tác giao dịch ở nớc ngoài (có thể là chính phủ, ngân hàng hay khách hàng) không thể hoặc có thể không thực hiện đợc các nghĩa vụ cam kết trong giao dịch mua bán ngoại tệ vào thời điểm phát sinh các nghĩa vụ cam kết mà nguyên nhân dẫn đến rủi ro này là tình trạng bất khả kháng do chiến tranh, bạo động, cách mạng, hay tuyên bố ngừng hoạt động hệ thống thanh toán ra nớc ngoài của chính phủ quốc gia đó. Điều này thực tế đã xảy ra với ngân hàng Herstatt tại Đức trong năm 1974. Nhiều ngân hàng Đức và ngân hàng nớc ngoài đã mua USD của ngân hàng Herstatt và phải trả tiền bằng đồng DEM 5-6 tiếng theo quy định trớc
  17. khi nhận đợc USD. Ngay sau khi các ngân hàng này trả tiền vào buổi tra thì đồng loạt các quầy giao dịch của ngân hàng Herstatt bị đóng cửa theo chỉ định của Cục thanh tra liên bang ngành tín dụng. Thông tin về việc đình chỉ thanh toán đã nhanh chóng lan ra trên toàn thế giới. Các ngân hàng ở Mỹ đã không thực hiện đợc những hợp đồng bán USD đã ký với ngân hàng Herstatt mặc dù họ đã nhận đồng DEM và lợng ngoại tệ này bây giờ chỉ đợc xem là những món nợ phải đòi đối với tài sản thanh lý còn lại. 3.3 Rủi ro về khả năng thanh toán Rủi ro về khả năng thanh toán trên thị trờng hối đoái cũng xuất hiện trong trờng hợp không có khả năng vó đợc vốn bằng đồng tiền nh dự định. Ví dụ: một giao dịch SWAP mua SGD kỳ hạn 3 tháng bằng đồng USD đồng thời bán SGD lấy USD kỳ hạn 1 tháng. Nếu ngân hàng trung ơng Singapore quyết định dừng mọi giao dịch hối đoái của mình vì lý do thị tr- ờng bất ổn định, chúng ta sẽ phải mua SGD trên thị trờng khác, những ngời bán SGD này không thể giao dịch với khối lợng lớn, chẳng hạn 1000 triệu SGD hoặc hơn, thì khó có thể thực hiện đợc giao dịch nh đã định. Trong tr- ờng hợp giao dịch không đợc thực hiện nh đã định, điều đó có nghĩa gần nh chắc chắn xảy ra tình trạng phá sản đối với một số tổ chức tài chính. 3.4 Rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động thờng thể hiện dới ba hình thức chính là rủi ro trong việc dùng ngời, rủi ro vận hành và rủi ro tổ chức. 3.4.1.Rủi ro trong việc dùng ngời: Là loại rủi ro xuất phát một cách chủ quan từ các nhân viên tham gia vào quá trình thực hiện giao dịch kinh doanh ngoại hối, nguyên nhân chính
  18. là còn hạn chế về trình độ, mức độ tinh thông nghiệp vụ cũng nh kinh nghiệm còn ít ỏi. Chẳng hạn một ngời kinh doanh quên không lập chứng từ mua bán, sau khi thực hiện hợp đồng thì khoản kinh doanh trong bảng cân đối của ngân hàng sẽ không thống nhất với thực trạng giao dịch, và hậu quả là sẽ phát sinh thiệt hại khi thanh toán sau này thông qua việc rút tiền vợt quá số tiền thấu chi (overdraft) qui định trên tài khoản của khách hàng nớc ngoài. Hay nếu nhân viên thiếu cẩn trọng dựa trên một địa chỉ sai để giao dịch cũng có thể gây ra thiệt hại lãi suất, nếu sau đó điều này đợc biết đến thì việc thanh toán đúng hạn là không thể thực hiện đợc. 3.4.2. Rủi ro vận hành Rủi ro vận hành trong kinh doanh ngoại hối có thể gặp phải từ những sai sót của mạng điện thoại, của giao dịch qua Telex, Reuter, giao dịch Telerate, hỏng hóc của máy tính cá nhân, hệ thống mạng bị quá tải, h hại đến thiết bị hay do mất điện... 3.4.3. Rủi ro tổ chức kiểm soát Là những rủi ro do hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý đem lại. Rủi ro này thờng có nguồn gốc từ sự phân công trách nhiệm cha rõ ràng giữa các bộ phận tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối: giao dịch, thanh toán, kiểm soát. Nói cách khác loại rủi ro này xuất hiện khi mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối còn cha hợp lý, hiệu quả kém.
