intTypePromotion=1

Ôn tập về Tư tưởng HCM

Chia sẻ: Nguyen Van Hung | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:20

0
162
lượt xem
46
download

Ôn tập về Tư tưởng HCM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tư tưởng là sự phản ánh hiện thức trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Mở rộng: Trong thuật ngữ “tư tưởng HCM” khái niệm tư tưởng có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Khái niệm này ở đây không phải dùng với ý nghĩa tinh thần - tư tưởng. Ý nghĩa tư tưởng của một cá nhân, cộng đồng mà với ý nghĩa là một hệ thóng những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ôn tập về Tư tưởng HCM

  1. Câu 1: Trình bày khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh? + Khái niệm tư tưởng: Tư tưởng là sự phản ánh hiện thức trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Mở rộng: Trong thuật ngữ “tư tưởng HCM” khái niệm tư tưởng có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Khái niệm này ở đây không phải dùng với ý nghĩa tinh thần - tư tưởng. Ý nghĩa tư tưởng của một cá nhân, cộng đồng mà với ý nghĩa là một hệ thóng những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực. + Khái niệm tư tưởng HCM: Dựa trên những định hướng cơ bản của văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đã xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng HCM như sau: “ Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CMVN từ CMDTDCND đến CMXHCN là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – LêNin vào điều kiện cụ thể của nước ta đồng thời là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”. Câu 2: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 1. Cơ sở khách quan: 1.1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng HCM: + Bối cảnh lịch sử VN cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - XHVN trước khi thực dân Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập, nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. - Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), xã hội VN bước sang giai đoạn mới và trở thành XH thuộc địa nửa phong kiến. - Đầu thế kỷ XX, bối cảnh VN đặt dân tộc chống cả “Tây lẫn Triều”. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân và các phong trào yêu nước ở thời kỳ này mặc dù dưới ngọn cờ nào cũng đều bị thất bại hoặc dìm trong bể máu. Xã hội VN khủng hoảng về đường lối cứu nước. - Nguyễn Tất Thành sinh ra trong bối cảnh nước mất nhà tan và được trưởng thành bằng máu của các phong trào yêu nước của dân tộc, Người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào cứu nước của dân tộc là: Các phong trào đều không gắn kết với tiến bộ xã hội. Người sinh ra trong một gia đình có tinh thần yêu nước sâu sắc. Với xuất thân gia đình là nho học, có nền nếp gia phong mẫu mực, giữ đạo hiếu và có truyền thống hiếu học, yêu thương con người,… Thân sinh cụ phó bảng có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách và tư tưởng HCM. + Bối cảnh quốc tế: - Hồ Chí Minh bước vào vũ đài chính trị khi CNTB tự do cạnh tranh đã chuyển sang giai đoạn CN đế quốc. Theo Lê Nin, thế giới được phân chia đa số (70%) các dân tộc bị áp bức, số ít (30%) các dân tộc đi áp bức. Đặc điểm chung là diện
  2. tích và dân số các nước thuộc địa lớn gấp nhiều lần so với diện tích và dân số chính quốc. Đây là tư tưởng cơ bản của Quốc tế cộng sản và là cơ sở để chỉ đạo CM thế giới. Tại đai hội V Quốc tế CS (1924) HCM đã đưa ra con số đầy thuyết phục như: Thuộc địa của Anh lớn gấp 252 lần diện tích nước Anh, dân số thuộc địa gấp 8,5 lần dân số nước Anh. - Khi nền kinh tế chuyển sang độc quyền làm nảy sinh mâu thuẫn của thời đại là mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với các dân tộc thuộc địa, bao trùm lên mâu thuẫn vốn có của thời đại là mâu thuẫn giữa Tư sản và Vô sản ở các nước phát triển, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ ở các nước kém phát triển. - CN Mác – LêNin phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thâm nhập vào phong trào CM thế giới, trở thành hệ tư tưởng tiến bộ của thời đại. - Năm 1917, CM tháng 10 Nga giành thắng lợi mở ra thời đại – thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Sự xuất hiện của Quốc tế CS làm nảy sinh mâu thuẫn thời đại: CNXH >
  3. Sau khi đã trở thành 1 chiến sỹ cộng sản lão luyện, HCM còn tiếp tục nghiên cứu - chủ nghĩa Tam dân – Tôn Trung Sơn. Người khai thác và kế thừa những mặt tích cực ở thuyết này vì trong đó có những điều thích hợp với VN. Văn hóa phương Tây: - Người trực tiếp đọc và tiếp thu những tư tưởng tự do và bình đẳng qua các tác phẩm của những nhà khai sáng như Vonte, Mongtexkia… - Người tiếp thu các giá trị của bản tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Mỹ và Pháp - Tư tưởng HCM làm phong phú CN Mác-LêNin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên làm dân tộc tự do và xây dựng. - Người tiếp thu lý luận Mác-LêNin theo quan điểm Macsit lấy các tinh thần, bản chất để giải quyết những vấn đề thực tiễn của CMVN chứ không đi tìm những cái có sẵn trong sách vở. 2. Nhân tố chủ quan: - HCM có khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc CM lớn trên thế giới. - Phẩm chất đạo đức, năng lực hoạt động thực tiễn: Ở bản lĩnh kiên định, luôn tin vào nhân dân, khiêm tốn, ham học hỏi, có phương pháp biện chứng và có đầu óc thực tiễn… - Phẩm chất cá nhân HCM còn biểu hiện ở sự khổ công học tập để chiếm lĩnh tri thức nhân loại là tâm hồn của 1 nhà yêu nước chân chính, 1 chiến sỹ cộng sản nhiệt thành cách mạng, 1 trái tim yêu nước, thương dân, sẵn sàng hi sinh vì độc lập – tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào. Câu 3: Trình bày quá trình hình thành và phát triển tư tưởng HCM Giai đoạn trước 1911: - Đây là thời kỳ HCM lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu thương, sớm tham gia phong trào chống Pháp; ham học hỏi. - Trong thời kỳ này, ở HCM đã hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ giá trị tinh thần truyền thống dân tộc. Nhờ trang bị những phẩm chất và kiến thức trên HCM có sự lựa chọn đúng đắn về con đường cứu nước về sau. Giai đoạn 1911 – 1920:Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng DT. - Năm 1911, với sự thôi thúc của lòng nhiệt thành với tổ quốc, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ Quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước. Đây là việc mới mẻ, khác với các bậc tiền bối đi trước. - Khoảng thời gian này, Người tiếp tục đến nhiều quốc gia ở châu Âu, Mĩ, Phi. Sống và hoạt động với những người dân bị áp bức ở phương Đông và những người làm thuê ở phương Tây. - Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi bản yêu sách của nhân dân An Nam tới hội nghị Vecxay, đòi chính phủ Pháp thừa nhận quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của nhân dân VN. - Tháng 7/1920 Người đọc sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’Humannite’.
