Một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho Công ty Cổ phần Hương Sen

Chia sẻ: Kim Kim | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
53
lượt xem
9
download

Một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho Công ty Cổ phần Hương Sen

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

3. Giải pháp nâng cao vai trò của bộ phận chuyên về thơng hiệu cho công ty Một điều quan trọng mà các doanh thiệp không thể không chú trọng tới, đó là bộ phận chuyên lo về thơng hiệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho Công ty Cổ phần Hương Sen

  1. Một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho Công ty Cổ phần Hương Sen 3. Giải pháp nâng cao vai trò của bộ phận chuyên về thơng hiệu cho công ty Một điều quan trọng mà các doanh thiệp không thể không chú trọng tới, đó là bộ phận chuyên lo về thơng hiệu. Vì thơng hiệu đối với doanh nghiệp là một tài sản lớn, vì thế cần có bộ phận quản lý nó. Trên thực tế, nếu không có chức danh quản lý thơng hiệu, doanh nghiệp không thể cùng một lúc chú tâm vào sản xuất, xây dựng một thơng hiệu mạnh và quản lý thơng hiệu tránh các vụ ăn cắp thơng hiệu. Hơn nữa việc kiểm tra phát hiện hàng nhái của các cơ quan chức năng cũng không thể nào làm tốt khi có tới hàng trăm ngàn thơng hiệu cũng cần đợc quản lý. Vì thế mà các cán bộ quản lý thơng hiệu cần tích cực hợp tác với các cơ quan chức năng trong việc phát hiện và xử lý nạn hàng giả. Vai trò của bộ phận chuyên lo về thơng hiệu quan trọng là nh vậy, song ở các doanh nghiệp hiện đang có ngời quản lý nhãn hiệu, họ cũng phải kiêm quá nhiều công việc, đôi khi lệch lạc so với chuyên môn. Sau đây là những công việc hiện ngời quản lý nhãn hiệu đang phải chịu tránh nhiệm:
  2. Nguồn : Cuộc khảo sát 500 doanh nghiệp Việt Nam về hiện trạng xây dựng nhãn hiệu do Hiệp hội các DNHVNCLC tiến hành Nh vậy, việc ngời quản lý nhãn hiệu phải cùng một lúc đảm đơng nhiều công việc vẫn còn phổ biến. Vì thế đôi khi chất lợng công việc chính của họ lại không đạt đợc. Công ty cũng đang vấp phảI khó khăn tơng tự . Vì thế, trong thời gian tới, công ty cần phân bổ công việc phù hợp đúng với chuyên môn chính của các nhân viên trong bộ phận chuyên lo về thơng hiệu. Mặt khác, cần có chế độ đào tạo bồi dỡng chuyên môn cho ngời quản lý nhãn hiệu. Việc đào tạo đối với ngời quản lý nhãn hiệu ở các doanh nghiệp Việt Nam đợc thể hiện quan đồ thị sau :
  3. Nguồn : Cuộc khảo sát 500 doanh nghiệp Việt Nam về hiện trạng xây dựng nhãn hiệu do Hiệp hội các DNHVNCLC tiến hành Qua đồ thị 3.2, ta thấy tuy các doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng vào công tác đào tạo, bồi dỡng nghiệp vụ cho các bộ quản lý nhãn hiệu. Nhng trên thực tế, việc các cán bộ quản lý nhãn hiệu phải tự lo về việc đào tạo còn phổ biến. Nếu doanh nghi ệp có tổ chức những lớp bồi dỡng nghiệp vụ thì cũng chỉ là các khóa huấn luyện trong nớc trong khi mục tiêu chính của phần lớn các doanh nghiệp là hớng ra thị trờng thế giới. Hơn nữa, các lớp bồi dỡng này nếu có đợc tổ chức thì cũng chỉ là những lớp đào tạo ngắn ngày, có khi chỉ vài buổi là xong. Nhận thức đợc hạn chế này, trong thời gian tới, công ty phải đầu t hơn nữa cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách này. Công ty cần chịu trách nhiệm chính trong việc đào tạo cho các bộ quản lý nhãn hiệu. Cần thờng xuyên tổ chức các khóa học trong và ngoài nớc vì tình hình thực tế luôn thay đổi, nó đòi hỏi ngời quản lý phải nắm bắt các kiến thức về mặt lý thuyết cũng nh thực tế để có kế hoạch quản lý tốt. Tóm lại, nếu công ty biết quan tâm đúng mức tới vấn đề thơng hiệu thì việc có nâng cao vai trò cán bộ chuyên trách về nhãn hiệu là một việc làm tất yếu. Làm đợc nh vậy, công ty sẽ chủ động hơn trong việc xây dựng và quản lý thơng hiệu. 4. Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở các thị trờng mới
