intTypePromotion=1

Những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp về các chính sách và thủ tục hành chính thuế - thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: ViChoji2711 ViChoji2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
31
lượt xem
1
download

Những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp về các chính sách và thủ tục hành chính thuế - thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cải cách thủ tục hành chính thuế (cải cách TTHC thuế), là một trong những nội dung quan trọng trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-20201 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh thực hiện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp về các chính sách và thủ tục hành chính thuế - thực trạng và giải pháp

VAI TROØ CUÛA KTNN TRONG COÂNG TAÙC QUAÛN LYÙ THUEÁ<br /> <br /> <br /> <br /> Nhöõng khoù khaên, vöôùng maéc cuûa<br /> doanh nghieäp veà caùc chính saùch vaø thuû tuïc<br /> haønh chính thueá - Thöïc traïng vaø giaûi phaùp<br /> Hoàng Quang Phòng*<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> C<br /> ải cách thủ tục hành chính thuế (cải cách TTHC thuế), là một trong những nội dung quan<br /> trọng trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-20201 được<br /> Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh thực hiện. Đến nay,<br /> cải cách TTHC thuế đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần cải thiện môi trường đầu<br /> tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng<br /> doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Điều này được thể hiện qua những đánh giá tích cực của các tổ chức trong<br /> nước và quốc tế, điển hình như Ngân hàng Thế giới (WB) thông qua đánh giá chỉ số “Nộp thuế” đã ghi nhận,<br /> những cải cách trong lĩnh vực thuế của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh từ<br /> năm 2014 đến nay2; hay Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng đánh giá nhóm TTHC<br /> thuế đứng đầu trong 8 nhóm (gồm: khởi sự doanh nghiệp/đăng ký kinh doanh, thuế, đầu tư, giấy phép/chứng<br /> chỉ hành nghề, hải quan, đất đai, môi trường và xây dựng)3 về chi phí tuân thủ ít nhất (thời gian và tiền) mà<br /> doanh nghiệp phải chi trả để thực hiện thủ tục hành chính theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, trên thực tế<br /> các doanh nghiệp vẫn đang gặp phải những vướng mắc, khó khăn khi thực hiện chính sách và TTHC thuế,<br /> làm tăng chi phí tuân thủ và ảnh hưởng tới tâm lý của doanh nghiệp và người nộp thuế.<br /> Từ khóa: Cải cách thủ tục hành chính thuế.<br /> Difficulties, problems on tax policies and administrative procedures that businesses are facing –<br /> current situation and solutions<br /> Tax administrative procedure reform is one of the important contents in the overall program of state<br /> administrative reform in the period of 2011-2020, which Government and the Prime Minister have special<br /> attentions to direct and promote the implementation. Until now, the tax administrative reform has achieved<br /> certain results, contributing to improving the investment and business environment, improving the national<br /> competitiveness, and at the same time, creating favorable conditions for the development of Vietnam business<br /> community. This is reflected in the positive reviews of domestic and international organizations, such as: the<br /> World Bank (WB) through the assessment of the “Paying Taxes” index recorded, the reforms in Vietnam’s<br /> tax field has created more favorable conditions for business operations from 2014 to the present; or the Prime<br /> Minister’s Administrative Procedure Reform Advisory Council judged the group of tax administrative procedure<br /> is on the top of 8 groups (including business start-up / business registration, tax, investment, license / practice<br /> certificate, customs, land, environment and construction) on the minimum compliance cost (time and money)<br /> that businesses must pay to implement administrative procedures in accordance with current regulations.