  4. Với việc biểu quyết tán thành Quốc tế thứ III, tham gia thành lập ĐCS Pháp - (12/1920) đã đánh dấu bước chuyển biến về chất trong tư tưởng Người. Đây là thời kỳ HCM có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng từ tự giác ngộ chủ nghĩa dân tộc, tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác-LêNin, từ một chiến sỹ chống thực dân Pháp phát triển thành một người chiến sỹ CS. Thời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng về CMVN (1921-1930) Đây là thời kỳ à HCM hoạt động thực tiễn và lý luận khá sôi nổi phong phú trên địa bàn Pháp (1921-1923), Liên Xô (1923-1924), Trung Quốc (1924-1927). Trong thờ gian này tư tưởng HCM về cách mạng VN đã được hình thành cơ bản. Những tác phẩm của Người có tính lý luận: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927), Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930). Thời kỳ vượt qua thử thách kiên trì, giữ vững lập trường (1930-1945) Trên cơ sở tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản, trong mấy năm đầu tiên của những năm 30, HCM kiên trì giữ vững quan điểm CM của mình, vượt qua những khuynh hướng “tả” đang chi phối quốc tế CS. Thực tiễn đã chứng minh quan điểm của Người là đúng đắn. Thời kỳ 1936-1939 Đảng ta đang chuyển hướng đấu tranh thiết lập mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương (3/1938), đổi tên thành mặt trận dân chủ Đông Dương và từ năm 1939 đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về trực tiếp lãnh đạo CMVN. Tại hội nghị lần thứ 8 (10-19/5/1941) họp tại Pác Pó, dưới sự chủ trì của Người, BCH TW ĐCS Đông Dương đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chiến lược CMVN. Cách mạng T8 thắng lợi, ngày 2/9/1945, Người đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây là mốc lịch sử không chỉ đánh dấu kỷ nguyên độc lập tự do, mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của CM tư sản thành quyền tự do, độc lập của các dân tộc trên thế giới. Đó còn là sự thắng lợi của CN Mác-LêNin được vận dụng sáng tạo và phát triển với hoàn cảnh của VN. Thời kỳ tư tưởng HCM tiếp tục phát triển hoàn thiện (1945-1969) Ngày 23/9/1945, Pháp núp sau Anh quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Đất nước ta rơi vào tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”, một lúc phải đối mặt với nhiều kẻ thù ở cả miền Bắc và miền Nam. Trước những tình thế đó HCM đã chèo lái con thuyền với CMVN vượt qua thác ghềnh vô cùng hiểm trở này tới bến bờ thắng lợi. Tới ngày 19/12/1946, HCM phát động phong trào toàn quốc kháng chiến chống Thực dân Pháp. Người đề ra đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, thực hiện kháng chiến thực dân trường kỳ, tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chủ yếu. Năm 1951, TW Đảng và chủ tịch HCM triệu tập ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Lao Động Việt Nam. Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của TW Đảng và chủ tịch HCM cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc giành thắng lợi. Sau hiệp định Giơnevo 1954, miễn Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng nước nhà vẫn bị chia cắt bởi âm mưu xâm lược của Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
  5. Lúc này HCM cùng với TW Đảng sớm xác định kẻ thù chính của nhân dân VN, đã đề ra cho mỗi miền 1 nhiệm vụ: Miền Bắc xây dựng CNXH, miền Nam tiếp tục đấu tranh giành độc lập toàn vẹn. Xuất phát từ thực tiễn trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta tư tưởng HCM đã tiếp tục được bổ sung và phát triển hợp thành một hệ thống quan điểm, lý luận về CMVN. Đó là tư tưởng về CNXH và con đường quá độ lên CNXH, tư tưởng về nhà nước của nhân dân, do dân và vì dân, về chiến lược con người, tư tưởng về ĐCS và xây dựng Đảng với tư cách là đảng dân quyền. Câu 4: Phân tích quan điểm của HCM về vấn đề dân tộc, thuộc địa Chủ nghĩa Mác-LêNin cho rằng dân tộc là sản phẩm lâu dài của lịch sử. Trước dân tộc là các hình thức cộng đồng như: thị tộc, bộ lạc. Sự phát triển của CNTB đã dẫn tới sự ra đời và phát triển của các dân tộc bản CN. Khi CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc CN, các đế quốc thực hiện chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch,… Vấn đề dân tộc trở nên gay gắt và từ đó xuất hiện cả vấn đề thuộc địa. + Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa: HCM giành sự quan tâm đến các thuộc địa, vạch ra thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề đấu tranh chống Thực dân, xóa bỏ áp bức thống trị của nước ngoài, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết thành lập nhà nước độc lập. HCM lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bóc lột tàn bạo của chế độ thực dân ở Đông Dương trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-chính trị - văn hóa. Người chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa Đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được. Lựa chọn con đường phát triển ở dân tộc từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử dân tộc. HCM khẳng định phương hướng của dân tộc trong thời đại mới là CNXH. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN, HCM khẳng định phải làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới XHCS, con đường đó kết hợp trong nó có cả nội dung dân tộc, dân chủ và CNXH, xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh của các nước thuộc địa, nó hoàn toàn khác biệt với các nước phát triển đi lên ở CNXH ở phương Tây.Đây là nét độc đáo trong tư tưởng HCM. + Độc lập dân tộc – Nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc, thuộc địa HCM đã tiếp cận vấn đề độc lập dân tộc từ quyền con người. Trên con đường tiếp cận chân lý cứu nước, HCM đã tìm hiểu và tiếp cận những nhân tố có giá trị trong tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Pháp. Từ những quyền con người ấy, Người đã khái quát nên chân lý về quyền cơ bản của các dân tộc. “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, có quyền sung sướng và tự do.” HCM cho rằng các dân tộc thuộc địa muốn có quyền bình đẳng thực sự phải tự đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn cho dân tộc mình.