  4. Để đợc pháp luật bảo hộ tránh những rủi ro bị xâm phạm nhãn hiệu, nhất là đối với một doanh nghiệp xuất khẩu nh công ty, đăng ký nhãn hiệu tại thị trờng nớc ngoài mang ý nghĩa sống còn. Việc đăng ký không những vì lợi ích trớc mắt cho công ty là có thể bán hàng trực tiếp cho doanh nghiệp nớc ngoài không cần tốn kém chi phí trung gian, không bị các công ty nớc ngoài lấy nhãn mác của họ đặt tên cho sản phẩm của mình, không bị dìm giá trên thị trờng vì sản phẩm không có nhãn mác,... mà còn vì lợi ích về lâu dài là tạo nên một thơng hiệu uy tín, chất lợng. Trớc hết, công ty cũng phải quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp ở đâu cho hợp lý và có lợi nhất, không đăng ký bừa bãi ở các thị trờng mình không thể vơn tới, vì nh thế cũng sẽ rất tốn kém, lãng phí ... Trớc khi đăng ký nhãn hiệu, công ty cần xác định thị trờng của mình để tìm hiểu luật sở hữu của nớc đó. Công ty cần tìm hiểu quốc gia cần đăng ký nhãn hiệu nằm trong hệ thống sở hữu trí tuệ nào để công ty có thể tham gia đăng ký theo hệ thống đó. 5. Giải pháp nâng cao chất lợng sản phẩm Vấn đề chất lợng sản phẩm đợc tạo ra phải đợc u tiên hàng đầu. Chất lợng sản phẩm chính là yếu tố quan trọng để không chỉ khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là giữ đợc khách hàng. Thơng hiệu của sản phẩm không thể xây dựng trên nền tảng của những sản phẩm cha đáp ứng tiêu chuẩn chất lợng. Chất lợng cao ổn định đồng đều sẽ tạo cho khách hàng thêm tin tởng. Xét về chất lợng, để tạo ra một sản phẩm đảm bảo chất lợng theo đúng yêu cầu đòi hỏi nhiều yếu tố: Chúng ta xét đến các yếu tố chủ quan, yếu tố nằm bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soát đợc. Thứ nhất: Con ngời là yếu tố quyết định chất lợng sản phẩm nói riêng và sự phát triển của công ty nói chung. Vì vậy, mu ốn nâng cao chất lợng sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngời tiêu dùng thì doanh nghiệp dệt may phải đầu t thích đáng cho con ngời nhằm nâng cao trình độ tổ chức quản lý diều hành cũng nh tay nghề cho cán bộ công nhân viên. Trong thời gian tới công ty tiếp tục tổ chức thi tay nghề cho công nhân nhằm thúc đẩy việc trau dồi kĩ năng nghề nghiệp của công nhân, phát hiện những kĩ năng yếu kém phổ biến để đề ra biện pháp khắc phục. Thứ hai: Trong quá trình hội nhập, sản phẩm có chỗ đứng trên thị trờng quốc tế thì việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình của hệ thống quản lý chất lợng (ISO 9000), xử lý môi trờng (ISO 14000) là điều nên làm. Để đạt đợc yêu cầu đó, công ty cần phải đổi mới mạnh mẽ trong đầu t nh mở rộng nhà xởng, tăng cờng hiện đại hóa thiết bị chuyên dụng, áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất quản lý.
  5. Thứ ba: Chú ý hơn đến chất lợng của nguyên vật liệu đầu vào, kiểm tra lựa chọn cẩn thận, kỹ lỡng trớc khi đa vào quá trình sản xuất. 6. Chú trọng hơn tới công tác sáng tạo mẫu sản phẩm tạo nên sự độc đáo về chất liệu, mẫu mã, màu sắc Nh chúng ta đã biết sản phẩm đồ gỗ nội thất đang trở thành mặt hàng nhạy cảm chạy theo mốt, yêu cầu về chất lợng và độ bền có xu hớng đứng sau yêu cầu về kiểu dáng và mẫu mã. Chính vì thế các chuyên gia của Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam (VNCI) đã khuyến cáo các doanh nghiệp làm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không nên quá chú trọng tới việc cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc hay Thái Lan về giá cả. Tất nhiên điều này không có nghĩa là sản phẩm có giá quá cao. Điều mà các nhà sản xuất Việt Nam nên lu ý là tính độc đáo của sản phẩm để tạo sự khác biệt với các sản phẩm nớc ngoài. Ba yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là: Thiết kế tạo dáng sản phẩm; Sự đồng nhất về chất lợng trong tất cả các lô hàng và khả năng mở rông quy mô sản xuất. Một chuyên gia cũng cho biết hiện các sản phẩm đặc thù của Việt Nam đang có sức hút lớn tại một số thị trờng đồ nội thất gia đình ở nớc ngoài. Sáng tạo mẫu sản phẩm hiểu một cách đơn giản là tạo ra cái đẹp mới mang ý nghĩa thời trang. Ngày nay trên thế giới khái niệm thời trang (fashion) đợc hiểu rất rộng. Thời trang không chỉ là quần áo, giày dép, đồ nữ trang mà còn là phơng tiện sinh hoạt (bàn ghế, đồ trang trí trong nhà), phơng tiện giao dịch (điện thoại, ôtô) và rất nhiều thứ khác liên quan đến cuộc sống con ngời. Sáng tạo mẫu sản phẩm cho hàng thủ công mỹ nghệ cũng phải mang ý nghĩa thời trang nh vậy mới mong bán đợc nhiều hàng. Một sản phẩm dù đẹp, đợc chế tạo cầu kỳ, tinh xảo nhng không mới cũng rất ít ngời mua. Một sản phẩm không cầu kỳ thậm chí rất giản dị nhng đem lại cho ngời tiêu dùng sự cảm nhận ấn tợng về một cái đẹp mới lại bán rất chạy. Đó là một thực tế mà những ngời sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đều ít nhiều từng đợc chứng kiến. Về mẫu mã: Công ty tiếp tục nghiên cứu sáng tạo nhiều mẫu mã mới đáp ứng đợc thị hiếu tiêu dùng ngày càng phong phú đa dạng của khách hàng. Công ty dự định tăng cơ cấu dòng sản phẩm khối trang trí từ 30% năm 2004 lên 50% năm 2005. Quyết định này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
  6. + Qua việc nghiên cứu xu hớng tiêu dùng của khách hàng công ty nhận thấy dòng hàng này đang ngày càng đợc a chuộng nhất là với thị trờng Mỹ. + Hai dòng sản phẩm bình, lọ và âu, đĩa đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh cùng dòng sản phẩm nhng sử dụng chất liệu gốm và thủy tinh. + Khối trang trí ít bị cạnh tranh do những u thế về công nghệ hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh. Khi họ sử dụng chất liệu gốm và thuỷ tinh khó có thể thành công với dòng sản phẩm này vì chi phí cao và không đảm bảo đợc tính mỹ thuật với các khối phức tạp. Về chất liệu: Công ty tiếp tục thử nghiệm sản xuất với những chất liệu tự nhiên để khai thác vẻ đẹp tối đa mà thiên nhiên ban tặng. Trong năm sắp tới công ty sẽ đa ra thị trờng sản phẩm chất liệu bề mặt là lá buông. Hiện nay chất liệu này đang đợc giới thiệu, chào hàng ở nhiều thị trờng và đã có những thông tin phản hồi khá khả quan. Phơng châm của công ty là tạo cho sản phẩm ngày càng gần gũi, thân thiện hơn với ngời tiêu dùng. Về màu sắc: Công ty đang tiếp tục tìm hiểu thị hiếu màu sắc của những năm sắp tới để đáp ứng kịp thời. Từ việc nghiên cứu chính những khách hàng của mình cũng nh sử dụng dịch vụ t vấn của một Công ty Design của Mỹ, công ty sẽ phát hiện đợc những xu hớng màu sắc cho sản phẩm của mình. Một vấn đề công ty cần quan tâm đó là xu hớng màu sắc của đồ trang trí nội thất luôn có mối quan hệ mật thiết với xu hớng màu sắc của hàng may mặc nhất là với chất liệu vảI lụa. Vì thế một kênh thông tin màu sắc nữa mà công ty có thể tiếp cận đợc đó là các trung tâm thời trang lớn ở Mỹ, Anh, Pháp, Ý. Năm 2005 này, công ty dự định hoàn tất mọi công đoạn sản xuất thử nghiệm để đa ra thị trờng 2 màu là đá trắng và đá đen. 7. Giải pháp về chính sách giá Đứng trớc việc phải đối mặt với sự cạnh tranh của các sản phẩm thay thế làm bằng chất liệu gốm và thủy tinh nhất là đối với dòng sản phẩm bình lọ, âu đĩa. So với các đối thủ đó sản phẩm của công ty đang có giá cao hơn. Trong thời gian tới công ty phải nghiên cứu tìm mọi biện pháp cải tiến quy trình sản xuất hạ giá thành sản phẩm. Đối với từng khách hàng cũng nh từng đơn hàng cũng cần phải có chính sách giá hợp lý hơn nữa sao cho vừa đảm bảo lợi nhuận cho họ vừa đảm bảo giá tới ngời tiêu dùng cuối cùng vẫn hợp lý.
