intTypePromotion=1
ADSENSE

Phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2007-2018

Chia sẻ: ViVientiane2711 ViVientiane2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

87
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước có quy mô lớn, thực hiện sáp nhập MHB vào năm 2015. Bài viết sẽ phân tích rõ về vấn đề này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2007-2018

  1. TAØI CHÍNH DOANH NGHIEÄP Soá 07 (192) - 2019 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2018 Ths. Lê Thị Thúy* Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước có quy mô lớn, thực hiện sáp nhập MHB vào năm 2015. Việc đánh giá hiệu quả của ngân hàng này sẽ giúp cái nhìn tổng thể về hiệu quả các đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng của Việt Nam. Tác giả thực hiện nghiên cứu hiệu quả hoạt động của BIDV trong giai đoạn 12 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy BIDV luôn đạt được hiệu quả hoạt động tốt, nhưng hiệu quả hoạt động không theo quy mô, và chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi hiệu quả kỹ thuật trong giai đoạn 12 năm nghiên cứu (2007-2018). Bài viết sẽ phân tích rõ về vấn đề này. • Từ khóa: hiệu quả hoạt động, DEA, Malmquist, BIDV, hiệu quả kỹ thuật (TE). cận với nguồn vốn do ngân hàng thương mại Joint Stock Commercial Bank for Investment cung ứng ngày một gia tăng cả về số lượng và and Development of Vietnam (BIDV is one phạm vi tiếp cận. Ngoài ra, Quyết định 254/ of the largest scale state-owned commercial banks, did merging in 2015 with MHB. Assessing QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính banks’ performance will help an overall view phủ đã quy định về việc cơ cấu lại các tổ chức of the effectiveness of Vietnamese projects on tín dụng; và Quyết định số 734/QĐ-NHNN của restructuring of credit institution. This paper do Thống Đốc ngân hàng năm 2012 phê duyệt về research BIDV’s performance in 12 years period. The results show that BIDV has always achieved cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng. Hai good performance, but not the scale effiecency, quyết định này sẽ được thực hiện trong thời gian and is mainly affected by technical efficiency from 5 năm (từ 2011 đến 2015). Kết quả triển khai 2007 to 2018.. hai quyết định này đó là, một số các ngân hàng • Keywords: operational efficiency, DEA, thương mại đã tiến hành các hoạt động mua lại, Malmquist, BIDV, technical efficiency. sáp nhập, hợp nhất. Từ đây, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Ngày nhận bài: 2/5/2019 trước và sau khi sáp nhập và hợp nhất (M&A) Ngày chuyển phản biện: 10/5/2019 càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Ngày nhận phản biện: 15/5/2019 Khi bàn về tính hiệu quả, hai yếu tố được Ngày chấp nhận đăng: 20/5/2019 phân tích kèm theo bao gồm: chi phí và kết quả. Hai yếu tố chi phí và kết quả luôn được gắn với 1. Giới thiệu sự phân bổ chi phí và kết hợp các nguồn lực Đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, trong ngân hàng để