
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
NGUYỄN DANH HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN Ở KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 9.42.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2020

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: TS. Đỗ Ngọc Đài
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS. TS. Trần Minh Hợi
Phản biện 1: …
Phản biện 2: …
Phản biện 3: ….
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Học viện,
họp tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam vào hồi … giờ ..’, ngày … tháng … năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò cực kì to lớn đối với con người. Từ
xa xưa, con người đã sử dụng nguồn tài nguyên này cho nhiều mục đích khác
nhau để phục vụ đời sống như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nơi ở
và ngay cả những hoạt động tinh thần như phong tục tập quán, nghệ thuật - thi
ca, hội hoạ... cũng đều xuất phát từ mối liên hệ giữa con người và những sinh
vật xung quanh.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với các khu hệ động
vật, thực vật, nấm, vi sinh vật rất đa dạng và phong phú nên được xem là một
trong những trung tâm ĐDSH cao trên thế giới. Đến nay, ở Việt Nam biết
khoảng hơn 13.000 loài thực vật bậc cao có mạch; hàng năm,con số này vẫn
tăng lên vì có nhiều loài mới được phát hiện và bổ sung thêm.
Khu BTTN Pù Hoạt bao gồm những khối núi lớn với độ cao là 2.457 m.
Đây là vùng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” được
UNESCO công nhận ngày 20/9/2007. Khu BTTN Pù Hoạt có tổng diện tích
90.741 ha, thuộc phạm vi 9 xã của huyện Quế Phong gồm: Thông Thụ, Đồng
Văn, Tiền Phong, Hạch Dịch, Nậm Giải, Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn và
Châu Thôn, ở phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý 19027’46” -
19059’55” độ vĩ Bắc, 104037’-104014’ độ kinh Đông. Tuy có Hệ thực vật phong
phú nhưng những nghiên cứu về chúng còn rất ít. Một số công trình đã có của Đỗ
Ngọc Đài và công sự (2012), Đoàn Điều tra Quy hoạch lâm nghiệp Nghệ An
(2013), Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An (2016) mới đề cập đến những khía
cạnh khác nhau chưa mang tính hệ thống và cập nhập đầy đủ về Khu hệ thực vật
bậc cao có mạch. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thực
vật bậc cao có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở Khu Bảo tồn Thiên
nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tính đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch (thành phần loài,
thảm thực vật) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nhằm đề xuất các giải pháp
bảo tồn và phát triển bền vững.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Quan điểm về đa dạng sinh học
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược trên toàn
thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc
đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn phạm vi thế giới. Đó
là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường Liên

2
hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên
di truyền quốc tế (IPGRI)... Việc bảo tồn đa dạng sinh học là trọng tâm của sinh
học bảo tồn, nhưng cụm từ “đa dạng sinh học” còn có rất nhiều định nghĩa.
Định nghĩa do Quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên WWF (1989) đề xuất như
sau: Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu
loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và
là hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. Do vậy đa dạng
sinh học phải được tính theo ba mức độ: Đa dạng về loài, đa dạng hệ sinh thái
và đa dạng về gen.
1.2. Nghiên cứu về thực vật trên thế giới
1.2.1. Nghiên cứu về hệ thực vật
Ở các nước châu Âu, châu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh
thổ đã được hoàn thành từ lâu. Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại
các phòng mẫu khô (Herbarium) như: Kew (Anh), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris
(Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga)... Vì vậy, khi xây dựng các
khu BTTN và VQG hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ. Một số công trình tiêu
biểu của một số nước châu Á như: Thực vật chí Ấn Độ, Thực vật chí Malaixia
(1948-1972), Thực vật chí Thái Lan (1970-2012), Thực vật chí Hải Nam (1971-
1980), Thực vật chí Vân Nam (1977-1997), Thực vật chí Trung Quốc (1994-
2013), (1968-2000), Thực vật chí Hồng Kông (2007-2009), Thực vật chí Đài
Loan (1993-2000),…
1.2.2. Nghiên cứu thảm thực vật
Nghiên cứu về thảm thực vật, có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan
điểm đều đưa ra những cách thức phân loại riêng theo từng mục đích như phân
loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo. Đây là hướng cổ điển được nhiều nhà
nghiên cứu áp dụng như A. F. Schimper (1903), Champion (1936), A.
Aubréville (1949), Schimithusen (1959), UNESCO (1973),…
1.3. Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu hệ thực vật
Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam chủ yếu là các tác giả của J.
Loureiro (1793), J.B.L. Pierre (1880), H. Lecomte và cộng sự (1907-1952), A.
Aubréville (1960-1996), Lê Khả Kế và cộng (1971-1989), Phạm Hoàng Hộ
(1991-1993; 1999-2000), Tập thể các nhà nghiên cứu thực vật Việt Nam (2001,
2003, 2005). Ngoài ra, còn có một số tài liệu về các họ riêng biệt đã được công
bố như Orchidaceae Việt Nam (L. Averyanov, 1994), Euphorbiaceae (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 1999), Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000), Lamiaceae (Vũ
Xuân Phương, 2000), Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002), Cyperaceae
(Nguyễn Khắc Khôi, 2002),... Một số nghiên cứu về đa dạng thành phần loài: T.
Pócs (1965), Phan Kế Lộc (1969, 1980), Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Nghĩa
Thìn (1997), Lê Trần Chấn (1999), Nguyễn Tiến Bân (2005)….

