intTypePromotion=1

Quan niệm về tiểu thuyết trong Lý luận phê bình văn học Đô thị miền Nam 1954-1975

Chia sẻ: Lulu Nguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
98
lượt xem
14
download

Quan niệm về tiểu thuyết trong Lý luận phê bình văn học Đô thị miền Nam 1954-1975

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tuy có mối liên hệ, gắn bó như thế nhưng trong quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam, nhân vật tiểu thuyết dù có là “những mảnh đời”, là “nỗi ám ảnh” của tác giả thì vẫn luôn độc lập với tác giả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quan niệm về tiểu thuyết trong Lý luận phê bình văn học Đô thị miền Nam 1954-1975

  1. Quan niệm về tiểu thuyết trong Lý luận phê bình văn học Đô thị miền Nam 1954-1975
  2. Tuy có mối liên hệ, gắn bó như thế nhưng trong quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam, nhân vật tiểu thuyết dù có là “những mảnh đời”, là “nỗi ám ảnh” của tác giả thì vẫn luôn độc lập với tác giả. Bởi lẽ, khi nhà văn tạo ra nhân vật, nghĩa là đã cho nhân vật một đời sống riêng, một định mệnh riêng, từ đó nhân vật sẽ định liệu số phận của mình. Võ Phiến cho rằng “Tác giả tạo ra một nhân vật có cá tính hẳn hoi, mở đầu quyển truyện cho nhân vật khởi sự cuộc đời, rồi kết cục cuộc đời sẽ ra sao là tùy nhân vật tự định liệu lấy. Nhân vật cứ làm chủ lấy định mệnh của mình và tự do hành động theo bản tính”(32). Cho nên, khi xây dựng nhân vật tiểu thuyết, nhà văn phải tôn trọng tính độc lập của nhân vật, phải thấy được qui luật vận động nội tại của tính cách nhân vật. Bởi lẽ theo Võ Phiến “Nhân vật tiểu thuyết vốn hèn lắm, họ không chịu hi sinh cho cốt truyện, cho luận đề, cho ý tưởng cao đẹp nào cả (…) Ép họ hi sinh như thế thì họ chết non không kịp thành nhân dạng, đã thiệt hại cho họ mà “việc lớn” cũng không thành”(33). Tính độc lập của nhân vật còn thể hiện ở sự tiếp nhận nơi người đọc. Nếu chỉ là một hằng số minh họa cho tư tưởng của tác giả theo luận đề có sẵn, nhân vật tiểu thuyết sẽ không bao giờ có sức sống dài lâu. Bởi lẽ việc tiếp nhận là một biến số tương hợp với tầm đón đợi của người đọc. Do đó sẽ không bao giờ có nhân vật tiểu thuyết nào là mẫu số chung cho mọi thời mà nó luôn chuyển hóa theo sự tiếp nhận của người đọc ở mỗi thời. Muốn vậy nhà văn phải tôn trọng sự phát triển tự do của nhân vật. Đó cũng là quan điểm của Nguyễn Văn Trung khi ông cho rằ ng “muốn cho nhân vật sống động hãy coi họ như những tự do, như những cuộc đời luôn luôn có những thay đổi bất ngờ, trong đó không một hành động nào xấu tốt có thể quyết định một cách hoàn tất cả cuộc đời đó”(34). Nhân vật tiểu thuyết phải là một biến số, nghĩa là tự nó phải luôn có sự chuyển hóa để thích nghi với những biến sinh của đời sống thì mới tạo được sức sống trong lòng người. Đây cũng là điều Võ Phiến lưu ý nhà văn khi xây dựng nhân vật tiểu thuyết: “Nhân vật tiểu thuyết thuở đầu tiên là những kẻ phi thường, hành tung gây nên kinh ngạc. Sau đó đến một thời kì họ là những kẻ làm cho độc giả xúc động, thổn thức trong cõi lòng. Nhưng rồi đến lúc độc giả tinh tế trông thấy rõ tâm lý quá thô sơ của họ, nhân vật tiểu thuyết bèn vứt, bỏ mọi huênh hoang, hạ mình xuống làm những kẻ tầm thường như bất cứ ai ngoài đời. (…) Nhưng tầm thường rồi lại vẫn không được yên thân. Một thế hệ khác lại khám phá ra rằng họ chưa chân thực. Ngang tàng là giả dối, đắm