đạt được các kết quả đầu ra vai trò là chủ thể trung gian tài chính chiếm tỷ (Farrell 1957). Tác giả lựa chọn sử dụng phương trọng chủ yếu, ảnh hưởng của ngân hàng thương pháp phân tích bao ngẫu nhiên (DEA) cho quá mại đến nền kinh tế ngày một lớn mạnh. Với trình phân tích của mình. Tuy nhiên, DEA chỉ những dịch vụ và sản phẩm mang tính công cung cấp cái nhìn về hiệu quả hoạt động theo nghệ cao được hình thành và phát triển trong đơn vị nhất định (DMU- decision making unit). giai đoạn nền công nghiệp 4.0, khách hàng tiếp Để bổ trợ cho đánh giá hiệu quả hoạt động cho * Học viện Tài chính 50 Taïp chí nghieân cöùu Taøi chính keá toaùn
  2. Soá 07 (192) - 2019 TAØI CHÍNH DOANH NGHIEÄP các DMU của DEA, chỉ số Malmquist cung cấp lựa chọn cho nghiên cứu của họ là: số người lao cái nhìn rõ nét hơn về hiệu quả hoạt động theo động, tổng tài sản và vốn của các cổ đông; kết thời gian của đối tượng nghiên cứu. hợp các yếu tố đầu ra được sử dụng là: lợi nhuận Tác giả lựa chọn nghiên cứu đánh giá hiệu và doanh thu, tiền gửi, cho vay, hoặc đôi khi là quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ lợi nhuận. Kết quả các nghiên cứu chỉ ra rằng phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) các ngân hàng thương mại lớn thường có là DRS trong giai đoạn 2007-2018 bởi đây là một trong trong khi các ngân hàng thương mại nhỏ hơn thể những ngân hàng thương mại nhà nước có số hiện IRS. Cấu trúc của mô hình sẽ giúp các đơn lượng vốn điều lệ lớn, trong giai đoạn này ngân vị trong quá trình quản lý. hàng đã thực hiện sáp nhập MHB vào năm 2015. Đánh giá cho các ngân hàng thương mại của Bài nghiên cứu ngoài phần giới thiệu, phần tiếp Brazil theo phương pháp DEA- CCR có đại diện theo của bài viết phản ánh hai nội dung chính. là Iago và các cộng sự (2018), thực hiện đánh giá Đầu tiên tác giả cung cấp cái nhìn tổng thể về cơ cho 37 ngân hàng Brazil giai đoạn 2012-2016 sở lý thuyết và một số nghiên cứu có liên quan. với các biến đầu vào là tài sản cố định, tổng tiền Tiếp đó, số liệu được sử dụng trong đánh giá sẽ gửi và chi phí con người; biến đầu ra là tổng cho được trình bày một cách tổng quát và kết luận vay. Kết quả các tác giả đạt được đó là, trong nghiên cứu đạt được. giai đoạn nghiên cứu, các ngân hàng thương mại 2. Cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu có lớn thường là DRS trong khi các ngân hàng nhỏ liên quan hơn thể hiện IRS. Phương pháp phân tích bao dữ liệu có thể sử Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về hiệu dụng số liệu thu thập được của các ngân hàng, quả hoạt động của các ngân hàng thương mại thực hiện ước lượng biên tối ưu của toàn bộ mẫu theo DEA-CCR, có thể kể tên như: Nguyễn Việt để đánh giá mỗi tổ chức bằng cách so sánh mức Hùng (2008), Ngô Đăng Thành (2012); Lê Phan hiện tại với điểm tối ưu. Điều đó có nghĩa rằng, Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh tiếp cận phi tham số có thể sử dụng cho trường (2013); Nguyễn Thị Thu Hương (2017); Nguyễn hợp số lượng mẫu nhỏ (Ludwin và Guthrie Thị Hà