  19.  Đánh giá vai trò và mức độ các loại rủi ro Vai trò và mức độ của mỗi loại rủi ro là khác nhau khi tham gia vào các giao dịch khác nhau. Nếu chúng ta đang giao dịch với các tổ chức đợc xếp vào loại tín dụng hàng đầu và chúng ta cũng thuộc nhóm lựa chọn đó thì rủi ro về tín dụng và khả năng thanh toán chỉ đóng vai trò thứ yếu nếu so sánh với rủi ro về tỷ giá và rủi ro về tỷ lệ lãi suất do các rủi ro này làm mất đi khả năng thu lợi của chúng ta hoặc thậm chí khiến ta có thể bị thua lỗ do dự đoán sai. Tuy nhiên khi chúng ta giao dịch với một khách hàng không có uy tín trên thế giới thì rủi ro tín dụng sẽ trở nên quan trọng hơn. Hơn nữa nếu chúng ta không thuộc một số các tổ chức có uy tín thì chúng ta cần phải chú trọng hơn đến rủi ro về khả năng thanh toán của mình. II. QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI. 1. Khái niệm quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối Định nghĩa về quản lý ngoại hối tự thân nó đã là một đề tài lớn. Tuỳ theo cách hiểu và trong từng lĩnh vực khác nhau mà ngời ta có những định nghĩa khác nhau về quản lý rủi ro. Ở đây, ta xem xét quản lý rủi ro dới khía cạnh là việc nhận định và áp dụng các biện pháp dự báo và phòng ngừa rủi ro dới khía cạnh là việc nhận định và áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro cần thiết, đồng thời có khả năng kiểm soát và quản trị đợc những rủi ro này nếu nh chúng xảy ra, nhằm mục đích tránh và hạn chế tối đa tổn thất thiệt thại, hoặc chấp nhận rủi ro ở mức nhất định có thể cho phép.
  20. 2. Vì sao quản lý rủi ro có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, có thể nói không thể tránh khỏi mọi rủi ro. Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng luôn có mối quan hệ cùng chiều. Peter Clairin, chuyên gia trong lĩnh vực quản lý rủi ro của ngân hàng Bank of NewYork đã đúc kết lại thành châm ngôn trong kinh doanh ngoại hối nh sau: “ More profit, more risks” (Lợi nhuận càng nhiều thì rủi ro sẽ càng lớn). Tuy nhiên, rủi ro có thể đợc giảm thiểu nếu nh việc quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đợc thực hiện tốt. Không có việc quản lý rủi ro thì giống nh việc ngời đi trong đêm không trông thấy đờng, không biết khi nào mình sẽ bị vấp ngã và liệu việc vấp ngã sẽ ảnh hởng đến sức khoẻ nh thế nào, có bị gãy chân hay chỉ bong gân mà thôi? Trong lịch sử, sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Baring chính là một minh chứng cụ thế cho vai trò to lớn của quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Hiện nay, vai trò của kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng, dó đó việc phát triển giao lu buôn bán quốc tế làm cho nhu cầu trao đổi tiền tệ giữa các nớc ngày càng tăng với khối lợng lớn. Thêm vào đó, trong chế độ tỷ giá thả nổi hiện nay, do nhiều nhân tố tác động làm cho tỷ giá hối đoái các đồng tiền biến đổi không ngừng từng ngày, từng giờ, cũng nh do việc kinh doanh ngoại hối diễn ra trên phạm vi quốc tế nên việc quản lý các giao dịch cũng nh việc hiểu biết kỹ về các bạn hàng là rất khó khăn. Điều này khiến cho các nhà kinh doanh ngoại hối phải đối mặt với rất nhiều rủi ro.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2