<br /> However, in fact, enterprises are still facing obstacles, difficulties in implementing policies and tax administrative<br /> procedures, which increasing compliance costs and affecting the psychology of businesses and taxpayers.<br /> Keywords: Tax administrative procedure reform.<br /> <br /> 1. Cải cách chính sách và TTHC thuế qua Trong những năm qua, cải cách chính sách và<br /> đánh giá của các tổ chức trong và ngoài nước TTHC thuế ở Việt Nam được thực hiện thông qua<br /> hình thức/biện pháp chủ yếu sau: (i) Sửa đổi, ban<br /> 1.1. Khái quát tình hình cải cách chính sách và hành các văn bản pháp quy theo hướng cải cách<br /> TTHC thuế TTHC (như cắt giảm các yêu cầu, điều kiện, giấy<br /> 1<br /> Chương trình được ban hành theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ.<br /> 2<br /> World Bank, Doing Business (2015-2019).<br /> 3<br /> Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng, Báo cáo Chỉ số đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hành chính năm 2018 (APCI 2018)<br /> * Phó Chủ tịch, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam<br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 138 - tháng 4/2019 7<br /> VAI TROØ CUÛA KTNN TRONG COÂNG TAÙC QUAÛN LYÙ THUEÁ<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> tờ, thủ tục không cần thiết), giảm thời gian, chi phí được thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 và<br /> tuân thủ cho doanh nghiệp trên cơ sở nghiên cứu 4, con số này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian sắp tới.<br /> thực tiễn, tiếp thu các thông lệ tốt của quốc tế và Ngoài ra, đến nay ngành Thuế đã triển khai ở 63/63<br /> giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tỉnh, thành phố và 100% Chi cục Thuế trực thuộc<br /> tiễn làm cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện khai thuế, hoàn thuế qua mạng internet;<br /> gây ra sự tốn kém thời gian, chi phí cho doanh thực hiện thí điểm hóa đơn điện tử tại Thành phố<br /> nghiệp; (ii) Công khai, minh bạch trình tự, quy Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh...<br /> trình giải quyết và hướng dẫn cho người nộp thuế 1.2. Những đánh giá, ghi nhận của các tổ chức,<br /> trong việc thực hiện chính sách và TTHC thuế; (iii) cơ quan trong nước và quốc tế<br /> Xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin<br /> Với những nỗ lực kể trên, cải cách chính sách<br /> phục vụ cho quản lý thuế và cung cấp dịch vụ công<br /> và TTHC thuế ở Việt Nam đã góp phần cải thiện<br /> trực tuyến qua mạng internet cho người nộp thuế<br /> môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng<br /> (cung cấp cho doanh nghiệp nộp thuế tất cả các<br /> lực cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh của doanh<br /> văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn về thuế, các<br /> nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi<br /> thông tin cảnh báo về những rủi ro trong thực hiện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phát triển.<br /> nghĩa vụ thuế như: doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, Nhận định này đã được không chỉ các tổ chức<br /> hóa đơn không còn giá trị sử dụng...). trong nước mà cả tổ chức quốc tế đồng tình, cụ thể:<br /> Nhờ đó, số TTHC thuế đã giảm từ 385 thủ tục Ngân hàng Thế giới (WB), từ năm 2004 đến<br /> tại thời điểm 31/12/2015 xuống còn 298 thủ tục nay đều đặn công bố “Báo cáo xếp hạng mức độ<br /> vào cuối năm 2017; năm 2018, tiếp tục cắt giảm 7 thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh” (Doing<br /> thủ tục và đơn giản 2 thủ tục (liên quan tới khai Business-DB), theo đó, liên quan đến đánh giá<br /> thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm viễn thông; cải cách chính sách và TTHC thuế được thể hiện<br /> thủ tục khai khoản thu điều tiết và thủ tục hoàn thông qua chỉ số “nộp thuế” (Paying Taxes)4. Từ<br /> thuế giá trị gia tăng đối với một số sản phẩm máy khi được sử dụng là một trong các trụ cột để đánh<br /> móc; thủ tục khai thuế giá trị gia tăng đối với cơ giá cho đến nay, chỉ số “nộp thuế” của Việt Nam<br /> sở sản xuất thủy điện); đặc biệt, tất cả 298 thủ tục đã được cải thiện về thứ hạng và điểm số, qua đó<br /> đều đã được chuẩn hóa, trong đó có tới 125 thủ tục công tác cải thiện chính sách và TTHC thuế cũng<br /> <br /> 4<br /> Chỉ số nộp thuế là một trong các chỉ số trụ cột, được đưa vào Báo cáo từ năm 2006, nhằm đánh giá gánh nặng tuân thủ về thuế và các khoản bảo<br /> hiểm bắt buộc mà doanh nghiệp quy mô nhỏ thực hiện trong năm tại một quốc gia/vùng lãnh thổ, dựa trên 4 tiêu chí thành phần gồm: Số lần nộp thuế,<br /> thời gian nộp thuế, tổng mức thuế suất, chỉ số sau kê khai.