Thanh và Lê Hoàng Việt (2018)... Các 1989). Từ đó, Farrell (1957); Charnes và cộng tác giả đều sử dụng các biến đầu vào bao gồm: sự (1978) cho rằng tiếp cận phi tham số sẽ thích tổng tài sản, tổng tiền gửi và chi phí tiền lương. hợp và linh hoạt hơn cho việc đánh giá hiệu quả Biến đầu ra được các tác giả sử dụng là thu từ hoạt động của các công ty có nhiều yếu tố đầu lãi và thu ngoài lãi. Các tác giả đều có chung kết vào và khó xác định mối quan hệ sản xuất, giống quả là phần lớn các ngân hàng thương mại của như trong trường hợp của các ngân hàng thương Việt Nam đều chưa hoạt động hiệu quả. mại. Khi sử dụng DEA, hai mô hình chính được 3. Số liệu và kết quả nghiên cứu sử dụng là mô hình hiệu quả không thay đổi theo 3.1. Số liệu quy mô (CRS - Constants Return to Scale); và Bài viết tổng hợp số liệu của 9 ngân hàng hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS - Variable thương mại cổ phần (NHTMCP) lớn của Việt Return to Scale). Hiệu quả thay đổi theo quy mô Nam giai đoạn 2007-2018 để tính toán. Thông được phản ánh theo hai chiều hướng: hoặc là qua phương pháp DEA (sử dụng phần mềm hiệu quả giảm theo quy mô (DRS - Decreasing DEAP được viết bởi Coelli năm 1996), tác giả Return to Scale); hoặc là hiệu quả tăng theo quy đánh giá được hiệu quả hoạt động của BIDV và mô (IRS - Increasing Return to Scale). so sánh với các ngân hàng thương mại còn lại Đánh giá cho các ngân hàng thương mại của về hiệu quả. Đồng thời, chỉ số Malmquist được Mỹ điển hình có thể kể đến như Luo (2003) và sử dụng để làm sáng tỏ hiệu quả kỹ thuật, hiệu Kwon và Lee (2015). Các biến đầu vào được quả quy mô và hiệu quả kỹ thuật thuần của từng Taïp chí nghieân cöùu Taøi chính keá toaùn 51
  3. TAØI CHÍNH DOANH NGHIEÄP Soá 07 (192) - 2019 ngân hàng, cho thấy rằng BIDV và các ngân cũng là con số cao nhất so với các ngân hàng hàng khác thuộc loại hiệu quả nào. thương mại so sánh. Điều này cho thấy rằng, so kỹ thuật thuần của từng ngân hàng, cho thấy rằng BIDV và các ngân hàng khác thuộc loại Giống với các nghiên cứuhiệutrước đó về hiệu với các NHTMCP khác được nghiên cứu cùng quả nào. quả hoạt động cho các ngân hàng thương Giống mại với các nghiênthời gian,đóBIDV cứu trước về hiệuđã quảcho hoạt thấy sự các động cho ổn ngân địnhhàng củathương mạibaViệt Việt Nam, bài viết lựa chọn Nam, biến viết lựa mình đầubàivào, chọn bakhi đạtđầu biến được vào,kết baoquả gồm:khả tổngquan đó.cố định (K), tổng tài sản tiền gửi (Depo) và chi phí cho nhân viên (L). Hai biến đầu ra được lựa chọn là: thu từ lãi bao gồm: tổng tài sản cố định (K), (Y1) tổng và thu tiềnlãigửi ngoài (Y2) Dễ nhận thấy rằng trong số 9 NHTMCP Việt (Depo) và chi phí cho nhân viên 3.2. (L).Phân Haitích biến Nam kết quả tronghiệu ước lượng giaiquảđoạn đầu nghiên cứu (2007- kỹ thuật Áp(Y1) đầu ra được lựa chọn là: thu từ lãi dụng và phương thu pháp phân tích 2011), cácbao dữ liệu ngân (DEA) hàng bằng phần có hiệu suất mềm DEAP không đổi2.1, kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật của 9 ngân hàng thương mại