3
1.3.2. Nghiên cứu thảm thực vật
Một số công trình nghiên cứu về thảm thực vật của người nước ngoài như:
Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Nghi (1956), Rollet, Lý Văn
Hội và Neay Sam Oil (1958), Loschau (1960), Schmid M. (1974), ....
Trong nước, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: Vũ Tự Lập
(1976), Thái Văn Trừng (1978, 2000), Vũ Đình Huề (1984), Phan Kế Lộc
(1985). Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác như: Phùng Ngọc
Lan (1996), Nguyễn Nghĩa Thìn (2004),….
1.4. Nghiên cứu yếu tố địa lý thực vật
Các công trình nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam
nói chung và các khu hệ thực vật của các địa phương nói riêng đã áp dụng theo
hệ thống phân chia dạng sống thực vật của C. Raunkiær (1934). Một số công
trình nghiên cứu như: T. Pócs (1965) nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật
Bắc Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi
và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo, Lê Trần
Chấn (1999) …
1.5. Nghiên cứu phổ dạng sống
Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố
địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam (1926, 1944), T. Pócs (1965) đã phân
tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam thành nhóm các yếu tố trên cơ
sở khu phân bố hiện tại mà không phân tích đến nguồn gốc phát sinh của chúng.
Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Nghĩa Thìn (1999),….
1.6. Nghiên cứu thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt
Nghiên cứu thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt trước đó và sau này thành lập
Ban quản lý đã có một số công trình như: Hoàng Danh Trung và cs (2010)
“Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An”;
Đỗ Ngọc Đài và Lê Thị Hương (2012) bước đầu đánh giá tính đa dạng hệ thực
vật ở Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An công bố 925 loài; Năm 2013, Viện Điều tra
Quy hoạch rừng đã đánh giá tính đa dạng sinh học để thành lập Khu BTTN Pù
Hoạt đã công bố 776 loài. Năm 2017, Sở Khoa học và Công nghệ đã thực hiện
đề tài “Điều tra, đánh giá tính đa dạng sinh học ở Khu BTTN Pù Hoạt và đề
xuất các giải pháp bảo tồn” đã thống kê được 1159 loài, 469 chi và 122 họ trong
5 ngành thực vật bậc cao cáo mạch. Năm 2018, Xin Hong và cs đã công bố loài
Bế pù hoạt (Didymocarpus puhoatensis) ở Khu BTTN Pù Hoạt.
1.7. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù
Hoạt
1.7.1. Điều kiện tự nhiên khu BTTN Pù Hoạt
Khu BTTN Pù Hoạt có tổng diện tích tự nhiên 90.741 ha, trong đó rừng
đặc dụng 39.221 ha và rừng phòng hộ 51.52 ha. Nằm trên địa bàn 9 xã thuộc
huyện Quế Phong: Tri Lễ, Tiền Phong, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải,
Đồng Văn, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn và Châu Thôn.