<br /> <br /> <br /> 8 Số 138 - tháng 4/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN<br /> đã được Ngân hàng Thế giới đánh giá “đã tạo điều những kết quả đạt được từ việc cải thiện chính sách<br /> kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh” vào và TTHC thuế, đã góp phần đưa Việt Nam vào thứ<br /> các năm 2010 và từ năm 2015 đến 2019. Tại Báo hạng 77/140 nền kinh tế trong bảng xếp hạng năng<br /> cáo Doing Business 2018, chỉ số “nộp thuế” của lực cạnh tranh toàn cầu năm 2018, dù rằng giảm 3<br /> Việt Nam đã vươn lên hạng 86/190 nền kinh tế bậc nhưng tăng 0,1 điểm so với năm 2017.<br /> với 72,77 điểm (cụ thể các chỉ số thành phần như<br /> Quỹ Di sản và Tạp chí phố Wall hằng năm<br /> sau: “Số lần nộp thuế trong năm” là 14 lần, “Thời<br /> công bố “Báo cáo chỉ số tự do kinh tế (Index of<br /> gian nộp thuế trong năm” là 498 giờ, “Tỷ lệ thuế<br /> Economic Freedom). Để có những đánh giá về lĩnh<br /> trên lợi nhuận” là 38,1% và chỉ số “Sau kê khai” là<br /> vực thuế, Báo cáo đã sử dụng chỉ số “Gánh nặng<br /> 95,71/100 điểm), đã góp phần đưa mức độ thuận<br /> thuế”, theo đó, chỉ số này của Việt Nam đã được<br /> lợi đối với hoạt động kinh doanh của Việt Nam lên<br /> cải thiện từ 79,6/100 điểm năm 2017 lên 79,7/100<br /> hạng 68/190 nền kinh tế với 67,93 điểm (so trong<br /> điểm vào năm 2018, được xếp vào mức “Gần như<br /> ASEAN 6, Việt Nam chỉ đứng sau Singapore hạng<br /> tự do”, đây cũng là chỉ số của Việt Nam được đánh<br /> 2/190, Malaysia hạng 24/190 và Thái Lan hạng<br /> giá tốt nhất trong 12 chỉ số được sử dụng đánh giá.<br /> 26/190; nhưng đứng trên Indonesia hạng 72/190 và<br /> Xét trên bình diện thế giới, điểm số chỉ số “Gánh<br /> Philippines hạng 113/190).<br /> nặng thuế” của Việt Nam cao hơn điểm trung bình<br /> Ngân hàng Thế giới đánh giá ngành thuế Việt (76,6/100 điểm), nhưng thấp hơn nếu xét ở bình<br /> Nam đã có những nỗ lực cải cách về chính sách diện khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (81,2/100<br /> và TTHC, áp dụng công cụ quản lý hiện đại và tạo điểm). Tuy nhiên, qua đây cũng cho thấy Quỹ Di<br /> điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh, sản và Tạp chí phố Wall đã ghi nhận những cải cách<br /> giảm được số giờ nộp thuế (hiện còn 117 giờ/năm). của Việt Nam trong lĩnh vực thuế.<br /> Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), hằng năm Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam<br /> công bố “Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu” (VCCI), đã tiến hành các cuộc khảo sát và nhận<br /> (The Global Competitiveness Report - GCI), theo được những ý kiến đánh giá của doanh nghiệp liên<br /> đó, liên quan tới cải cách chính sách và TTHC thuế quan tới thủ tục hành chính thuế, như sau: (i) Việc<br /> có nhiều chỉ số thành phần được sử dụng và có thực hiện TTHC thuế (đối với kê khai các khoản<br /> nhiều sự thay đổi qua các năm5. Tại Báo cáo GCI phí và lệ phí, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập<br /> 2018 (mới nhất), do có sự thay đổi về phương pháp khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản<br /> tính và sử dụng chỉ số nên để đánh giá sự cải thiện BHXH, BHYT) các doanh nghiệp đánh giá là đã<br /> trong lĩnh vực thuế, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã sử đơn giản hơn và không mất nhiều thời gian (có từ<br /> dụng các chỉ số thành phần là “Thuế quan thương 60% - 70% doanh nghiệp); (ii) Chất lượng dịch vụ<br /> mại/tổng thuế” (xếp hạng của Việt Nam là 93/140), của các cơ quan thuế (năm 2017), các doanh nghiệp<br /> “Sự phức tạp của thuế quan” (hạng 73/140) và “Thuế đánh giá đã tốt hơn so với các năm trước đó, với hơn<br /> suất lao động” (106/140). Nếu so sánh giữa hai báo một nửa số doanh