  7. Các công ty xuất khẩu Việt Nam công ty dự định áp dụng mức giá thấp hơn 40% so với thị trờng Mỹ và EU. Công ty phải áp dụng mức giá thấp với họ để họ trang trải các chi phí tiếp cận thị trờng nghách, có nh thế sản phẩm của công ty đén với ngời tiêu dùng ở thị trờng này hợp lý hơn. 8. Giải pháp mở rộng kênh phân phối Trong thời gian tới để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong khâu kiểm soát chất lợng công ty nên mở rộng kênh phân phối. Công ty sẽ lập hệ thống Showroom tại các thành phố lớn ở một số nớc thuộc EU, Mỹ, Nhật Bản. Sản phẩm qua kênh này dự kiến chiếm tỉ trọng 5% tổng sản phẩm hàng hóa lu thông trong mạng lới kênh phân phối của công ty. 9. Giải pháp hoàn thiện các công cụ phát triển thơng hiệu
  8. Thực tế cho thấy mỗi công cụ đều có những u điểm riêng, phát huy tác dụng trong những thời điểm nhất định cũng nh môi trờng văn hóa đặc thù. Chính vì thế để phù hợp với tình hình thực tế trong thời gian sắp tới công ty sẽ có những điều chỉnh nh sau: ã Thay thế khẩu hiệu thân thiện hơn Trong thời gian tới công ty nên đa vào sử dụng câu khẩu hiệu mới The art of decoration. Với sự thay đổi này công ty hi vọng đem đến cho khách hàng cái nhìn thân thiện hơn, gần gũi hơn về hình ảnh sản phẩm của công ty. Đối với khách hàng hiện tại khẩu hiệu này sẽ có tác dụng tạo niềm tin vững chắc hơn nữa về công ty, còn với khách hàng tiềm năng nó sẽ nh lời gợi mở chào đón giản dị, thân thiện. Qua đó, tăng cờng quảng bá hình ảnh của công ty với khách hàng. ã Thiết kế bao bì nổi bật Bao bì là một trong những công cụ tởng nh đơn giản những lại có tác dụng to lớn trong việc quảng bá hình ảnh sản phẩm của công ty. Việc cha chú trọng vào thiết kế bao bì là một trong những hạn chế cần khắc phục ngay của công ty. Vì thế trong thời gian tới công ty phải tập trung hoàn thiện việc thiết kế bao bì với những tiêu chí cần thiết sau: + Bao bì đợc thiết kế cần đạt những tiêu chuẩn nh tạo nhận biết cho nhãn hiệu qua hình thức, màu sắc, thiết kế, kiểu dáng. + Bao bì cần phảI cung cấp những thông tin cần thiết và thuyết phục về lợi ích của sản phẩm cũng nh cách thức sử dụng và tạo sự tiện lợi cho sự di chuyển và bảo vệ sản phẩm không bị h hại. + Bao bì cần tạo sự tiện lợi cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm nh dễ mở, dễ đóng, dễ cầm, dễ cất, dễ lấy sản phẩm ra. + Ngoài những tiêu chuẩn về kĩ thuật, bao bì sản phẩm cần có một thiết kế nổi bật có thể đợc khách hàng nhận biết nhanh khi cùng đợc trng bày trên cùng một vị trí với đối thủ cạnh tranh. Điều này có thể đợc thực hiện qua hình dáng kích thớc hoặc màu sắc, hình ảnh bắt mắt của bao bì. 10. Giải pháp chủ động trong đấu tranh chống nạn hàng giả Trớc hết, công ty cần nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của công tác đấu tranh chống vi phạm nhãn hiệu hàng hóa là vì quyền và lợi ích hợp pháp, uy tín và thị phần của công ty. Từ đó, hành động tích cực trong việc hợp tác với các cơ quan chức năng trong cuộc đấu tranh này.
  9. Một lần nữa, vai trò ngời chuyên trách về sở hữu công nghiệp đợc thể hiện rõ. ở các công ty nớc ngoài, họ có những ngời chuyên phụ trách vấn đề này, kiểm soát thị trờng để phát hiện các vụ vi phạm họ thu thập đầy đủ bằng chứng rồi mới nhờ đến bàn tay của các cơ quan chức năng. Để tự bảo vệ mình khỏi nạn làm hàng giả công ty phải thực hiện xác lập quyền sở hữu của mình, thực hiện dán tem chống hàng giả, tăng cờng đầu t đổi mới công nghệ, quản lý chặt chẽ hệ thống bán hàng, theo dõi và phát hiện những sản phẩm có dấu hiệu làm giả. Trong trờng hợp bị xâm phạm, công ty phải kiên quyết đấu tranh để bảo vệ mình và ngời tiêu dùng, tránh tâm lý e ngại, sợ ảnh hởng đến doanh thu, sợ tốn kém, bởi tính toán cái đợc cái mất trớc mắt mà không tính đến lâu dài. Bên cạnh các biện pháp nh khởi kiện, công ty cũng có thể sử dụng những biện pháp phụ trợ nh khuyến cáo trên báo để thông tin rộng rãi về việc vi phạm của doanh nghiệp kia và yêu cầu họ chấm dứt ngay hành động này cùng với ảnh chụp sản phẩm mang nhãn hiệu xâm phạm để tránh sự hiểu lầm cho khách hàng. Trong trờng hợp nhãn hiệu bị doanh nghiệp nớc ngoài đăng ký trộm, công ty sẽ phải cân nhắc một cách kỹ càng để giải quyết một cách hợp lý nhất. Công ty có thể thơng lợng với phía bên kia theo hớng bỏ ra một số tiền để chuộc lại quyền sở hữu đối với nhãn hiệu. Nếu không thơng lợng hoặc không đạt đợc thơng lợng thì có thể khởi kiện. Ngoài ra, công ty còn có thể phải đổi tên nhãn hiệu nếu hai biện pháp trên quá tốn kém so với việc xây dựng một nhãn hiệu mới. IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NỚC 1. Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ hoàn thiện Một trong những bức xúc hàng đầu mà các doanh nghiệp lo lắng là sự thiếu chính xác, chồng chéo và sự rõ ràng của hệ thống luật pháp. Vì thế, sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống luật rõ ràng, chính xác và có tác dụng là đề nghị mà các doanh nghi ệp Việt Nam mu ốn Nhà nớc sớm thực hiện. Nhà nớc cần cải tiến hơn nữa thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, đồng thời sớm cải cách t pháp để việc tố tụng đợc nhanh chóng và hiệu quả, việc thi hành thực sự đợc đảm bảo hiệu lực. Cụ thể, cần thực hiện chính sách một cửa trong việc giải quyết khiếu nại vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Nên thành lập một bộ phận thờng trực
  10. chuyên tiếp các đơn th khiếu nại vi phạm quyền sở hữu công nghiệp và chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Đối với một số mặt hàng có đặc điểm riêng biệt nh mặt hàng thủ công mỹ nghệ phải thờng xuyên thay đổi mẫu mã, nên chăng Nhà nớc nghiên cứu và đa ra những quy định riêng nhanh chóng hơn, linh hoạt hơn về đăng ký kiểu dáng, nhãn hiệu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong ngành này. Chỉ có nh vậy việc đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm thủ công mới khả thi. Thực tế hiện nay cho thấy, dù muốn đăng ký nhãn hiệu nhng các doanh nghiệp không biết nên làm thế nào vì đăng ký một nhãn hiệu chung cho cả lô thì rất dễ bị làm nhái, còn đăng ký kiểu dáng cho từng sản phẩm thì doanh nghiệp không thể theo kịp hoặc không kham đủ chi phí. Nhà nớc cũng cần nhanh chóng bổ sung những quy định về một số vấn đề hiện nay cha đợc đề cập đến và làm rõ những quy định còn mập mờ, gây hiểu lầm. Ví dụ nh điều luật quy định về tên doanh nghiệp còn chung chung, ớc lệ đã gây nhiều khó khăn trong việc giải quyết các khiếu kiện liên quan đến tranh chấp về tên công ty. Tên doanh nghiệp là một vấn đề lớn, không thể dùng văn bản của một bộ để hớng dẫn trên toàn quốc. Vì vậy, Bộ Kế hoạch và đầu t cần phối hợp với Bộ Văn hóa thông tin, Cục Sở hữu công nghiệp nghiên cứu để đề xuất với Thủ tớng Chính phủ phơng án soạn thảo nghị định hớng dẫn việc đặt tên doanh nghiệp. Văn bản này cũng nên liệt kê những từ không đợc dùng khi đăng ký kinh doanh (nh Thái Lan đã làm), hoặc yêu cầu chủ doanh nghiệp đăng ký tên trớc một thời gian (nh Trung Quốc) để rà soát, hạn chế việc trùng lắp với các công ty đã đăng ký trớc đó. Nhà nớc cũng cần đa ra những quy định về việc mua bán, chuyển nhợng nhãn hiệu để quản lý chặt chẽ hoạt động này, ngăn chặn những hành vi lừa đảo, chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác. Cần bổ sung những văn bản thực thi quyền sở hữu công nghiệp cho từng lĩnh vực, bổ sung một số hành vi sử dụng đối tợng sở hữu công nghiệp hiện nay cha đợc đề cập nh: quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi các nhãn hiệu dùng cho các dịch vụ và ban hành cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Để các doanh nghi ệp bị vi phạm nhãn hiệu yên tâm theo kiện, cần có chế tài quy định về mức đền bù chi phí tiến hành các biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu công
  11. nghiệp, cần tăng mức phạt vi phạm quyền sở hữu công nghiệp vì mức hiện nay quá thấp để nó thực sự có đủ sức mạnh răn đe, ngăn chặn. Cũng cần có chế tài xử phạt đủ mạnh đối với những ngời thực thi luật sở hữu công nghiệp không tốt để ngăn chặn cách làm việc tùy tiện, không thực hiện đúng và đầy đủ chức năng của một số cán bộ thuộc các cơ quan chức năng. Nh vậy, nếu xây dựng đợc một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện đủ mạnh, hiện tợng mập mờ, chồng chéo, thiếu tính logic của các văn bản pháp lý sẽ đợc hạn chế đáng kể. Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần Hơng Sen nói riêng sẽ yên tâm hơn trong việc xây dựng và quản lý nhãn hiệu của mình. 2. Trừng phạt nghiêm khắc những vụ vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu Nhà nớc phải đa ra chính sách rõ ràng, thực thi nghiêm khắc, sử phạt thích đáng nạn hàng giả, nhái nhãn hiệu. Nỗi bức xúc về tình trạng hàng giả, hàng nhái tràn lan mà không bị ngăn chặn luôn xuất hiện đầu tiên trong các kiến nghị của doanh nghiệp. Theo quy định hiện nay, chế tài phạt cảnh cáo đối với những trờng hợp vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu chỉ là từ 5 đến 10 triệu đồng. Mức chế tài phạt nặng hơn, cao nhất là 100 triệu. Nhng số tiền phạt này thực tế chỉ là 20 triệu, một con số quá ít ỏi so với những hậu quả của nạn ăn cắp nhãn hiệu mang lại. Vì thế, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần có biện pháp cứng rắn hơn trong việc xử phạt những kẻ làm hàng giả, kể cả cán bộ tiếp tay cho bọn chúng để giảm mức phạt cũng cần xử lý thật nghiêm, tránh tệ nạn tham nhũng xảy ra làm ảnh hởng không nhỏ đến quyền lợi của nhiều bên liên quan. Nh đã nói ở trên, thiết lập và củng cố một hệ thống sở hữu công nghiệp đầy đủ và có hiệu quả là một đòi hỏi của quá trình hội nhập, cũng nh của công cuộc công nghi ệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Xu thế chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức đang đòi hỏi phải nhanh chóng thực hiện các mục tiêu liên quan đến sở hữu trí tuệ. Để đạt đợc mục tiêu đó, chúng ta chủ trơng chặn đứng tệ nạn công nghiệp hàng giả, chủ trơng tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của mọi chủ thể, nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý các hành vi giả mạo, đánh cắp, chiếm đoạt kết quả đầu t sáng tạo. Thực tế cho thấy, về mọi khía cạnh chủ yếu, nền sản xuất hàng giả chứa đựng nhiều nguy cơ và hậu quả xấu. Trớc hết, nạn hàng giả tạo ra và làm trầm trọng thêm căn bệnh dối trá, cớp giật, lừa đảo trong kinh doanh. Mặt khác, nạn hàng giả bóp nghẹt các nỗ lực sáng tạo trong nớc và làm nản chí các nhà đầu t nớc ngoài. Nạn hàng giả còn gây phơng hại toàn diện đến lợi ích vật chất, tinh thần của ngời tiêu dùng và xã hội, làm băng hoại
  12. đạo đức kinh doanh của chính những ngời bất lơng tham gia nền công nghiệp hàng giả… Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, các hoạt động kinh tế, thơng mại, cũng nh khuynh hớng ngày càng chú trọng hơn đến vấn đề bảo hộ sở hữu công nghiệp. Pháp luật quốc tế và quốc gia không cho phép một nền kinh tế có thể chọn lựa đạo đức kinh doanh bằng công nghi ệp hàng giả. Vì thế, Nhà nớc ta chủ trơng ngăn chặn việc sản xuất và lu thông hàng giả và coi đó nh một tội ác phá hoại các nỗ lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nền công nghiệp hàng giả đồng hành với kỹ nghệ đánh cắp tài sản trí tuệ. Vì vậy, việc chống hàng giả nhất thiết phải đợc sự hỗ trợ của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong đó phải đảm bảo khả năng xử lý thích đáng các hành vi giả mạo, sao chép, sử dụng bất hợp pháp các đối tợng sở hữu công nghi ệp. Nạn hàng giả là vấn đề mu ôn thủa của mọi nền kinh tế, vì vậy việc dập tắt hóan toàn nạn hàng giả là điều khó thực hiện đợc. Triển vọng lớn nhất cho giải pháp nêu trên là ngăn chặn và hạn chế tối đa nạn hàng giả để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chân chính phát triển, bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng. 3. Tổ chức các kênh thông tin hiệu quả đến doanh nghiệp Một vấn đề hiện nay cũng rất đợc các doanh nghiệp và d luận quan tâm là các cơ quan chức năng cần xây dựng các kênh hệ thống thông tin thơng mại hiệu quả hơn cho các doanh nghiệp. Trong thời đại ngày nay, thông tin là yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp, tuy nhiên các kênh thông tin thơng mại của nớc ta hoạt động cha hiệu quả và giá mua các thông tin chuyên sâu còn cao nên không hấp dẫn các doanh nghi ệp. Ngay đối với vấn đề nhãn hiệu, trớc đây các cơ quan chức năng cha hề khuyến cáo các doanh nghi ệp về việc cần phải đăng ký bảo vệ nhãn hiệu ở thị trờng trong nớc và nớc ngoài để đến khi hàng loạt các nhãn hiệu nổi tiếng của chúng ta bị xâm phạm thì “mất bò mới lo làm chuồng”. Cũng không có cơ quan chức năng nào cung cấp cho các doanh nghiệp thông tin về các hiệp định, hiệp ớc về nhãn hiệu mà chúng ta đã ký với các quốc gia và các tổ chức... Ngay việc đơn giản là cung cấp thông tin về các nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu mã đã đợc đăng ký để tránh sự trùng lặp cũng cha đợc thựa hiện. Hiện nay có “Công báo Sở công nghiệp” ra ngày 25 hàng tháng, công bố tất cả những nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu mã đăng ký trong tháng đó. Nhng nó không đợc bán ra mà cấp trực tiếp từ Cục Sở hữu công nghiệp theo 4 loại cơ quan: Tòa án nhân dân cấp tỉnh, các sở Khoa học Công nghệ và Môi trờng, các cơ quan quản lý thông tin các địa phơng, cơ quan hải quan các địa phơng. Nhng vì quyển “Công báo sở hữu công nghiệp” không đợc quảng bá ra ngoài nên ngay sự tồn tại của nó các doanh nghiệp cũng không thể biết tới.