  6. Nền độc lập hoàn toàn, độc lập thật sự của một dân tộc theo tư tưởng HCM phải được thể hiện đầy đủ ở những nội dung sau đây: + Độc lập tự do là quyền thiêng liêng, vô cùng quý giá và bất khả xâm phạm của dân tộc. Độc lập của Tổ Quốc, tự do của nhân dân và thiêng liêng nhất. Người đã từng khẳng định: “ Cái mà tôi cần nhất trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, tổ quốc tôi được độc lập” . Điều đó được chứng minh ở mọi văn kiện, sách báo của Người. + Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. + Dân tộc độc lập trên tất cả các mặt: Kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao…Mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia do dân tộc đó tự quyết định. Nước VN là nước của người VN, do dân tộc VN tự quyết định, nhân dân VN không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài. + Trong nền độc lập đó, mọi người dân đều ấm no, hạnh phúc nếu không độc lập chẳng có nghĩa lý gì. Nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn liền với hạnh phúc, cơm no, áo ấm của nhân dân. ”Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là lý tưởng mà nó còn là lẽ sống, là học thuyết của HCM. Đó là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc VN, đồng thời là nguồn động lực đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chủ nghĩa dân tộc – một động lực lớn của đất nước Cùng với sự kết án chủ nghĩa thực dân và cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng dậy đấu tranh, HCM khẳng định: “ Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn nhất của đất nước. Vì thế “người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống XH của họ.” Người kiến nghị về cương lĩnh hành động của QTCS là “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh QTCS…khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành CN đế quốc. Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, từ truyền thống dân tộc VN, HCM đã đánh giá cao sức mạnh của CN dân tộc chân chính. Muốn CM thành công thì người CS phải biết nắm lấy phát huy. Câu 5: Vì sao CM giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng Vô sản? CM giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo con đường CM vô sản: Thất bại của các phong trào yêu nước ở nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là do chưa có đường lối đúng đắn. HCM rất khâm phục tinh thần yêu nước của những người đi trước, nhưng Người không tán thành con đường cứu nước của họ, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới. Trong khoảng 10 năm đến với nhiều quốc gia trên thế giới, Người đã kết hợp tìm hiểu lý luận và khảo sát thực tế, nhất là ở 3 nước tư bản phát triển là Anh, Pháp, Mỹ. Người đọc Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tìm hiểu thực tiễn cuộc CMTS Mỹ, đọc tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của CM Pháp, Người nhận thấy rằng “CM Pháp cũng như CMTS Mỹ đều là hai cuộc CM tư sản chưa triệt để”. Người quyết định không đi theo con đường CMTS.
  7. Con đường giải phóng dân tộc: HCM nhận thấy được CM tháng 10-Nga không chỉ là cuộc CM vô sản, mà còn là CMGPDT, nó là tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc thuộc địa và mở ra trước mắt họ thời đại CM chống đế quốc, thời đại GPDT. Người hoàn toàn tin theo LêNin và quốc tế thứ III, vì đã bênh vực cho các dân tộc bị áp bức. Người nhận thấy trong lý luận của LêNin một phương pháp mới để giải phóng dân tộc đó là: con đường cách mạng vô sản. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sỹ phu và các nhà CM có xu hướng tư sản đương thời, HCM đã đến với học thuyết CM của CN Mác-LêNin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định : “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường CMVS”. Chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi áp bức, bóc lột Câu 6: Phân tích quan điểm HCM về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở VN ? HCM tiếp cận CNXH từ lập trường yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, từ phương tiện đạo đức, từ truyền thống lịch sử, văn hóa và con người VN. Bởi vậy cách tiếp cận định nghĩa của con người về CNXH trình bày một cách dung dị, mộc mạc, dễ hiểu và mang tính phổ thông đại chúng. Quan điểm HCM về đặc trưng của CNXH bao gồm: CNXH là một chế đọ do dân làm chủ, nhà nước phát huy quyền làm chủ của - nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng CNXH CNXH có nền kinh tế cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đai và chế độ công - hữu nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân lao động. CNXH là 1 XH phát triển cao về văn hóa, đạo đức trong đó con người với người - là bạn bè, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống tinh thần phong phú. CNXH là một XH công bằng vầ hợp lí: làm nhiều hưởng nhiều và ngược lại, các - dân tộc bình đẳng không còn phân biêtj. CNXH là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân xây dựng dưới sự lãnh - đạo cuả Đảng. Theo HCM, CNXH là một XH dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, xã hội tự do và nhân đạo phản ánh được khát vọng tha thiết của loài người. Các tổ chức cách mạng kiểu cũ không thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thành công vì vậy HCM khẳng định: + Muốn giải phóng dân tộc phải có cách mạng. + Đảng phải theo chủ nghĩa Mác- Lê nin. + Đảng được xây dựng theo nguyên tắc Đảng kiểu mới. • Cách mạng dân tộc là sự nghiệp của toàn dân, là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân trên cơ sở liên minh công nông: Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Người xác định lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân tộc. CMGPDT là sự nghiệp của toàn dân chứ không phải việc một