được phản ánh theo bảng sau: ngoài lãi (Y2) theo quy mô là chủ yếu. Tình trạng này dần 3.2. Phân tích kết quả ước Bảng 1: Tổng hợp hiệu quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật lượng hiệu quả kỹ thuật theo mô hình thay đổi theo quy mô của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2018 Áp dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) bằng Năm BID VCB CTG MB ACB TCB STB SHB SCB 2007 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 0.747 0.837 1.000 0.750 phần mềm DEAP 2.1, kết quả 2008 1.000 0.899 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 0.953 1.000 ước lượng hiệu quả kỹ thuật của 2009 1.000 0.923 0.621 1.000 1.000 0.972 1.000 0.834 1.000 9 ngân hàng thương mại được 2010 1.000 1.000 1.000 0.997 1.000 0.984 1.000 0.932 1.000 phản ánh theo bảng sau: 2011 1.000 0.738 0.954 0.926 1.000 1.000 1.000 0.983 0.785 2012 0.798 0.761 0.920 0.764 1.000 1.000 0.731 0.595 1.000 Bảng số liệu về hiệu quả kỹ 2013 1.000 1.000 0.881 0.847 0.781 1.000 0.758 0.746 1.000 thuật của từng ngân hàng cho 2014 1.000 1.000 0.889 0.807 0.734 1.000 0.650 0.781 1.000 2015 1.000 0.943 0.861 0.873 0.775 1.000 0.610 0.801 1.000 thấy rằng các NHTMCP của Việt 2016 1.000 0.823 0.767 0.828 0.799 1.000 0.585 0.866 1.000 Nam trong giai đoạn nghiên cứu 2017 1.000 0.643 0.749 0.789 0.736 1.000 0.539 0.939 1.000 đều có hiệu quả kỹ thuật theo mô 2018 1.000 0.828 0.838 0.920 0.803 1.000 0.626 0.984 1.000 hình thay đổi theo quy mô ở mức Trung bình 0.983 0.880 0.873 0.896 0.886 0.975 0.778 0.868 0.961 tương đối cao (trung bình trên Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả theo phần mềm DEAP 2.1. 77,8%). TE của BIDV trong các Bảng số liệu về hiệu quả kỹ thuật của từng ngân hàng cho thấy rằng các NHTMCP năm nghiên cứu hầu như đều củađạt ViệtởNam mứctrong 1 (trừ giai đoạn nghiên được cáccứu đều có hiệuViệt NHTMCP quả kỹNam thuậtcải theothiện, mô hình tuythay đổi năm 2012 ở mức 0,798). Điều này theo quycho môthấy ở mứcrằng tương đối cao (trung bình trên 77,8%). TE của BIDV trong các năm BIDV đã sử dụng tối đa cácnghiên yếu tốcứuđầuhầuvào đều đạtnhiên nhưcủa ở mức số cácnăm 1 (trừ NHTMCP 2012 ở mức có 0,798). hiệu suất Điều tăng theo này cho thấy rằng BIDV đã sử dụng tối đa các quy yếu tốmô đầuvẫn chiếm vào của mìnhtỷ để trọng ít (ngoại tạo ra cùng một kếttrừ quả năm đầu ra. Mức mình để tạo ra cùng một kết quảbình trung đầuTEra. củaMức BIDV đạt ở mức 2018 có 98,3%, 4 trên đây cũng là connghiên 9 NHTMCP số cao nhất cứusođạtvớichỉ các ngân trung bình TE của BIDV đạthàng ở mức 98,3%, thương mại sođây sánh. Điều này cho thấy rằng, so với các NHTMCP khác được nghiên tiêu này). Trong năm 2015 và 2017 có đến cứu cùng thời gian, BIDV đã cho thấy sử ổn định của mình khi đạt được kết quả khả quan Bảng 2: Số lượng các NHTMCP đó.có hiệu suất giảm (DRS), 4 trên 9 NHTMCP có hiệu suất giảm theo tăng (IRS) và không đổi (CRS) trong giai đoạn 2007-2018 quy mô, đồng nghĩa với việc các NHTM DRS IRS CRS này có gia tăng quy mô lớn hơn cũng 2007 1 2 6 