  13. Nguồn thông tin từ các cơ quan chức năng đến các doanh nghi ệp là vô cùng cần thiết và quan trọng để giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời về pháp luật, những qui định mới của các tổ chức, chính phủ, những biến động trên thị trờng... Tuy nhiên, ở Việt Nam, kênh thông tin này hoạt động cha hiệu quả. Đặc biệt những thông tin về xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu càng chẳng bao giờ đợc đề cập đến cho đến tận khi hàng loạt nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam bị xâm phạm. Trớc đó, cha bao giờ các doanh nghiệp đợc khuyến cáo về việc cần phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở thị trờng nớc ngoài để tránh nguy cơ bị đánh cắp. Vì vậy mà các thông tin về thủ tục, quy trình đăng ký nhãn hiệu theo pháp luật của các nớc, theo những công ớc về nhãn hiệu mà Việt Nam đã tham gia càng không bao giờ đợc cung cấp cho các doanh nghiệp. Điều gì đến đã phải đến. Những thiệt thòi, mất mát trong thời gian qua là bài học đắt giá cho chúng ta. Đến tận bây giờ, vấn đề cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp vẫn cha đợc thực hiện một cách đúng mức và hiệu quả. Tìm kiếm và xử lý thị trờng để nắm bắt các cơ hội kinh doanh là khâu yếu kém nhất của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, do vậy, Nhà nớc cần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp trong vấn đề này. Việc cung cấp thông tin từ phía các cơ quan chức năng cha đáp ứng đợc nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp. Các cơ quan chức năng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các thông tin chung chung mà cha có những thông tin chuyên sâu, cụ thể để giúp các doanh nghiệp đa ra các quyết định của mình. Chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của một số nớc nh Mỹ, Nhật, Hàn Quốc tổ chức dịch vụ nghiên cứu thông tin theo yêu cầu của doanh nghiệp. Qua những ý kiến trên, chúng ta có thể thấy vấn đề cấp thiết hiện nay đối với các cơ quan chức năng còn là việc xem xét, điều chỉnh, tăng cờng hoạt động của các kênh thông tin thơng mại để chúng hoạt động thật sự hiệu quả, đem đến cho doanh nghiệp những thông tin cần thiết, kịp thời. Cụ thể, chúng ta cần tăng cờng việc thành lập những sàn giao dịch điện tử để trng bày, giới thiệu sản phẩm trên mạng Internet nh trang web vừa đợc hoàn thiện năm 2003 đó là: www.thuonghieuviet.com. Đây sẽ là đầu mối cung cấp thông tin về thị trờng, doanh nghiệp, sản phẩm và là nơi hỗ trợ giao dịch trực tuyến qua đó doang nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân đều có thể cập nhật các thông tin liên quan đến nhãn hiệu trên thị trờng Việt Nam nh những khái niệm cơ bản nhất về thơng hiệu các thủ tục đăng ký nhãn hiệu ra các nớc và khu vực trên thế giới, cập nhật hàng tuần những nhãn hiệu mới đợc đăng ký, hỏi đáp thông tin liên quan đến nhãn hiệu… Mặt khác, đây cũng là kênh thông tin giúp các doang nghiệp tìm kiếm đối tác trong và ngoài nớc bởi khi tham gia vào trang web này, các
  14. doanh nghiệp không những có thể quảng bá tuyên truyền về nhãn hiệu của mình mà còn cung cấp các thông tin cần thiết nh thông tin về sản phẩm, chất lợng, năng lực xuất khẩu, khả năng cung cấp hàng, thời gian giao hàng… Đặc biệt các thành viên phải cung cấp đầy đủ các thông tin thị trờng, gía cả, chính sách pháp luật. Để sàn giao dịch điện tử hoạt động hiệu quả, các cơ quan chức năng cũng cần tổ chức tuyên truyền, giới thiệu về sàn giao dịch này trên hệ thống xúc tiến thơng mại quốc tế. Hàng năm, Cục Sở hữu công nghiệp nên có bản thông báo tơng tự nh niên giám để công bố tất cả những nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu mã đăng ký trong năm đó. Vậy, nên chăng là quảng bá các nhãn hiệu rộng rãi đến tận các doanh nghiệp thì mới thực sự phát huy đợc tác dụng vì nhiều khi doanh nghiệp muốn biết về các nhãn hiệu đã đăng ký trớc khi đăng ký nhãn hiệu của mình để tránh trùng lặp cũng không biết lấy thông tin ở đâu. Một việc cấp thiết nữa phải làm là Nhà nớc đầu t và mời chuyên gia tổ chức ngay những đợt tập huấn rộng rãi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu về pháp luật sở hữu công nghiệp, về xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu trên thị trờng trong và ngoài nớc. Ngoài việc các doanh nghi ệp tự mình tìm kiếm thông tin qua các kênh khác nhau, việc tìm thông tin thông qua ngời đại diện hay luật s cũng rất phổ biến đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Theo một thống kê cha công bố, có tới 80-90% các yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp đợc thực hiện thông qua ngời đại diện sở hữu công nghiệp, chứng tỏ nhu cầu thực tế về lĩnh vực này rất cao. Tuy nhiên theo nh quy định tại Nghị định 63/NĐ-CP, các điều kiện để đợc cấp thẻ ngời đại diện sở hữu công nghiệp dờng nh không thuận lợi. Vì vậy mà tới nay mới chỉ có hơn 50 tấm thẻ đợc cấp. Con số ít ỏi đó không thể đáp ứng đợc nhu cầu cao của hoạt động dịch vụ sở hữu công nghiệp. Nhà