nghiệp được khảo sát đánh giá<br /> cáo gần nhất, thì thứ hạng và điểm số của các chỉ (52% doanh nghiệp); (iii) Hoạt động thanh kiểm tra<br /> số thành phần liên quan tới lĩnh vực thuế của Việt doanh nghiệp năm 2018, được doanh nghiệp đánh<br /> Nam không có sự cải thiện nào đáng kể, thậm chí giá đã có sự cải thiện tích cực, thể hiện: Tỷ lệ doanh<br /> có hai chỉ số giảm điểm đánh giá (“Sự phức tạp của nghiệp bị thanh kiểm tra từ 5 lần trở lên/năm chỉ còn<br /> thuế quan” và “Thuế quan thương mại/tổng thuế”) 6,42% doanh nghiệp (so với 7,2% của năm 2017); tỷ<br /> và chỉ có một chỉ số không thay đổi điểm số (“Thuế lệ doanh nghiệp phản ánh nội dung làm việc của các<br /> suất lao động”); nhưng nếu xét trong giai đoạn dài đoàn thanh kiểm tra bị trùng lặp giảm còn 10,8%<br /> hơn (từ Báo cáo GCI 2013 - 2014 đến Báo cáo GCI doanh nghiệp (so với 25,8% của năm 2015); ngoài ra,<br /> 2017 - 2018), chỉ số “Ảnh hưởng của thuế đối với thời gian trung bình mà doanh nghiệp làm việc với<br /> ưu đãi đầu tư” có sự cải thiện mạnh khi tăng 33 đoàn thanh, kiểm tra cũng đã giảm. Như vậy, nhìn<br /> bậc và 0,2 điểm, trong khi các chỉ số còn lại tương chung các doanh nghiệp đã có những đánh giá khá<br /> đối ổn định về điểm số cũng như thứ hạng. Với tích cực về việc cải cách chính sách và TTHC thuế.<br /> 5<br /> Các chỉ số được sử dụng đánh giá trước năm 2018 gồm: “Tổng thuế suất/lợi nhuận”, chỉ số “Thuế quan thương mại/tổng thuế”, chỉ số “Ảnh hưởng<br /> của thuế đối với ưu đãi đầu tư” và chỉ số “Mức độ và tác dụng của thuế”.<br /> <br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 138 - tháng 4/2019 9<br /> VAI TROØ CUÛA KTNN TRONG COÂNG TAÙC QUAÛN LYÙ THUEÁ<br /> <br /> Đánh giá của Hội đồng Tư vấn cải cách thủ (ii) Chỉ số “Thời gian nộp thuế”, theo tính toán<br /> tục hành chính của Thủ tướng, lần đầu tiên công của Ngân hàng Thế giới, “Thời gian nộp thuế” của<br /> bố “Báo cáo Chỉ số đánh giá chi phí tuân thủ thủ doanh nghiệp Việt Nam trong một năm còn khá<br /> tục hành chính năm 2018” (APCI 2018)6 đã đánh cao (498 giờ/năm) và cao hơn rất nhiều so với<br /> giá nhóm thủ tục về thuế đứng đầu trong 8 nhóm của Singapore (64 giờ/năm), Philippines (181 giờ/<br /> thủ tục hành chính được khảo sát, với chi phí thực năm), Malaysia (188 giờ/năm), Indonesia (207 giờ/<br /> tế mà doanh nghiệp phải chi trả để thực hiện thủ năm) (WB, Báo cáo DB 2019);<br /> tục thuế chỉ là 73,75 nghìn đồng, tương đương với (iii) Chỉ số “Số lần nộp thuế” của doanh nghiệp<br /> 0,58% chi phí tuân thủ trung bình của 8 nhóm Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá khá<br /> thủ tục hành chính được khảo sát (khoảng 12,7 cao so với các quốc gia trong khu vực ASEAN với<br /> triệu đồng), tương đương với 0,1% chi phí tuân số lần thực hiện chỉ là 10 lần/năm, nhưng vẫn nhiều<br /> thủ trung bình của nhóm có chi phí tuân thủ cao hơn của Singapore (5 lần/năm) và của Malaysia (8<br /> nhất (nhóm thủ tục xây dựng); và thời gian thực lần/năm) (WB, Báo cáo DB 2019).<br /> hiện trung bình của doanh nghiệp cho một thủ tục<br /> trong nhóm thủ tục này chỉ là 2,9 giờ làm việc. 2.2. Gánh nặng thuế của doanh nghiệp Việt<br /> Nam là khá cao<br /> 2. Một số hạn chế của chính sách thuế ở<br /> Gánh nặng thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam<br /> Việt Nam<br /> nói chung và của doanh nghiệp hoạt động xuất,<br /> Như đã phân tích ở phần trên, những cải cách nhập khẩu nói riêng là khá cao, cũng đã ảnh hưởng<br /> trong lĩnh vực thuế ở Việt Nam trong thời gian qua tới xếp hạng môi trường kinh doanh, cũng như<br /> đã và đang góp phần cải thiện môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam. Có thể<br /> kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc thấy điều này qua đánh giá của Diễn đàn Kinh tế<br /> gia, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cộng Thế giới và Ngân hàng Thế giới khi so sánh (một số<br /> đồng doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tuy nhiên, chỉ số liên quan) Việt Nam với quốc gia trong khu<br /> chính sách thuế của Việt Nam còn những hạn chế vực ASEAN:<br /> như sau:<br /> (i) Chỉ số “Tổng thuế suất trên lợi nhuận” của<br /> 2.1. Chính sách thuế, trong đó hệ thống TTHC Việt Nam bị Diễn đàn Kinh tế Thế giới đánh giá,<br /> thuế của Việt Nam tương đối phức tạp xếp hạng khá thấp (hạng 76/137) với tổng thuế suất<br /> Hiện tại, TTHC thuế của Việt Nam vẫn còn gần trên lợi nhuận khá cao, chiếm tới 39,45%, trong<br /> 300 thủ tục, trong đó nhiều thủ tục là quy định đối khi tổng thuế suất trên lợi nhuận của Singapore<br /> với doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh chỉ là 19,1% (xếp hạng 11/137), của Indonesia chỉ<br /> doanh, đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến các là 30,6% (xếp hạng 40/137) và của Thái Lan chỉ<br /> doanh nghiệp Việt Nam gặp khá nhiều khó khăn, là 32,6% (xếp hạng 46/137) (WEF, Báo cáo GCI<br /> làm tăng chí phí khi thực hiện, qua đó ảnh hưởng 2017-2018);<br /> tới xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam, Cũng chỉ số này, theo đánh giá của Ngân hàng<br /> nhất là khi so sánh với một số quốc gia trong khu Thế giới “Thuế suất trên lợi nhuận” của Việt Nam là<br /> vực ASEAN thông qua một số chỉ số dưới đây sẽ 37,8%, cao hơn so với Indonesia (30,1%), Thái Lan<br /> thấy rõ: (29,5%), Singapore (20,6%) (WB, Báo cáo DB 2019);<br /> (i) Chỉ số “Kê khai sau thuế” của Việt Nam bị (ii) Chỉ số “Thuế quan thương mại trên tổng<br /> Ngân hàng Thế giới đánh giá khá thấp, khi chỉ đạt thuế” của Việt Nam cũng bị Diễn đàn Kinh tế<br /> 49,08/100 điểm, trong khi, chỉ số này của một số Thế giới đánh giá tương đối thấp, chỉ đạt 45,9<br /> quốc gia trong khu vực ASEAN là: Thái Lan (đạt điểm và xếp hạng 93/140 nền kinh tế, trong khi<br /> 73,41/100 điểm), Singapore (đạt 71,97/100 điểm), đó của Singapore là 99,8 điểm (xếp hạng 2/140,<br /> Malaysia (đạt 52,65/100 điểm), Philippines (đạt của Philipine là 70,8 điểm (xếp hạng 55/140), của<br /> 50/100 điểm) (WB, Báo cáo DB 2019); Malaysia là 65,9 điểm (hạng 68/140), của Indonesia<br /> <br /> 6<br /> APCI 2018 được xây dựng tập trung phản ánh 2 loại chi phí chủ yếu (mà doanh nghiệp phải chi trả khi thực hiện thủ tục hành chính, kể từ khi bắt<br /> đầu tìm hiểu về thủ tục cho đến khi hoàn tất) là: chi phí thời gian và chi phí trực tiếp (tiền).<br /> <br /> <br /> 10 Số 138 - tháng 4/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN<br /> là 60 điểm (hạng 77/140), và của Thái Lan là 46,2 Nam vẫn đang gặp phải nhiều khó khăn, vướng<br /> điểm (hạng 92/140). (WEF, Báo cáo GCI 2018). mắc khi thực hiện chính sách và TTHC thuế. Trên<br /> cơ sở các phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp<br /> 2.3. Chưa thực sự bình đẳng giữa các đối tượng<br /> thông qua khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, văn bản<br /> doanh nghiệp<br /> doanh nghiệp phản hồi, ý kiến tại các tọa đàm/hội<br /> (i) Giữa các doanh nghiệp ở các thành phần thảo, VCCI đã tổng hợp những khó khăn, vướng<br /> kinh tế khác nhau, cụ thể là doanh nghiệp thuộc mắc chủ yếu gồm:<br /> khu vực tư nhân phải tiêu tốn thời gian cho các<br /> 3.1. Khó khăn từ chính sách pháp luật thuế của<br /> thủ tục thuế và hải quan nhiều hơn so với khu<br /> Việt Nam<br /> vực doanh nghiệp nhà nước: Có tới 34,1% doanh<br /> nghiệp khu vực tư nhân phản ánh phải bỏ ra trên (i) Chính sách thuế nói chung và TTHC thuế<br /> 20% thời gian trong một tháng để giải quyết các thủ nói riêng của Việt Nam khá phức tạp, lại thay đổi<br /> tục thuế và hải quan, trong khi con số này ở khu tương đối nhanh, đi kèm là thay đổi các mẫu biểu<br /> vực doanh nghiệp nhà nước chỉ là 14,7% (Đại học khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc<br /> Kinh tế Quốc dân Hà Nội). cập nhật và thực thi. Trong khi đó, việc trả lời các<br /> vướng mắc có liên quan từ doanh nghiệp của một<br /> (ii) Giữa các doanh nghiệp ở các ngành nghề,<br /> số cơ quan thuế chưa kịp thời khiến doanh nghiệp<br /> lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Ví dụ, doanh<br /> phải tự tìm hiểu, dễ bị nhầm lẫn hoặc thực thi<br /> nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe<br /> không chính xác, doanh nghiệp lại phải mất thời<br /> đồng thời phải gánh nhiều loại thuế với mức thuế<br /> gian tới cơ quan thuế để điều chỉnh.<br /> suất ngang bằng với các ngành nghề áp thuế đặc<br /> biệt, gồm: Thuế tiêu thụ đặc biệt 30% (ngang bằng (ii) Văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách<br /> với các dịch vụ hàng hóa như karaoke, rượu bia, thuế chậm ban hành, hoặc thiếu, hoặc không thống<br /> thuốc lá...); 10% thuế giá trị gia tăng và 20% thuế nhất khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh nhiều<br /> thu nhập doanh nghiệp... nghiệp vụ kinh tế phát sinh như điều chỉnh hóa<br /> đơn, chứng từ, làm gia tăng chi phí, thời gian... Ví<br /> 2.4. Thủ tục hành chính Thuế vẫn là lĩnh vực<br /> dụ điển hình như việc thực hiện hóa đơn điện tử<br /> trọng tâm cần tiếp tục cải thiện<br /> khi bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ theo Nghị<br /> Mặc dù đã có nhiều cải thiện, nhưng thuế vẫn định 119/2018/NĐ- CP ngày 12/09/2018 của<br /> là một trong những lĩnh vực có TTHC cần kiên trì Chính phủ có hiệu lực từ ngày 01/11/2018. Hiện tại<br /> cải cách và tiếp tục là trọng tâm trong thời gian tới. Nhà nước chưa có Thông tư hướng dẫn cụ thể nên<br /> Theo kết quả điều tra PCI của VCCI năm 2018, thuế không chỉ doanh nghiệp mà cả cơ quan thuế cũng<br /> là lĩnh vực có TTHC còn nhiều phiền hà đứng thứ gặp khó khăn khi triển khai thực hiện; ngoài ra, các<br /> hai trong số các lĩnh vực được khảo sát, và năm 2018 văn bản hướng dẫn về hóa đơn và hóa đơn điện tử<br /> chưa có tín hiệu được cải thiện khi có cùng tỷ lệ còn mâu thuẫn trong quá trình thực hiện, khiến<br /> doanh nghiệp đánh giá của năm 2017 (28% doanh các doanh nghiệp không biết để thực hiện.<br /> nghiệp), chỉ đứng sau lĩnh vực đất đai với 30%<br /> (iii) Một số khó khăn, vướng mắc khác:<br /> doanh nghiệp, và đứng trên nhiều lĩnh vực khác như<br /> bảo hiểm xã hội (25%), quản lý thị trường (16%), Một là, vướng mắc thực hiện quy định về hóa<br /> giao thông (15%) và xây dựng (14%). Cũng trong đơn điện tử. Mặc dù việc sử dụng hóa đơn điện<br /> nghiên cứu này đối với các doanh nghiệp có vốn tử có thể tiết kiệm chi phí và thuận tiện trong việc<br /> đầu tư nước ngoài (FDI), thuế là lĩnh vực có TTHC quản lý nhưng khi doanh nghiệp áp dụng hóa đơn<br /> phiền hà thứ ba với 25% doanh nghiệp đánh giá, chỉ điện tử vẫn phải sử dụng hóa đơn giấy. Bởi khi<br /> đứng sau lĩnh vực hải quan (28%) và bảo hiểm xã hội doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa trên đường,<br /> (26%); đứng trên đăng ký đầu tư (24%)... các cơ quan quản lý (cảnh sát giao thông, quản lý<br /> thị trường...) vẫn yêu cầu xuất trình hóa đơn giấy,<br /> 3. Khó khăn của doanh nghiệp khi thực hiện<br /> điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp và ý nghĩa<br /> chính sách và TTHC thuế<br /> của việc ứng dụng hóa đơn điện tử bị vô hiệu. Liên<br /> Xuất phát từ những hạn chế của chính sách thuế quan tới vấn đề hóa đơn, thủ tục mua hoá đơn vẫn<br /> và những nguyên nhân khác, doanh nghiệp Việt mất khá nhiều thời gian của doanh nghiệp.<br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 138 - tháng 4/2019 11<br /> VAI TROØ CUÛA KTNN TRONG COÂNG TAÙC QUAÛN LYÙ THUEÁ<br /> <br /> Hai là, cách tính và phương pháp xác định Mặc dù, các doanh nghiệp đã cảm nhận tốt hơn<br /> mức thuế khá phức tạp và khó hiểu. Ví dụ: Doanh về sự thay đổi của chính sách và cải cách TTHC<br /> nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế thuế, tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp (nhất<br /> biến khoáng sản, gia công kim loại và cả cơ quan là doanh nghiệp nhỏ) phản ánh vẫn còn tình trạng<br /> hải quan chưa hiểu rõ phương pháp để xác định tỷ nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp của<br /> lệ giá trị khoáng sản và năng lượng trong tổng giá cán bộ ngành Thuế.<br /> thành sản phẩm; tương tự, doanh nghiệp hoạt động 3.3. Khó khăn do năng lực của doanh nghiệp về<br /> trong lĩnh vực xây dựng cũng gặp khó khăn khi xác thực hiện TTHC thuế<br /> định số tiền thuế phải nộp. Cụ thể có doanh nghiệp<br /> đã hoàn thiện công trình, bàn giao lại cho cơ quan Doanh nghiệp Việt Nam với khoảng 97% là<br /> nhà nước và đã được đưa vào sử dụng nhưng chưa doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực hạch toán, kế<br /> được tất toán. Cơ quan thuế hạch toán ghi nhận và toán của các doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế,<br /> yêu cầu doanh nghiệp nộp thuế, nếu không sẽ phạt việc thực hiện kê khai thuế đúng quy định thường<br /> nộp chậm thuế. xảy ra những sai sót do vấn đề năng lực (nhưng<br /> không ít cơ quan Thuế lại cho rằng doanh nghiệp<br /> Ba là, các điều kiện, thủ tục hoàn thuế giá trị “cố tình” làm sai nên đã áp dụng những hình thức<br /> gia tăng còn phức tạp gây khó khăn trong việc luân phạt doanh nghiệp).