  8. hay nhiều người. Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, phải động viên tào dân, vũ trang toàn dân. Trong khởi nghĩa vũ trang, HCM đánh giá cao vai trò của nhân dân “ dân khí mạnh thì quân lính nào súng ống nào cũng không chống lại nổi”. Trong chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện: lực lượng toàn dân là điều kiện để đấu tranh toàn diện với kẻ thù đế quốc để giải phóng dân tộc. Trong chiến tranh toàn dân, toàn diện thì lực lượng nòng cốt là liêm minh giai cấp công – nông. Giai cấp công nhân phải đoàn kết rộng rãi với các giai cấp khác để huy động sự tham gia của mọi tầng lớp. • Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cánh mạng vô sản ở chính quốc: Đại hội VI Quốc tế cộng sản chỉ ra rằng: chỉ có thực hiện thành công công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến. Theo HCM: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau. Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc, vận dụng công thức của chủ nghĩa Mác Người đưa ra luận điểm “công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”. Do nhận thức đúng vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, đánh giá đúng mức sức mạnh dân tộc năm 1921 Người cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể thắng lợi trước CMVS ở chính quốc. • Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang của nhân dân. Câu 7: Phân tích quan điểm của HCM về nội dung xây dựng CNXH ở nước ta thời kì quá độ. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta là một sự nghiệp mang tính toàn diện. HCM đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực: • Về chính trị: Nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy những vai trò lãnh đạo của Đảng: + Đảng phải luôn đổi mới và tự điểu chỉnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu có . hình thức, tổ chức phù hợp để đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ mới. Bước vào thời kì quá độ lên CNXH Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. + Mối quan tâm lớn nhất của Người là làm sao cho Đảng không trở thành Đảng quan liêu, xa dân, thoái hóa biến chất làm mất lòng tin của dân dẫn tới nguy cơ sai lầm về đường lối chính sách cắt đứt mối quan hệ máu thịt với nhân dân và để cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở dưới nhiều hình thức. Một nội dung chính trị quan trọng trong thời kì quá độ lên CNXH là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất mà lực lượng nòng cốt là liên minh công – nông và trí
  9. thức do ĐCS lãnh đạo củng cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệ thống chính trị cũng như từng thành tố của nó. • Về kinh tế: HCM đề cập đến các mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lí kinh tế, Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa XHCN. Đối với cơ cấu kinh tế HCM đề cập đến cơ cấu ngành và cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ. Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thuong nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa ngành sản xuất xã hội thỏa mãn tất yếu nhu cầu của nhân dân. + Đôi với kinh tế vùng lãnh thổ HCM lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế đô thj và kinh tế nông thôn. Người đặc biệt chú ý trong chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi, hải đảo vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống đồng bào, vừa bảo đảm an ninh quốc phòng cho đất nước. HCM là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kì quá độ lên CNXH. Người xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế. + Nước cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh để tạo điều kiện vất chất cho CNXH thúc đẩy việc cải tạo CNXH. + Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, nhà nước cần khuyến khích, hhướng dẫn giúp đỡ nó phát triển. Tổ chức hợp tác xã, HCM nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao, tự nguyện cùng có lợi, chống chủ quan gò bó.. Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, hướng dãn giúp họ cải thiện cách làm ăn, khuyến khích họ đi vào con đường hợp tác. Tư sản công thương nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà hướng dẫn họ hoạt động làm lợi chô quốc kế dân sinh phù hợp với kinh tế nhà nước, khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng cách hình thức tư bản nhà nước. HCM coi trọng quan hệ phân phối quản lí kinh tế. Quản lí kinh tế phải dựa trên cơ sở hoạch toán đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bấy trong phát triển sản xuất. Người chủ trương và chỉ rõ các điều kiện thực hiện nhuyên tắc phân phối theo lao động làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. • Về văn hóa – xã hội: HCM nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng con người mới, đề cao vai trò của văn hóa – giáo dục- khoa học kĩ thuật trong CNXH. Người khẳng định rằng muốn xây dựng CNXH cần phải học cả văn hóa, chính trị, nghệ thuật và CNXH cộng vói KH chắc chắn đưa loài người đến hạnh phúc. HCM coi trọng việc nâng cao dân trí đào tạo nhân tài và sử dụng nhân tài khẳng định vai trò to lớn của văn hóa trong đời sống XH.
  10. Câu 8: Vì sao HCM cho rằng CN Mác Lê nin kết hợp phong trào công nhân và phong trào yêu nước là những nhân tố cho sự ra đời ĐCSVN ? Chủ Tịch HCM Người sáng lập, xây dựng và rèn luyện ĐCSVN thành một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và dân tộc VN, lãnh đạo nhân dân chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh đi đến bến bờ độc lập. HCM đã dành cả cuộc đời mình cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người cho độc lập tự do dân chủ và CNXH. Để biến mục tiêu thành hiện thực, ngay từ đầu những ngày đầu hoạt động cách mạng HCM đã chú trọng hàng đầu về mặt tổ chức là sớm thành lập ĐCSVN. Trên cơ sở những quan điểm của CN Mác- Lê nin Đảng và xây dựng Đảng. Tư tưởng HCM về Đảng và xây dựng Đảng được hình thành và Phát triển ngày càng hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn theo tiến trình đi lên của cách mạng qua từng thời kì, gắn liền với thự tiễn đời sống của Đảng: đó chính là kết quả của quá trình vận dụng phát triển sáng tạo CN Mác – Lê nin về Đảng và xây dựng Đảng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở VN. Nét sáng tạo độc đáo nhất là quy luật hình thành, phát triển của ĐCS. Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và Châu Âu khi bàn về sự ra đời của ĐCS, Lê nin đã xác định ĐCS là kết quả của sự kết hợp hai yếu tố CN Mác( và sau này là CN Mác – Lê nin) và phong trào công nhân. Lê nin cho rằng: bản than phong trào công nhân có phát triển mạnh mẽ đến đâu đi chăng nữa, nhưng không có CN Mác soi sáng thì giai cấp công nhân cũng không thể nào phát triển lên được trình độ tự giác, không thể ý thức được sự sứ mệnh lịch sử của mình: đồng thời CN Mác không thể mang trong mình bản chất cách mạng và khoa học nếu nó không đi vào phong trào phong trào công nhân; phong trào công nhân trorq thành “cái cốt vật chất” cho CN Mác, làm cho CN Mác có sức sống mạnh mẽ. Đến HCM trên cơ sở thừa nhận và đánh giá cao hai yếu tố CN Mác –Lê nin, phong trào công nhân Người còn đề cập đến yếu tố thứ 3 khi nói về quy luật hình thành ĐCSVN đó chính là phong trào yêu nước. Từ những nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác , HCM đã chỉ rõ: “dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung cơ sở lịch sử của CN Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được.” Sự sáng tạo của HCM đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển lí luận thực tiễn quy luật ra đời của ĐCS ở một nước nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến. Việc đưa phong trào yeeuu nước là yếu tố thứ 3 trong quy luật ra đời của ĐCS là sự sáng tạo lớn trong việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái chung và cái đặc thù. HCM đã đánh giá rất cao phong trào yêu nước.Phong trào yêu nước ở VN có từ rất sớm và kết tinh thành chủ nghĩa yêu nước, chủ ngĩa yêu nước VN trở thành giá trị đạo đức tốt đẹp nhất cho cộng đồng dân tộc, là giá trị tinh thần trường tồn trong lịch sử cuả dân tộc. Phòng trào yêu nước đã trở thành dòng văn hóa chủ lưu của cộng đồng người VN, yêu nước gắn liền với CNXH. Ở VN phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân.Khi giai cấp công nhân ra đời và có phong trào đấu tranh thì phong trào yêu nước không bài xích, không đối lập mà đã gắn kết với phong trào công nhân. Sự nổi bật của quá trình kết hợp CN Mác – Lê nin với phong tròa công nhân và phông trào yêu nước đã làm chuyển hóa những người yêu nước thành người cộng sản. Trong
  11. quá trình kết hợp đó HCM đã phát hiện sự thống nhất biện chứng giữa những vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc đã đặt vị trí quan trọng của vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản. Chính vì vậy ĐCSVN đã trở thành Đảng của cả dân tộc VN – một Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng có tính chất quần chúng rộng rãi, tính nhân dân, dân tộc sâu sắc. Câu 9: Phân tích quan điểm của HCM về vai trò Và bản chất của ĐCSVN? • Về sự ra đời của ĐCSVN: ĐCSVN là sản phẩm kết hợp của CN Mác – Lê nin với phong chào công nhân và phong trào yêu nước: Đây là luận điểm sáng tạo của HCM. - HCM them yếu tố phong trào yêu nước vì: - + Một là phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kì to lớn trong quá trình phát triển dân tộc VN. + Hai là: phong trào công nhân kết hợp với phong trào yêu nước bởi vì hai phong trào đó đều có chung mâu thuẫn và có mục tiêu chung. + Ba là: phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân. + Bốn là: ĐCSVN • Vai trò của ĐCSVN: Đảng CS là nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng VN đến thắng lợi: Sức mạnh quần chúng nhân dân chỉ có thể phát huy được thông qua sự lãnh đạo - thống nhất, đúng đắn và vững vàng của 1 tổ chức chính trị. Cách mệnh muốn thành công trước hết phải có Đảng cách mệnh với dân tộc bị - áp bức và vô sản trên khắp mọi nơi. Muốn thoát khỏi đi lạc hướng quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ - tình hình, đường lối và định hướng phương châm cho đúng. Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ hơn nữa lực lượng địch lại rất mạnh, - muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức chặt chẽ, chí khí kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành 1 đội quân thật mạnh mẽ để đánh đuổi kẻ địch giành lấy chính quyền. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích - của giai cấp, của nhân dân lao động và của dân tộc, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào khác. • Bản chất của ĐCSVN: Đảng CSVN- Đảng của giai cấp công nhân của nhân dân lao động và của cả dân tộc VN. HCM hoàn toàn tuân thủ những quan điểm của Lê nin về xây dựng Đảng kiểu - mới của giai cấp vô sản, nhưng luận điểm sáng tạo của Người là vấn đề “ Đảng của ai”. Nói như trên vì: Đảng là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân, đại - biểu cho lọi ích của cả dân tộc, không thiên tư, thiên vị, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dân tộc là một.
  12. Đảng của giai cấp công nhân của nhân dân lao động và của cả dân tộc nhưng - Đảng mang bản chất giai cấp công nhân. Nội dung quy định bản chất giai cấp công nhân không phải chỉ là ở số lượng - đảng viên xuất thân từ công nhân mà là ở nền tảng lý luận và tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lê nin; ở mục tiêu đường lối của Đảng; ở vấn đề Đảng tuân thủ 1 cách nghiêm túc, chặt chẽ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. • Quan niệm về ĐCSVN cầm quyền: Đảng ta là Đảng cầm quyền: - + Mục đích lý tưởng của Đảng cầm quyền. + Đảng cầm quyền vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. + Đảng cầm quyền, dân là chủ. Câu 10: Trình bày nội dung công tác xây dựng ĐCSVN theo tư tưởng HCM? Nội dung công tác xây dựng ĐCSVN theo tư tưởng HCM: • Xây dựng Đảng về tư tưởng lí luận: Để đạt được mục tiêu CM HCM chỉ rõ phải dựa vào lí luận CM và KH của CN Mác Lê nin phải trở thành điều cốt lõi trở thành tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của ĐCSVN. Trong việc tiếp nhận và vận dụng CN Mác Lê nin HCM lưu ý: Một là, việc học tập nghiên cứu, tuyên truyền CN Mác – Lê nin phải luôn phù hợp với từng đối tượng. Hai là việc vận dụng CN Mác Lê nin phải luôn phù hợp với từng hoàn cảnh. Ba là quá trình hoạt động của Đảng ta phải chú ý học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của ĐCS khác, đòng thời ta phải tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ sung vào chủ nghĩa Mác Lê nin. • Xây dựng Đảng về chính trị: Xây dựng Đảng về chính trị có nhiều nội dung bao gồm: xây dựng đường lối chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị.. Trong đó đường lối chính trị trở thành 1 trong những vấn đề cực kì quan trọng trong vấn đề xây dựng Đảng ta. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình chủ yếu bằng việc đề ra cương lĩnh, - đường lối chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế xã hội, cũng như sách lược và quy định những mục tiêu phát triển của xã hội theo hướng lâu dài cũng như từng giai đoạn. Đảng phải coi trọng những vấn đề: đường lối chính trị phải dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác Lê nin vận dụng vào nó từng thời kì, phải học tập kinh nghiệm của các ĐCS khác. Đảng phải thật sự là đội tiên phong, dũng cảm là tham mưu sáng suốt của giai - cấp công nhân của nhân dân lao động và cảu cả dân tộc. HCM lưu ý cần phải giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự - cho cán bộ, Đảng viên để họ luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh.
  13. Người cảnh báo nguy cơ có sai lầm về đường lối chính trị gây hậu quả nghiêm - trọng đối với vận mệnh của tổ quốc, sinh mệnh chính trị của hàng triệu đảng viên cũng như hàng triệu nhân dân lao động. • Xây dựng Đảng về tổ chức bộ máy công tác cán bộ: HCM khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức, một tổ chức tiên - phong chiến đấu của giai cấp công nhân. Hệ thống tổ chức của Đảng từ trung ương tới cơ sở phải thật chặt chẽ có tính - kỉ luật cao, sức mạnh của các tổ chức liên quan mật thiết với nhau mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng. HCM rất coi trọng vai trò của chi bộ, bỏi lẽ đối với bản thân Đảng chi bộ là tổ - chức hạt nhân quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng, là môi trường tu dưỡng rèn luyện và cũng là noi giám sát Đảng viên chi bộ có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Các nguyên tăc tổ chức sinh hoạt Đảng: Tập trung dân chủ: đây là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Giữa tập - trung và dân chủ có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tập trung trên nền tảng dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách: HCM giải thích vì một người dù khôn ngoan - tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc một số vấn đề chứ không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của vấn đề. + Cá nhân tự phụ trách: yêu cầu khắc phục tệ độc đoán chuyên quyền chống lại tình trạng dựa dẫm. Tự phê bình và phê bình: con người thì không ai không có khuyết điểm, nhưng - mỗi người cần phải biết nhìn nhận thẳng thắn biết khắc phục và sửa chữa sai lầm phát huy giữ gìn những cái tốt, cái đáng có đáng trân trọng, loại bỏ những cái xấu vươn đến chân – thiện- mĩ. Kỉ luật nghiêm minh tự giác: tổ chức, mọi tổ chức, đảng viên phải bình đẳng - trước điều lệ Đảng, trước pháp luật của nhà nước trước mọi quyết dịnh của Đảng Tự giác là yêu cầu bắt buộc cuả Đảng mỗi Đảng viên phải gương mẫu trong cuộc sống và trong công tác. Đoàn kết thống nhất trong Đảng: dựa trên cơ sở lia luận của Đảng là chủ nghĩa - Mác Lê nin, cương lĩnh, điều lệ, dường lối, quan điểm, chính sách..của tổ chức Đảng thực hành dân chủ rộng rãi thường xuyên phê bình và tự phê bình tu dưỡng đạo đức CM chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực. Cán bộ, công tác cán bộ của Đảng: nhận rõ vị trí, vai trò của cán bộ trong sự - nghiệp cách mạng, người cán bộ phải có đủ đức tài và phẩm chất năng lực trong đó đức phẩm chất là gốc. Người cho rằng công tác cấn bộ là công tác gốc của Đảng có nội dung mối quan hệ mật thiết với nha: tuyển chọn đào tạo huấn luyện bồi dưỡng đánh giá. • Xây dựng về đạo đức: HCM khẳng định một Đảng viên chân chính CM phải có đạo đức, đạo đức tạo nên uy tín, sức mạnh của Đảng giúp Đảng có tư cách lãnh đạo quần chúng nhân dân.
  14. Đạo đức của Đảng ta là đạo đức mới, đạo đức cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, cũng là đạo đức Mác Lê nin đạo đức cộng sản chủ ngĩa mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu, Giáo dục đạo đức cách mạng là một nội dung quan trọng trong việc tu dưỡng rèn luyện của cán bộ đảng viên, gắn chặt với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, giữ cho Đảng trong sạch vững mạnh. HCM đã góp phần bổ sung mở rộng phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin về nội dung công tác xây dựng Đảng phù hợp với truyền thống văn hóa lịch sử của các nước phương Đông trong đó có VN. Câu 11: Phân tích quan điểm HCM về vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nước ta? • Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng: Thế nào là vấn đề có ý nghĩa chiến lược: Chiến lược là phương châm và biện pháp có tính toàn cục được vận dụng trong - suốt tiến trinhg cách mạng. Trong tư tưởng HCM đoàn kết là một chiến lược chứa đựng hệ thống những luận điểm thể hiện những nguyên tắc, biện pháp giáo dục. Tập hợp những lực lượng cách mạng tiến bộ nhằm phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc và quốc tế trong sự nghiệp độc lập dân chủ và CNXH. Chiến lược là cái nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạnh, thể hiện cả vấn - đề lí luận lẫn thực tiễn( 43% bài nói, bài viết của HCM đề cập đến đoàn kết ). Đai đoàn kết dân tộc trong tư tưởng HCM là vấn đề có ý nghĩa chiến lược cơ - bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng. Trong ừng thời kì, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ - khác nhau, chính sách và phương pháp; tập hợp lựa lượng có thể và cần điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng song đại đoàn kết luôn là vấn đề sống còn quyết định thành bại của CM. HCM đã khái quát thành luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết: Đoàn kết làm ra sức mạnh: đoàn kết là sức mạnh của quần chúng ta. Đoàn kết - chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ mà dân giao phó “ đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi. Đoàn kết là then chốt của thành công: “đoàn kết,đoàn kết, đại đoàn kết; thành - công, thành công, đại thành công.” Đoàn kết là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”. - • Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu của Đảng, cuả dân tộc. Theo HCM đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng mà đó còn là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của CM. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có tính đường lối, một chính sách nhất quán chứ không thể là một thủ đoạn chính trị.
  15. Cách mạng muốn thành công: đường lối đúng đắn thôi chưa đủ, mà trên cơ sở đường lối j đúng đắn Đảng phải cụ thể hóa những nhiệm vụ cụ thể, mục tiêu, phương pháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao Động VN 1951, HCM nêu mục đích - của Đảng LĐ gồm 8 chữ: đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”. Năm 1963, khi nói chuyện với cán bộ tuyên truyền và huấn luyện miền núi về - cách mạng XHCN, HCM chỉ rõ : “ trước cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được việc: Một là, đoàn kết. Hai là cách mạng hay kháng chiến để giành độc lập.Chỉ đơn giản thế thôi, bây giờ mục đích của tuyên truyền huấn luyện là: Một là, đoàn kết. Hai là đoàn kết xây dựng CNXH. Ba là, đấu tranh thống nhất nước nhà”. Đại đoàn kết dân tộc còn là nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân tộc. Bởi vì CM là sự nghiệp của toàn thể quần chúng ND. Từ trong đấu tranh mà nảy nở nhu cầu khách quan về đoàn kết, hợp tác, Đảng có nhiệm vụ thức tỉnh tập hợp quần chúng chuyển những nhu cầu đòi hỏi khách quan tự phát đó thành nhu cầu tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn để hoàn thành các mục tiêu CM. Câu 12: Trình bày nội dung của đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm HCM? • Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. HCM đã đề cập đến vấn đề dân và nhân dân một cách rõ ràng, toàn diện có sức thu phục lòng người. Dân và nhân dân trong tư tưởng HCM vừa được hiểu với tư cách là mỗi con người VN cụ thể, vừa là tập hợp đông đảo quần chúng ND với những mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại,họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc và đại đoàn kết dân tộc và nó chính là đại đoàn kết toàn dân. Đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung theo ý nghĩa đó, nội hàm khái niệm đoàn kết trong tư tưởng HCM rất phong phú bao gồm: Nhiều tầng lớp, nhiều cấp độ quan hệ liên kết qua lại giữa các tầng lớp ND, các bộ phận, các lực lượng XH của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp tới cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót bất cứ một lực lượng nào miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và phục vụ Tổ Quốc. Như vậy, HCM đã định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình CMVN từ CMGPDT đến CMDCND tới CNXH. • Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân dân, tin vào con người. Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa, đại đoàn kết dân tộc: Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch, để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tổn, bản sắc được giữ vững.
  16. Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc, trở thành giá trị bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người VN, được lưu truyền qua các thế hệ. Phải có lòng khoan dung độ lượng giữa người với người: HCM chỉ rõ: Trong mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có những ưu, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu. Cho nên vì lợi ích CM, cần phải có lòng khoan dung độ lượng, chân trọng phần thiện dù nhỏ nhất của con người, mới có thể tập hợp, quy tụ mọi lực lượng. Đây không phải là sách lược nhất thời, một thủ đoạn chính trị mà là sự tiếp nối và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc từ mục tiêu chung của CM mà người theo đuổi suốt đời. Đó là một tư tưởng nhất quán được thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng đối với những người làm việc dưới chế độ cũ, và những người lầm lạc biết hối cải. HCM kêu gọi tất cả những ai có lòng yêu nước, không phân biệt tầng lớp, tín - ngưỡng, chính kiến và trước đây đã đứng về phe nào, hãy cùng nhau đoàn kết vì nước, vì dân. Để thực hiện đoàn kết rộng rãi cần có niềm tin vào nhân dân. Với HCM, tin dân, - yêu dân dựa vào dân, sống đấu tranh vì nhân dân là nguyên tắc tối cao. Câu 13:Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân + Nhà nước của dân: Mọi quyền lực trong nhà nước và trong XH đều thuộc về nhân dân thể hiện rõ - trong hiến pháp năm 1946- 1959 Nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho - các đại biểu quốc hội để bàn và quyết định những vấn đề cơ bản. Dân có quyền bãi miễn những đại biểu quốc hội và đại biểu HĐND nào nếu - như những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Theo HCM muốn đảm bảo được tính chất , ND của nhà nước phải xác định - được và thực hiện được trách nhiệm của cử tri và đại biểu cho cử tri bầu ra. Cử tri và đại biểu cử tri bầu ra phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do bản chất của cơ chế này quyết định. HCM đã nêu lên quan điểm dân là chủ và dân làm chủ. - Dân là chủ nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định - quyền, nghĩa vụ của dân. Trong nhà nước của dân, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ. Bằng thiết chế dân chủ của nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền làm - chủ của dân để cho dân thực thi quyền làm chủ của mình. Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng, nhắc nhở những người lãnh đạo, những đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình. Nhà nước VNDCCH do HCM khai sinh là nhà nước tiến bộ trong lịch sử hàng - nghìn năm của dân tộc VN, vì nhà nước đó là nhà nước của nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước. + Nhà nước do dân:
  17. Nhà nước do nhân dân lập nên, do nhân dân ủng hộ, do dân ủng hộ, dân làm chủ. Chính vì vậy HCM nhấn mạnh nhiệm vụ những người CM là phải làm cho dân hiểu, dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ, nâng cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của mình. ND có đủ điều kiện cả về pháp luật và thực tế để tham gia quản lý nhà nước. HCM nêu rõ quyền của dân, nhà nước do dân tạo ra và nhân dân tham gia quản lý là ở chỗ: Toàn bộ công dân bầu ra QH cơ quan quyền lực cao nhất của NN, cơ quan duy - nhất có quyền lập pháp. QH bầu ra chủ tịch nước, ủy ban thường vụ QH và HĐCP. - HĐCP là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước, thực hiện các nghị quyết - của QH và chấp hành pháp luật. Mọi công việc của bộ máy nhà nước trong việc quản lý xã hội đều thực hiện ý - chí của dân. Nhà nước do dân là dân làm tự lo, thông qua các MQH trong XH, các đoàn thể - chứ không phải nhà nước bao cấp lo thay cho dân. + Nhà nước vì dân: Là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu tất cả vì lợi - ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ lợi ích nào khác, đó là một nhà nước trong sạch không có bất kỳ một đặc quyền đặc lợi nào. HCM nhấn mạnh mọi đường lối chính sách đều chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho - dân, dân là gốc của nước. Một nhà nước vì dân theo quan điểm của HCM là từ chủ tịch đến công chức bình - thường đều phải làm công bộc, đầy tớ của dân, chứ không phải làm quan CM đè đầu cưỡi cổ lên dân. HCM có quan điểm nhất quán về xây dựng một nhà nước mới ở VN, là một nhà - nước do nhân dân lao động làm chủ. Quan điểm về nhà nước của Người là sự kế thừa và phát triển quan điểm của LêNin về nhà nước CM. Quan điểm này có tính chất xuyên suốt và chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của nhà nước CM ở VN. Câu 14: Xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả theo HCM cần phải có những biện pháp gì? + Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của NN. Các biểu hiện tiêu cực trong bộ máy nhà nước: Xây dựng một nhà nước trong sạch vững mạnh là điều quan trọng, luôn thường trực trong tâm trí và hành động của HCM, trong quá trình xây dựng NN VNDCCH. Người đã chỉ ra rõ những tiêu cực và nhắc nhở mọi người đề phòng khắc phục: Đặc quyền, đặc lợi, hách dịch với dân, làm quyền, vơ vét tiền của ND, lạm dụng - chức quyền làm lợi cá nhân. Tham ô, lãng phí, quan liêu, theo quan điểm của HCM “ tham ô, lãng phí và bệnh - quan liêu là bạn đồng minh của thực dân phong kiên… Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi việt gian, mật thám”.
  18. Tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo: HCM kịch liệt lên án kéo bè, kéo cánh gây mất đoàn - kết, cậy thế kiêu ngạo… Các biện pháp phòng ngừa khắc phục: Chống chủ nghĩa cá nhân là nội xâm, là thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ - bệnh. Tẩy trừ những thói hư tật xấu,cậy mình trong cơ quan chính quyền để cửa - quyền, hách dịch đối với dân. + Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức CM Xuất phát từ thực trạng đất nước là từ một nền kinh tế tiêu nông, quen sống theo luật tục, hơn là theo pháp luật, bỏ qua chế độ tư bản đi lên CNXH, lại trải qua nhiều năm chiến tranh, nên theo Người việc cần làm trước hết là khản trương xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong ND. Xong không nên vì thế mà đề cao một chiều vai trò của pháp luật, coi trọng pháp luật là tối thượng, bỏ qua vai trò hỗ trợ của các nhân tố khác, trong đó có vấn đề giáo dục đạo đức. Do vậy phải tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Kết hợp nhuần nhuyễn cả “đức trị” và “pháp trị”. Quan hệ giữa đạo đức và pháp luật thì pháp luật bao giờ cũng là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức nào đó và biến nó thành thói quen, chuẩn mực đạo đức càng khó bao nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng bấy nhiêu. Thi hành pháp luật phải đảm bảo được tính vô tư, khách quan, công bằng, bình đẳng, đối với mọi công dân trước pháp luật. Câu 15: Phân tích những quan điểm của HCM về văn hóa? HCM đưa ra một định nghĩa của mình về văn hóa: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật những công cụ hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn”. Những quan điểm của HCM về văn hóa: • Quan niệm về chính trị, vai trò của văn hóa: Văn hóa là bộ phận kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần của xã hội, nó ở trong kinh tế và chính trị, chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển. Nội dung xây dựng VH: Xây dựng tâm lý: Tinh thần độc lập tự cường. - Xây dựng luân lý: Biết hi sinh, làm lợi cho quần chúng. - Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã - hội. Xây dựng chính trị: dân quyền - Xây dưng kinh tế - Văn hóa có quan hệ mật thiết với kinh tế, chính trị, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống với nhận thức sau: Văn hóa quan trọng ngang với kinh tế - chính trị - xã hội. -
  19. Chính trị - xã hội có giải phóng thì văn hóa mới giải phóng được. - Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa. - Văn hóa là kiến trúc thượng tầng, nó phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy - xây dưng và phát triển kinh tế. • Quan điểm về chức năng của văn hóa Bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, phải - làm cho văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Nâng cao dân trí phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng - nước nhà. Bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng - con người tới chân, thiện, mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình. • Quan điểm về tính chất của nền văn hóa mới Tính dân tộc, đặc tính hay cốt cách dân tộc là cái tinh túy đặc trưng riêng của văn - hóa dân tộc. Tính khoa học của nền văn hóa thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện - đại, hòa bình, độc lập dân tộc, dân tộc và tiến bộ xã hội. Tính đại chúng của nền văn hóa là phục vụ nhân dân, phù hợp với nguyện vọng - của nhân dân, đậm đà tính văn hóa. Nội dung XHCN: tiến bộ, tiên tiến, khoa học hiện đại, tiếp thu văn hóa nhân - loại. Tính dân tộc của nền văn hóa là giữ gìn, kế thừa và phát huy những truyền thống - văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Câu 16: Trình bày quan điểm của HCM về những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người VN trong thời đại mới Theo HCM có thể khái quát những phẩm chất cơ bản của con người VN trong thời đại mới là: • Trung với nước hiếu với dân: Trung hiếu là 2 khái niệm cũ trong tư tưởng đạo đức truyền thống VN và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất, cũng là phẩm chất đạo đức bao trùm nhất. Trung là trung quân, trung thành với vua, trung thành với vua có nghĩa là trung thành với nước, vì vua với nước là một nước của vua. Còn hiếu là có hiếu với cha mẹ. Kế thừa những giá trị truyền thống và vượt qua những giá trị truyền thống đó, HCM đã xây dựng KN trung, hiếu đưa vào nội dung mới đó là “Trung với nước, hiếu với dân”: Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước trung thành - với con đường đi lên của đất nước suốt đời phấn đấu cho Đảng, cách mạng,nước ở đây là của dân còn dân ở đây lại là chủ đất nước. HCM nói: trung với nước hiếu với dân suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc vì CNXH nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua. Hiếu với dân là thương dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập nhân - dân, dựa vào dân lấy dân làm gốc. Người lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, dân nguyện, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, có như
  20. vậy mới tạo ra sức mạnh to lớn cho CM. Như vậy, hiếu với dân thì người cán bộ Đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo đầy tớ trung thành của ND. • Yêu thương con người, sống có tình có nghĩa: HCM xác định yêu thương con người là một trong những phẩm chất cao đẹp - nhất. Yêu thương con người phải được thể hiện trong mối quan hệ gia đình, anh em, - đồng bào cả nước, cả loài người. Đòi hỏi mỗi người phải luôn nghiêm khắc với bản thân mình, rộng rãi độ lượng với người khác. Đòi hỏi thái độ tôn trọng con người, phải biết nâng con người chứ không phải hạ thấp vùi dập con người. Yêu thương con người còn được thể hiện với những người có sai lầm khuyết - điểm, nhưng đã nhận rõ sai lầm và cố gắng sửa chữa. Tình yêu thương con người là một tình cảm rộng, trước hết dành cho những - người nghèo khổ, bị mất quyền, bị áp bức bóc lột. • Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Đây là phẩm chất đạo đức trung tâm gắn liền với mọi hoạt động của con người. Cần là siêng năng, chăm chỉ cố gắng, dẻo dai, làm việc có năng suất, có hiệu - quả, không lười biếng, ỷ lại. Kiệm: là tiết kiệm sức lao động, thời gian, tiền của. - Liêm: là trong sạch không tham lam, không cậy quyền thế mà đục khoét của dân, - luôn tôn trọng của công và của dân. Chính: Là không tà, thẳng thắn đứng đắn, không tự cao tự đại, không cầu tiến bộ. Chí công vô tư là ham làm những việc ích quốc lợi dân, không ham địa vị công danh, vinh hoa phú quý. Người chí công vô tư lòng dạ thảnh thơi, đầu óc mới tỉnh táo sáng suốt. Có chí công vô tư mới nêu cao được chủ nghĩa tập thể, từ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư có mối liên hệ mật thiết với nhau. Cần kiệm, liêm chính mới có chí công vô tư và ngược lại. • Tinh thần quốc tế trong sáng: Đó là tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân - việt nam với nhân dân tiến bộ trên thế giới, vì độc lập, vì hòa bình, công lý và tiến bộ XH. Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà HCM nêu lên bằng mệnh đề bốn phương vô sản đều là anh em. Bốn phẩm chất đạo đức này là đạo đức chung cơ bản của con người VN trong thời đại mới để tương lai vươn tới chân thiện mỹ con người, nhằm đáp ứng yêu cầu CM.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2