nớc cần tìm ra biện pháp thích hợp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xác lập kênh thông tin riêng của mình thông qua ngời đại diện. Trong tình hình nhiều nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam bị “ăn cắp” trên thị trờng thế giới thì sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng đối với các doanh nghi ệp Việt Nam trong các vụ tranh tụng quốc tế là rất cần thiết. Lỗ hổng lớn nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam cần đợc hỗ trợ để khoả lấp là sự thiếu hiểu biết về pháp luật, thiếu thông tin về thị trờng các nớc. Vì thế, các cơ quan chức năng cần cung cấp mọi thông tin cần thiết cho doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể chuẩn bị chu đáo cho cuộc tranh tụng đó. Một kết quả tốt đẹp sẽ là điều hiện thực nếu giải pháp này đợc thực hiện tốt bởi các cơ quan chức năng. Các doanh nghiệp Việt Nam luôn ở trong tình trạng đói thông tin nhng
  15. lại không biết làm sao để giải tỏa cơn đói đó. Vì thế, nếu đợc cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết liên quan đến nhãn hiệu, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thể một mặt, giảm thiếu các rủi ro trong kinh doanh, một mặt, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 4. Nâng cao trình độ của các cán bộ cơ quan chức năng Trình độ của các cán bộ cơ quan thực thi cũng là một nguyên nhân chủ yếu khiến việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp nói chung, sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nói riêng kém hiệu quả. Chính vì thế, yêu cầu đặt ra là làm sao để nâng cao trình độ cũng nh đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ trong các cơ quan chức năng. Nhà nớc cần tuyển dụng những cán bộ có trình độ chuyên môn cao, đề ra những tiêu chuẩn mà các cán bộ phải đáp ứng tơng đơng với vị trí, nhiệm vụ của họ. Sau đó, phải thờng xuyên bồi dỡng nâng cao trình độ của các cán bộ này bằng cách tổ chức các lớp bồi dỡng nâng cao nghiệp vụ. Yếu tố đạo đức nghề nghiệp cũng cần đợc quan tâm. Ngoài việc trau dồi nghiệp vụ, Nhà nớc cũng cần quan tâm đến đời sống của các cán bộ, có chế độ thởng phạt thích đáng, một mặt để răn đe từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ trong công việc, tránh tình trạng tham ô, móc nối với kẻ làm hàng giả, hàng nhái, một mặt khuyến khích tinh thần họ để họ có thể tâm huyết với nghề hơn. Hà Nội, tháng 6 năm 2005 Sinh viên: Nguyễn Thị Minh KẾT LUẬN Thực tế trong thời gian qua cùng với những biến đổi của môi trờng kinh doanh đã cho thấy cạnh tranh trên thơng trờng đang ngày càng quyết liệt. Bất kể lĩnh vực hoạt động nào cũng đều tồn tại tính ganh đua mạnh mẽ. Tìm mọi cách để chinh phục đợc ngời tiêu dùng
  16. lựa chọn sản phẩm do doanh nghiệp mình sản xuất đang là vấn đề mà các doanh nghiệp phải tìm cách giải quyết. Chính vì thế các doanh nghiệp đang sử dụng nhiều biện pháp có thể để đạt đợc vị trí hàng đầu trong việc quyết định mua của ngời tiêu dùng. Một giải pháp đợc nhắc đến nhiều nhất trong thời gian qua là vấn đề xây dựng thơng hiệu hàng hóa cho doanh nghiệp. Vào thời điểm này, khi mà hội nhập kinh tế đang diễn ra hết sức nhanh chóng thì vấn đề này càng trở nên cần thiết. Để đạt đợc mục tiêu của mình thì đối với các doanh nghiệp, đây là một sự lựa chọn đúng đắn. Chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm đợc rằng mặc dù thách thức cạnh tranh mạnh mẽ hơn nhng các doanh nghiệp Gỗ mỹ nghệ Việt Nam có thể tự tin để hội nhập. Một khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO đúng nh mục tiêu đã đặt ra vào cuối năm nay, hàng Gỗ mỹ nghệ Việt Nam vẫn luôn là đối thủ nặng ký trong cuộc cạnh tranh trên thị trờng Gỗ mỹ nghệ thế giới. Tuy nhiên, con đờng trớc mắt còn rất gian nan, cần có sự nỗ lực hơn nữa không chỉ từ phía các doanh nghiệp Gỗ mỹ nghệ mà còn cần sự “vào cuộc” của các cơ quan chức năng . Với mong muốn mang lại cho Công ty Cổ phần Hơng Sen những nhìn nhận về vấn đề có ý nghĩa quyết định trong thời điểm hiện nay, đề tài thông qua việc đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển thơng hiệu trong thời gian qua của công ty để đa ra một số giải pháp kiến nghị. Trong phạm vi đề tài này, tác giả không đi sâu xem xét mọi vấn đề cho việc xây dựng phát triển thơng hiệu mà tập trung vào một số điểm quyết định vào những điểm cần quan tâm khi xây dựng và phát triển một thơng hiệu cũng nh giải pháp cho một số vấn đề. Do đây là một vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam cũng nh hiểu biết còn hạn chế của bản thân nên đề tài còn nhiều thiếu sót sẽ là không tránh khỏi, vì thế kính mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô cùng các bạn đọc. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn TS.Phan Tố Uyên, cảm ơn Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần Hơng Sen đã hớng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để em có thể hoàn thành luận văn này.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản