
MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
BÀI LÀM TRẢ LỜI CÂU HỎI
LỚP: QUẢN TRỊ KINH DOANH (buổi tối): 12QTCV2
NGUYỄN VĂN PHÚC .......................... 12QTCV2019

CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ
CÂU 1: Nêu vai trò, chức năng của tiền tệ? Vai trò của tiền tệ đối với nền kinh tế
như thế nào? Tại sao nói tiền tệ là một thứ không thể thiếu trong đời sống xã hội?
Vai trò của tiền tệ:
Đảm bảo cho sự hoạt động của các hoạt động kinh tế.
- Thước đo giá trị lao đông: trả công cho người lao động.
- Thước đo trong tính toán và trao đổi hàng hóa.
- Thanh toán các khoản nợ.
Đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất: hàng hóa sản xuất ra được đo lường
bằng tiền tệ.
Đưa nền kinh tế đất nước phát triển.
Chức năng của tiền tệ:
Chức năng đo lường giá trị:
Một đồng tiền muốn được sử dụng rộng rãi trong cả nước làm đơn vị tính toán để
đo lường giá trị hàng hoá phải được nhà nước chính thức định nghĩa, theo những
tiêu chuẩn nhất định. Nói cách khác đồng tiền đó phải được pháp luật
qui định và
bảo vệ.
Ngoài ra đơn vị tiền tệ của một quốc gia nào đó muốn làm tốt chức năng đo
lường giá trị thì đòi hỏi:
- Đơn vị tiền tệ đó phải có giá trị nội tại của nó. Giá trị của
tiền tệ được đặc
trưng bởi khái niệm sức mua tiền tệ tức là khả năng đổi được
nhiều hay ít
hàng hoá khác trong trao đổi.
- Giá trị của đơn vị tiền tệ đó, hay sức mua của đồng tiền, phải ổn định hoặc có
thay đổi thì vẫn không thay đổi nhiều qua thời gian.
Chức năng trung gian trao đổi:
Điều kiện cần thiết để tiền tệ có thể thực hiện tốt chức năng trung gian trao đổi là:
- Sức mua của nó phải ổn định hoặc không suy giảm quá đáng theo thời gian.
- Số lượng tiền tệ phải được cung ứng đầy đủ cho nhu cầu lưu thông hàng hóa
trong nền kinh tế.
- Cơ cấu tiền tệ phải hợp lý, tức là tỷ trọng giữa từng loại đồng tiền phải phù
hợp. Quá nhiều tiền nhỏ (hoặc tiền lớn) sẽ khó khăn cho lưu thông nhưng quá
thiếu tiền nhỏ (hoặc tiền lớn) cũng gây rối loạn lưu thông tiền tệ.
Việc dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi đã giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền
kinh tế qua việc khắc phục những hạn chế của trao đổi hàng hoá trực tiếp, đó là
những hạn chế về nhu cầu trao đổi, hạn chế về thời gian, hạn chế về không gian.

Bằng việc
đưa tiền vào lưu thông, con người đã tránh được những chi phí về
thời gian và
công sức dành cho việc trao đổi hàng hoá. Nhờ đó, việc lưu thông
hàng hoá có thể diễn ra nhanh hơn,
sản xuất cũng được thuận lợi, tránh được ách
tắc, tạo động lực cho kinh tế phát
triển.
Chức năng bảo tồn và tích lũy giá trị:
Nếu không sử dụng tiền tệ làm phương tiện tích lũy, người ta có thể thực hiện tích
lũy bằng hiện vật. Tuy nhiên, so với tích lũy bằng hiện vật, tích lũy bằng tiền có
ưu điểm hơn:
- Tích lũy bằng tiền dễ cất giữ và bảo quản hơn tích lũy bằng hiện vật.
- Tích lũy bằng tiền có thể gửi vào ngân hàng để sinh lợi trong khi tích lũy bằng
hiện vật không hề sinh lợi.
- Tích lũy bằng tiền dễ huy động vào thanh toán khi cần hơn là hiện vật.
Tuy có nhiều ưu điểm hơn là tích lũy hiện vật, nhưng tích lũy bằng tiền vẫn có
nhược điểm của nó nếu như sức mua tiền tệ sụt giảm quá đáng, khiến cho lợi
tức sinh ra không đủ bù đắp hao hụt giá tri tiền tệ do lạm phát. Bởi vậy để thực
hiện tốt được chức năng tích lũy dòi hỏi sức mua của đồng tiền phải ổn định
và giữ vững qua thời gian.
Chức năng thanh toán hoãn hiệu:
Thanh toán hoãn hiệu là thanh toán những khoản nợ đã phát sinh trong dao dịch
tín dụng, kể cả trong quan hệ tín dụng thương mại.
Nhờ có tiền tệ thực hiện chức năng thanh toán, quan hệ tín dụng có thể thực hiện
dưới hình thái tiền tệ, và, do đó, dễ dàng thực hiện thỏa thuận giao dịch hơn là
dưới hình thái hiện vật.
Vai trò của tiền tệ đối với nền kinh tế.
Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:
Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền
kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất
hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.
Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là
cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và
thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách
trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người
sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh,
thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanh
Tiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiêu để thực hiện yêu cầu quy

luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển
nền kinh tế hàng hóa.
Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế.
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị
trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội
trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng
quan hệ hợp tác quốc tế.
Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát
huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các
quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên
thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế
xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.
Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan
hệ kinh tế xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan đều không
thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiênh tiền tệ trở thành công cụ có
quyền lực vạn năng xử l và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã
hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy
mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ
tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng
tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.
Tại sao nói tiền tệ là một thứ không thể thiếu trong đời sống xã hội?
Trong xã hội hiện nay, với tư cách là một phương tiện đo lường, tích luỹ và trao đổi, đồng
tiền đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ giữa
con người với nhau.
Theo Simmel, việc phân tích về giá trị xã hội của đồng tiền có thể giúp chúng ta hiểu
được suy nghĩ của các cá nhân, nghĩa của các hoạt động tương tác, và hình dung ra
được những nguyên tắc thống trị chi phối đời sống của một xã hội.
Simmel đặc biệt đào sâu sự phân tích về nghĩa của đồng tiền trong quá trình hiện đại
hóa xã hội. Khi hình thức giao dịch bằng tiền tệ thay thế dần những hình thức trao đổi
bằng hiện vật, thì lúc đó diễn ra nhiều sự thay đổi trong các hình thức quan hệ tương tác
giữa các chủ thể trong xã hội. Vì tiền tệ là một vật có thể đo đếm được một cách chính
xác và sử dụng dễ dàng trong việc trao đổi những thứ hàng hóa hết sức khác biệt nhau,
nên nó trở thành một phương tiện trao đổi phi cá nhân (impersonal) mà những vật trao
đổi ngang giá trước nó như cái cồng hay vỏ sò chng hạn không thể nào có được. Do đó,

nó góp phần thúc đẩy sự tính toán (calculation) trong các hoạt động giao dịch giữa con
người với nhau, và thúc đẩy quá trình l tính hóa (rationalization) – khái niệm mà nhà xã
hội học Max Weber đặc biệt nhấn mạnh khi nói tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và
quá trình hiện đại hoá xã hội. Theo Max Weber, đồng tiền là phương tiện tính toán kinh tế
hoàn hảo nhất, là phương tiện thuần lý nhất xét về mặt hình thức có chức năng hướng dẫn
một hoạt động kinh tế. Simmel cho rằng khi tiền tệ trở thành sợi dây liên hệ chủ yếu giữa
con người với nhau, thì nó thay thế những mối quan hệ ràng buộc cá nhân vốn thường
bao hàm tình cảm hay cảm xúc, bằng những mối liên hệ phi cá nhân hướng đến một mục
tiêu nhất định nào đó. Hệ quả là sự tính toán trừu tượng thâm nhập vào hầu hết các lĩnh
vực trong đời sống, kể cả lĩnh vực quan hệ gia đình thân tộc hay lĩnh vực thưởng ngoạn
nghệ thuật vốn trước đó là những lĩnh vực mà người ta chỉ có thể đánh giá chủ yếu một
cách định tính hơn là định lượng. Theo Simmel, chính vì tiền bạc làm cho người ta có thể
giới hạn một hành vi giao dịch nào đó vào một mục tiêu nhất định, nên nó cho php
người ta có nhiều tự do cá nhân hơn và thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội
cũng như quá trình biệt dị hóa xã hội (social differentiation). Tiền tệ đã thay thế những
nhóm xã hội “tự nhiên” bằng những nhóm xã hội tự nguyện, vốn được hình thành theo
những mục đích duy l nhất định. Quan hệ tiền bạc lan tới đâu, thì nó giải thể những mối
liên kết dựa trên quan hệ huyết thống, thân tộc hoặc quan hệ trung thành tới đó. Nói
chung, đồng tiền là một phương tiện và là cái mốc thay đổi từ phương thức đánh giá định
tính sang phương thức đánh giá định lượng trong nhận thức xã hội.
Theo Simmel, trong xã hội hiện đại, đồng tiền, ngoài các chức năng kinh tế của nó, còn là
biểu tượng của óc duy l, óc tính toán, óc trừu tượng, và tính chất phi cá nhân
(impersonality). Vì thế, nó là cơ chế chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ một xã hội
cổ truyền mang tính chất “cộng đồng” (Gemeinschaft) sang một xã hội hiện đại mang
tính chất “xã hội” (Gesellschaft) theo nghĩa mà Ferdinand Tönnies từng đề cập.
Với vai trò và chức năng của mình cùng với thời gian tồn tại của nó trong xã hội, tiền tệ
dần xâm nhập và có ảnh hưởng lớn đến hầu hết các mối quan hệ trong xã hội và ngày
càng trở nên quan trọng, thành một thứ không thể thiếu trong đời sống xã hội.
CÂU 2: Khi tiền tệ không còn giá trị trên thị trường, người ta sử dụng phương tiện
và công cụ hữu hiệu nào để thay thế?
Khi tiền tệ không còn thực hiện được chức năng của nó nữa vì một l do nào đó thì tiền tệ
không còn giá trị trên thị trường. Khi đó, những công cụ khác hưu hiệu sẽ được sử dụng
để thay thế:
- Hàng hóa.
- Ngoại tệ mạnh: dollar Úc, đồng Nhân dân tệ, yên Nhật,
- Vàng.