không ảnh hưởng tới hiệu suất của mình. 2008 1 1 7 Bốn năm cuối giai đoạn nghiên cứu đều có 3 2009 2 2 5 chung số lượng các NHTMCP có hiệu suất 2010 1 2 6 2011 2 3 4 không đổi theo quy mô (3 NHTMCP)- con 2012 4 2 3 số này là khá lớn so với tổng số NHTM 2013 2 3 4 được nghiên cứu. 2014 2 3 4 2015 4 2 3 Mặt khác, trong giai đoạn 12 năm 2016 3 3 3 nghiên cứu, BIDV có hiệu suất chủ yếu là 2017 4 2 3 không đổi theo quy mô (có riêng năm 2012 2018 2 4 3 là giảm theo quy mô). Điều này cho thấy Nguồn: Phần mềm DEAP 2.1 và tính toán của tác giả rằng hiệu suất của BIDV sẽ không bị ảnh Dễ nhận thấy rằng trong số 9 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn đầu nghiên cứu (2007-2011), các ngân hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô là chủ yếu. Tình trạng này dần được các NHTMCP Việt Nam cải thiện, tuy nhiên số các NHTMCP có hiệu suất tăng theo quy mô vẫn 52chiếmTaï p chí tỷ trọng nghieâ ít (ngoại n cöù trừ năm ucóTaø 2018 i chính 4 trên keánghiên 9 NHTMCP toaùn cứu đạt chỉ tiêu này). Trong năm 2015 và 2017 có đến 4 trên 9 NHTMCP có hiệu suất giảm theo quy mô, đồng nghĩa với việc các NHTM này có gia tăng quy mô lớn hơn cũng không ảnh hưởng tới hiệu suất của mình. Bốn năm cuối giai đoạn nghiên cứu đều có chung số lượng các
  4. Soá 07 (192) - 2019 TAØI CHÍNH DOANH NGHIEÄP hưởng dù họ có gia tăng quy mô của mình hơn thể hiện cho sự thay đổi về năng suất nhân tố những năm trước. Sự thật đã thể hiện qua việc tổng hợp. tổng tài sản của BIDV gia tăng mạnh mẽ những Qua bảng chỉ số Malmquist bình quân thời năm gần đây nhưng lợi nhuận của họ thu được kỳ 2007-2018 dễ nhận thấy rằng, trong các chỉ so với các NHTMCP khác lại có phần không số đại diện cho các hiệu quả, chỉ duy có sự thay tương xứng. đổi về hiệu quả về quy mô đúng bằng 1, phản 3.2. Phân tích kết quả ước lượng chỉ số ánh rằng các NHTMCP đa số không có thay đổi Malmquist hiệu quả về quy mô. Mặt khác, các chỉ số còn Kết quả ước lượng sự thay đổi hiệu quả và lại đều dưới 1 đã nói lên rằng các NHTMCP năng suất trung bình của 9 NHTMCP Việt Nam Việt Nam được nghiên cứu trong giai đoạn này trong giai đoạn từ 2007 đến 2018 được phản ánh về trung bình đều đang có hiệu suất giảm. Các thông qua các chỉ số như: EFFCH đại diện cho NHTMCP Việt Nam có chỉ số Malmquist giảm sự thay đổi củaBảng hiệu3:quả Chỉ số Malmquist bình quân thờitrung kỹ thuật; TECHCH đại kỳ 2007-2018 bình 2,8%, tương ứng với sự giảm của các diện cho sự thay đổi tiếnTECHCH EFFCH bộ công nghệ; PECHPECH chỉ SECH EFFCH,TFPCH số TECHCH và PECH lần lượt là: thể hiện cho sự thay đổi về hiệu quả thuần; sự 0,4%; 2,4% và 0,4%. Năm (Thay đổi kỹ thuật) (Thay đổi (Thay đổi hiệu tiến bộ công nghệ) (Thay đổi quả thuần) (Thay đổi nhân tố hiệu quả quy mô) năng suất tổng hợp) thay2007-2008 đổi về quy mô được0.878 1.069 phản ánh thông 1.031 qua Trong các 0.939 1.037 năm nghiên cứu, các chỉ số 2008-2009 0.934 0.889 0.958 0.975 0.830 chỉ 2009-2010 tiêu SECH;1.078 và cuối cùng 1.125là chỉ tiêu1.044 TFPCH Malmquist 1.033 đều 1.212 có sự biến động, cho thấy các 2010-2011 0.936 1.379 1.000 0.936 1.290 NHTMCP Việt Nam 2011-2012 Bảng 0.8953: Chỉ số 0.901 Malmquist bình quân thời kỳ0.946 0.946 2007-2018 0.806 2012-2013 1.066 0.737 1.017 1.049 0.786 vẫn luôn nỗ lực để 2013-2014 EFFCH0.977 TECHCH 0.911 PECH 0.976 SECH 1.001 TFPCH 0.890 tăng thay đổi nhân tố Năm 2014-2015 (Thay đổi 1.001 (Thay đổi 0.985 (Thay đổi hiệu 0.797 (Thay đổi 1.022 (Thay đổi nhân tố 0.986 2015-2016 kỹ thuật) 0.974 tiến bộ công nghệ) 0.965 quả thuần) 0.980 hiệu quả0.993 quy mô) năng suất0.939tổng hợp) năng suất tổng hợp 2007-2008 2016-2017 1.069 0.956 0.878 1.161 1.031 0.959 1.037 0.997 0.939 1.110 của mình cũng như 2008-2009 2017-2018 0.934 1.093 0.889 0.951 0.958 1.073 0.975 1.019 0.830 1.040 2009-2010 2007-2018 1.078 0.996 1.125 0.976 1.044 0.996 1.033 1.000 1.212 0.972 thay đổi các hiệu quả 2010-2011 0.936 1.379 1.000 0.936 1.290 khác. 2011-2012 0.895 0.901 0.946Nguồn: Tính 0.946 toán của tác giả từ chỉ số Malmquist 0.806 2012-2013 1.066 0.737 1.017 1.049 0.786 Trong giai đoạn Qua bảng0.977 2013-2014 chỉ số Malmquist 0.911bình quân thời kỳ 2007-20181.001 0.976 dễ nhận thấy rằng,0.890 trong các chỉ số đại diện cho các1.001 2014-2015 hiệu quả, chỉ duy có sự thay đổi0.797 0.985 về hiệu quả về quy mô đúng bằng 1, 1.022 phản ánh rằng 0.986 2007-2018, BIDV 2015-2016 các NHTMCP đa0.974 0.965đổi hiệu quả0.980 số không có thay về quy mô. Mặt0.993khác, các chỉ số còn lại đều dưới 1luôn duy trì PECH 0.939 2016-2017 đã nói lên rằng 0.956 các NHTMCP1.161 Việt Nam được0.959nghiên cứu trong 0.997 giai đoạn này về1.110 trung bình đềuở mức 1. Con số 2017-2018 đang có hiệu suất1.093 0.951 giảm. Các NHTMCP Việt Nam1.073 1.019 giảm trung bình có chỉ số Malmquist 1.0402,8%, tương 2007-2018 ứng với sự giảm0.996 của các chỉ số 0.976 EFFCH, TECHCH 0.996 1.000là: 0,4%; 2,4%0.972 và PECH lần lượt và 0,4%. này cho thấy rằng Trong các năm nghiên cứu, các chỉ số MalmquistNguồn: Tính đềutoán có của sự tác biến giả từđộng, cho thấy cácBIDV không có sự chỉ số Malmquist NHTMCP Việt Nam vẫn luôn nỗ lực để tăng thay đổi nhân tố năng suất tổng hợp của mình cũng như thay thay đổi về hiệu quả Quađổi cácchỉ bảng hiệu số quả khác. bình quân thời kỳ 2007-2018 dễ nhận thấy rằng, trong các chỉ số Malmquist đại diện cho các hiệu quả, chỉ duy có sự thay đổi về hiệu quả về quy mô đúng bằng 1, phản ánh rằng thuần. Cùng với các NHTMCP đa Bảng 4: Chỉ số không có số Malmquist thay đổi hiệu quảcủavề BIDV quy mô. trong giai đoạn Mặt khác, các chỉ2007-2018 số còn lại đều dưới 1 đó, SECH trong đã nói lên rằng các NHTMCP Việt Nam được nghiên cứu trong giai đoạn này về trung bình đều đang có hiệu suất giảm. Các NHTMCP EFFCH Việt Nam có chỉ TECHCH PECH số Malmquist SECH giảm trung bình 2,8%, TFPCH tương các năm nghiên Năm (Thay đổi (Thay đổi tiến bộ (Thay đổi hiệu quả (Thay đổi hiệu ứng với sự giảm của các chỉ số EFFCH, TECHCH và PECH lần lượt là: 0,4%; 2,4% và 0,4%. quả (Thay đổi nhân tố cứu của BIDV hầu kỹ thuật) công nghệ) thuần) Trong các năm nghiên cứu, các chỉ số