<br /> chuyển dòng tiền để tái đầu tư, sản xuất của doanh<br /> 3.4. Khó khăn thực hiện chính sách và TTHC<br /> nghiệp.<br /> thuế của hộ kinh doanh nếu chuyển đổi sang mô<br /> 3.2. Khó khăn do thiếu sự phối hợp giữa doanh hình doanh nghiệp<br /> nghiệp và cán bộ cơ quan thuế<br /> Theo quy định, thông thường các hộ kinh doanh<br /> Hầu hết các doanh nghiệp khi thực hiện các (có doanh thu từ 100 triệu/năm trở lên) đang thực<br /> TTHC thuế đều có những sai sót khi thực hiện lần hiện nộp các thuế: Thuế môn bài (số tiền nộp thuế<br /> đầu, tuy nhiên, việc nhận được hướng dẫn cụ thể tùy theo mức doanh thu); thuế giá trị gia tăng<br /> từ cán bộ thuế là chưa nhiều (hầu hết nhận được (GTGT) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo<br /> sự hướng dẫn chung chung), khiến doanh nghiệp phương pháp khoán thuế, tỷ lệ nộp thuế quy định<br /> thường phải làm nhiều lần mới có thể hoàn thành, trên doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ (trong khi,<br /> làm tăng chi phí khi thực hiện. nếu là doanh nghiệp thì thực hiện nộp thuế theo<br /> Bên cạnh đó, như đã trình bày ở trên, những phương pháp kê khai). Tuy nhiên, trên thực tế việc<br /> vướng mắc của doanh nghiệp liên quan tới thực xác định doanh thu khoán chưa chính xác, cộng<br /> hiện chính sách và TTHC thuế chưa nhận được với công tác quản lý chưa tốt đã dẫn tới có sự chênh<br /> những giải đáp kịp thời của cơ quan thuế, điển lệch khá lớn giữa doanh thu nộp thuế với doanh<br /> hình là về các vấn đề nợ thuế, thông báo nợ thuế và thu thực tế của các hộ kinh doanh (nhiều trường<br /> phạt nộp chậm thuế; có trường hợp doanh nghiệp hợp nộp thuế khoán thấp hơn so với nộp thuế<br /> không nắm được cơ quan Thuế đang ghi nhận theo kê khai), đã tạo tâm lý cho các hộ kinh doanh<br /> tình hình khai và nộp thuế của doanh nghiệp ra không muốn chuyển đổi thành doanh nghiệp vì sợ<br /> sao, có phát sinh chậm nộp hay không, muốn biết thuế cao.<br /> phải làm công văn, nhưng phải có nguyên nhân tại Ngoài ra, chính sách thuế hiện hành của Việt<br /> sao làm công văn đó. Hoặc doanh nghiệp thường Nam còn những hạn chế (như đã trình bày ở trên);<br /> xuyên nhận được thông báo nợ thuế qua đường thuế suất thu nhập doanh nghiệp (TNDN) áp dụng<br /> công văn, nhưng các thông báo lại không chính chung cho các doanh nghiệp, không phân biệt quy<br /> xác do hệ thống ghi nhận hạch toán sai, doanh mô (theo khảo sát, nếu các hộ kinh doanh chuyển<br /> nghiệp mất rất nhiều thời gian để liên lạc và giải đổi thành doanh nghiệp thường có quy mô siêu<br /> trình nhưng không nhận được phản hồi kịp thời nhỏ); chưa có chính sách khuyến khích thuế đối<br /> để xóa bỏ dư nợ thuế, chưa kể tới các công văn với doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp<br /> khi doanh nghiệp nhận được thường cách xa thời chuyển đổi từ hộ kinh doanh; doanh nghiệp phải<br /> điểm ghi trên công văn nên bị động trong vấn đề tự kê khai, tự nộp thuế và chịu trách nhiệm trước<br /> giải trình với cơ quan Thuế. pháp luật về số liệu kê khai, phải thực hiện quản lý<br /> <br /> 12 Số 138 - tháng 4/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN<br /> sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định; nghiệp được giải quyết nhanh chóng; phối hợp với<br /> bên cạnh đó, là vấn đề nhân lực am hiểu về kế toán, cơ quan đăng ký đất đai giúp giảm thời gian đi lại<br /> công nghệ thông tin khi thực hiện TTHC thuế... và thời gian giải quyết hồ sơ của người có quyền sử<br /> đều là những nguyên nhân khiến các hộ kinh dụng đất; trao đổi thông tin với cơ quan Hải quan,<br /> doanh không muốn chuyển đổi thành mô hình giúp doanh nghiệp loại bỏ tờ khai hải quan khi<br /> doanh nghiệp. thực hiện đề nghị hoàn thuế…;<br /> 4. Kết luận và đề xuất - Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin<br /> khi thực hiện TTHC thuế trong bối cảnh kinh tế số<br /> Trong bối cảnh hội nhập kinh tế diễn ra ngày<br /> ngày càng phát triển, góp phần cải thiện chất lượng<br /> càng sâu rộng như hiện nay, cải cách thủ tục hành<br /> cung cấp dịch vụ hành chính công của Việt Nam và<br /> chính nói chung và TTHC thuế nói riêng phù hợp<br /> chất lượng hỗ trợ cho doanh nghiệp;<br /> với thông lệ quốc tế đối với một quốc gia là tất yếu<br /> khách quan, và Việt Nam không là ngoại lệ. Thời - Tăng cường quan hệ đối tác doanh nghiệp -<br /> gian qua, những kết quả tích cực từ cải cách chính thuế, doanh nghiệp - hải quan, xây dựng cơ chế<br /> sách và TTHC thuế đã góp phần cải thiện môi đối thoại các cấp trong cơ quan thuế nhằm giải<br /> trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực quyết nhanh nhất những vướng mắc của doanh<br /> cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, đồng thời, tạo nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành<br /> điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp chính thuế;<br /> hoạt động, điều này đã được không chỉ các tổ chức/<br /> - Quán triệt tới cán bộ toàn ngành Thuế tinh<br /> doanh nghiệp trong nước mà cả quốc tế đánh giá,<br /> thần “lấy doanh nghiệp, người nộp thuế làm trung<br /> ghi nhận. Mặc dù vậy, chính sách thuế nói chung và<br /> tâm và sự hài lòng của người nộp thuế là thước đo,<br /> TTHC thuế nói riêng của Việt Nam vẫn còn những<br /> là động lực của mình trong việc thực hiện cải cách<br /> hạn chế, bất cập khiến cộng đồng doanh nhiệp Việt<br /> thủ tục hành chính thuế” để hướng tới mục tiêu<br /> Nam còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Để góp<br /> cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh<br /> phần giảm bớt những khó khăn, vướng mắc cho<br /> nghiệp nộp thuế trong việc thực hiện thủ tục hành<br /> doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện chính<br /> chính thuế từ khâu tra cứu, tiếp cận thông tin, đến<br /> sách và TTHC thuế, VCCI đề xuất, kiến nghị với<br /> lập hồ sơ, gửi và nhận kết quả.<br /> cơ quan quản lý nhà nước về thuế một số nội dung<br /> như sau: Trên đây là tổng quan một số nét liên quan đến<br /> thuế, chính sách thuế, những tồn tại, khó khăn<br /> - Đề xuất với Chính phủ, Nhà nước trong việc<br /> khăn của doanh nghiệp của doanh nghiệp về chính<br /> xây dựng chính sách thuế hiện đại, phù hợp với<br /> sách TTHC thuế, một số giải pháp kiến nghị.<br /> Hiến pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế, công<br /> bằng, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và lấy đối<br /> tượng nộp thuế làm trung tâm;<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> - Tiếp tục rà soát, loại bỏ hoặc đơn giản hóa các<br /> 1. World Bank, Doing Business report (from<br /> TTHC thuế không thực sự cần thiết; nâng cao chất<br /> 2011-2008);<br /> lượng thông tin và tăng tính công khai, minh bạch<br /> 2. World Economic Forum, The Global<br /> trong thực hiện TTHC thuế góp phần giúp doanh<br /> Competitiveness Report (from 2011-2018);<br /> nghiệp Việt Nam giảm bớt các chi phí trong quá<br /> 3. The Heritage Foundation and The Wall review,<br /> trình hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao<br /> 2017 & 2018 Index of Economic freedom;<br /> năng lực cạnh tranh;<br /> 4. Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính<br /> - Chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của Thủ tướng, Báo cáo Chỉ số đánh giá chi<br /> trong việc giải quyết các vướng mắc của doanh phí tuân thủ thủ tục hành chính năm 2018<br /> nghiệp; đồng thời, có sự trao đổi, xử lý thông tin (APCI 2018);<br /> giúp cải cách TTHC, mang lại lợi ích cho người 5. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt<br /> nộp thuế như: Phối hợp với cơ quan đăng ký kinh Nam (VCCI), Báo cáo chỉ số năng lực cấp<br /> doanh giúp hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh tỉnh hàng năm (PCI).<br /> <br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 138 - tháng 4/2019 13<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2