Malmquist đều có quy sự mô) biến động,năng suất tổng hợp) cho thấy các hết đều không có 2008 1.000 1.131 1.000 1.000 1.131 NHTMCP Việt Nam vẫn luôn nỗ lực để tăng thay đổi nhân tố năng suất tổng hợp của mình cũng 2009 1.000 như thay đổi các hiệu quả khác. 0.880 1.000 1.000 0.880 sự thay đổi về hiệu 2010 1.000 1.084 1.000 1.000 1.084 2011 1.000 1.314 1.000 1.000 1.314 quả quy mô, ngoài 2012 Bảng 4:0.798 Chỉ số Malmquist 0.868 của BIDV trong giai đoạn 1.000 2007-2018 0.693 0.798 sự gia tăng 25,4% 2013 1.254 0.836 1.000 1.254 1.048 2014 EFFCH 1.000 TECHCH 0.841 PECH 1.000 SECH 1.000 TFPCH 0.841 vào năm 2013 và sự Năm 2015 (Thay đổi 1.000 kỹ thuật) (Thay đổi tiến bộ (Thay đổi1.000 0.945 công 1.030 nghệ) hiệu quả (Thay đổi1.000 thuần) hiệu quả (Thay đổi quy1.000 mô) nhân tố 0.945 năng suất1.030 tổng hợp) giảm 20,2% trong 2016 1.000 1.000 2008 2017 1.000 1.000 1.131 1.037 1.000 1.000 1.000 1.000 1.131 1.037 năm 2012 khiến cho 2009 2018 1.000 1.000 0.880 0.947 1.000 1.000 1.000 1.000 0.880 0.947 ngân hàng này có sự 2010 bình Trung 1.000 1.004 1.084 0.992 1.000 1.000 1.000 1.005 1.084 0.996 2011 1.000 1.314 1.000 1.000 1.314 gia tăng nhẹ trong 2012 0.798 0.868 1.000Nguồn: Tính toán 0.798của tác giả từ chỉ số Malmquist 0.693 2013 1.254 0.836 1.000 1.254 1.048 2014 1.000 0.841 1.000 1.000 0.841 5 2015 1.000 0.945 1.000 1.000 0.945 2016 1.000 1.030 1.000 1.000 1.030 2017 1.000 1.037 Taï 1.000p chí nghieâ 1.000 n cöùu 1.037 Taøi chính keá toaùn 53 2018 1.000 0.947 1.000 1.000 0.947 Trung bình 1.004 0.992 1.000 1.005 0.996 Nguồn: Tính toán của tác giả từ chỉ số Malmquist
  5. TAØI CHÍNH DOANH NGHIEÄP Soá 07 (192) - 2019 tổng trung bình các năm nghiên cứu (0,5%). for future research, European Journal of Operational Tương ứng với SECH, EFFCH của BIDV cũng Research 98, trang 175-212. luôn duy trì ở mức 1, không có sự thay đổi về Charnes, A., W.W. Cooper, and E. Rhodes (1978), Measuring the Efficieny of Decision Making Units, hiệu quả kỹ thuật (ngoài hai năm 2012 và 2013 European Journal of Operational Research 2, trang 429- với sự tăng giảm tương ứng với tỷ lệ của SECH). 444. Mặc dù BIDV hầu hết trong giai đoạn nghiên Farrell (1957), The measurement of productive cứu đều duy trì sự không thay đổi về EFFCH, efficiency, Journal of Royal Statistical Society 120(3), SECH và PECH nhưng TFPCH của BIDV xét trang 253-290. Iago Cotrim Henriques., Vinicius Amorim Sobreiro., trung bình các năm nghiên cứu lại có dấu hiệu Herbert Kimura (2018), Efficiency in the Brazilian giảm 0,4%. Sự sụt giảm này chủ yếu đến từ banking system using data envelopment analysis, Future nguyên nhân do sự sụt giảm về sự thay đổi tiến Business Journal 4, trang 157-178. bộ công nghệ của ngân hàng (giảm 0,8%). Điều Kwon, H.B., Lee, J (2005), Two-stage production này cho ta hiểu rằng, NHTMCP Đầu tư và phát modeling of large U.S banks: A DEA-neural network approach, Expert Systems with Applications 42 triển Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đã (November (19)), trang 6758-6766 dần có sự đầu tư trong công nghệ để gia tăng Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh hiệu quả hoạt động của mình liên tục từ năm (2013), Ứng dụng phương pháp DEA trong đánh giá hiệu 2013 đến năm 2017. Kết quả cho thấy vào các quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương năm 2016 và 2017, ngân hàng đã có sự thay đổi mại cổ phần Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, số 21 tháng 11/2013, trang 16-17. tiến bộ công nghệ ở mức trên 1, gia tăng ở mức Luo, X (2003), Evaluating the profitability and lần lượt là 3% và 3,7%. Từ đây, sự gia tăng trong marketability efficiency of large banks: An application chỉ số Malmquist chủ yếu do sự thay đổi tiến bộ of data envelopment analysis, Journal of Business công nghệ của ngân hàng, ảnh hưởng của thay Research 56(1), trang 627-635. đổi về hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quy mô và Ngô Đặng Thành (2012), Measuring the Performance hiệu quả thuần gần như không đáng kể. of the Banking System case of Vietnam (1990-2010), Journal of Applied Finance & Banking, 2(2), trang 289- 4. Kết luận 312. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trong giai Ngô Đăng Thành (2015), Hướng dẫn sử dụng phương đoạn 2007-2018, BIDV là NHTMCP có hiệu pháp phân tích bao dữ liệu trong Excel (phiên bản 2.0), SSRN Electronic Journal. quả kỹ thuật đạt mức trung bình cao nhất so với Nguyễn Thị Hà Thanh và Lê Hoàng Việt (2018), các NHTMCP khác của Việt Nam. Tuy nhiên, Phân tích hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng hiệu quả hoạt động của BIDV là hiệu quả không thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2011-2016, Tạp thay đổi theo quy mô (CRS) nên dù ngân hàng chí kinh tế đối ngoại số 103, ngày 16/5/2018. có mạng lưới quy mô được mở rộng theo thời Nguyễn Thị Thu Hương (2017), Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái gian nhưng không ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt Nguyên, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ tập động của mình. Hiệu quả hoạt động không thay 50, trang 52-62. đổi theo quy mô cũng là hiện tượng của đại đa Nguyễn Việt Hùng (2008), Phân tích các nhân tố ảnh số các NHTMCP được nghiên cứu tại Việt Nam. hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Việt Thêm vào đó, chỉ số Malmquist cũng chỉ ra rằng, Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. hiệu quả quy mô và hiệu quả thuần không có ảnh Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động của BIDV. phủ ngày 01/03/2012 về “Phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”. Tài liệu tham khảo: Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2012 của Berger, A.N., Humphrey, D.B (1997), Efficiency of NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành finance institutions: International survey and directions ngân hàng triển khai thực hiện đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”. 54 Taïp chí nghieân cöùu Taøi chính keá toaùn
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2