  3. đuối là giả dối, tầm thường trong khuôn phép lại cũng giả dối nốt. Lớp tác giả sau này phát giác rằng phía sau cái bề mặt đúng đắn, hợp lý, phía sau cái cuộc sống theo ước lệ xã hội đó - cái lớp vỏ rất mỏng ấy - còn có cái thế giới mênh mông của sinh hoạt bản năng, của những phản ứng phi lý, kì quặc, vô thường. Họ khai phá thế giới ấy và nhân vật tiểu thuyết hóa thành những kẻ dị thường, nhảm nhí, tự mâu thuẫn”(35). Vì vậy, nếu nhà văn cứ biến nhân vật tiểu thuyết thành luận điểm minh chứng cho một luận đề có sẵn, thì nhân vật cũng chỉ là những đốm sáng nhạt nhòa, lụi tàn theo thời gian, theo những biến sinh của đời sống xã hội. Chính vì thế Nhất Linh trong tác phẩm "Viết và đọc tiểu thuyết" cho rằng việc viết tiểu thuyết luận đề “là cái lầm lớn nhất trong đời văn sĩ của tôi”(36). Đồng thời để nói rõ hơn việc nhà văn sử dụng nhân vật minh họa cho luận thuyết tư tưởng của mình, Nhất Linh đã thành thực nhận ra: “Độ ấy tôi chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài, họ không phải là cái chính và chỉ dùng những chi tiết nào lợi cho cái ý chứng tỏ của mình không theo sát cuộc đời thực là mục đích chính của tiểu thuyết mà đổi cuộc đời thực đi để lại cho luận đề của mình”(37). Văn học bao giờ cũng là hiện thân những ngẫm ngợi của nhà văn về cuộc đời. Nhân vật tiểu thuyết không thể hằng sinh nếu nó không thực sự là những con người từ đời sống bước vào trang văn, và từ trang văn trở lại với cuộc đời “nghệ thuật không nên để vắng mặt con người thay vào những hình nộm”(38), vì theo Thanh Tâm Tuyền “tiểu thuyết là hình bóng cuộc đời. Và hình bóng còn thực hơn cả cuộc đời”(39). Quả thật, nhân vật tiểu thuyết luôn có mối liên hệ với cuộc đời. Nó là hình bóng của con người, có tác động đến lối sống của con người. Cho nên trong phương thức xây dựng nhân vật, dù theo quan niệm nào, phương thức nào thì nhân vật tiểu thuyết cũng bắt nguồn từ cuộc đời thực và phải độc lập với tác giả. Nhân vật tiểu thuyết phải có đời sống riêng, số phận riêng phù hợp với sự phát triển tính cách của nhân vật và logíc của đời sống. Có như thế nhân vật mới có sức sống lâu dài trong lòng người người đọc. Cho nên, theo Thanh Tâm Tuyền, nếu đem nhân vật tiểu thuyết kiểm chứng ở ngoài đời sẽ thấy lối sống của nhân vật đã thấm vào người đời, “lối sống ấy càng bền bao nhiêu, tiểu thuyết càng sống lâu bấy nhiêu, và nhân vật hiện hình ở rất nhiều người ngoài đời”(40). Vì nói như Lê Tuyên: “Nhà tiểu thuyết sống với cuộc đời và mỗi nhịp sống như thế là một căn bản sáng tạo. Chính vì tiểu thuyết bao hàm sự sống nên vấn đề sống đối với
  4. sáng tạo tiểu thuyết rất quan trọng vì có sống mới đưa được cuộc đời từ ngoại giới vào nội tâm để làm chất liệu sáng tạo”(41). Đúng thế, cuộc sống vẫn luôn là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của văn học. Nhà tiểu thuyết luôn tìm thấy ở cuộc đời những chất liệu để xây dựng tác phẩm, xây dựng nhân vật. Cho nên nhân vật tiểu thuyết vừa là sản phẩm lại vừa là chủ thể tác động đến cuộc sống. Trong cuộc đời không hiếm những con người lấy nhân vật tiểu thuyết làm khuôn mẫu, làm lẽ sống. Những nhân vật lý tưởng trong tiểu thuyết nhiều khi có sức ám ảnh rất lớn đối với con người ngoài cuộc đời. Nhưng không vì thế mà đồng nhất nhân vật tiểu thuyết với con người ngoài cuộc đời. Bởi vì nhân vật tiểu thuyết là nhân vật của hư cấu và tưởng tượng, là nhân vật có tính chất điển hình được xây dựng theo quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Vì theo Nguyễn Sỹ Tế, “Nhân vật tiểu thuyết là nhân vật của một thời đại nhất định nhưng nó cũng là nhân vật của mọi thời đại, nghĩa là nó vượt lên trên “thời đại tính” để đạt đến “trường cửu tính”(42). Quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam cho rằng, nhân vật tiểu thuyết không hề tách rời cuộc đời là một quan niệm đúng đắn, có giá trị nhân văn. Đây không phải là một quan niệm mang tính khai phá, đó là sự tiếp biến quan niệm tiểu thuyết của lý luận phê bình văn học phương Tây và của dân tộc. Tuy nhiên nó vẫn có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần hình thành hệ thống lý luận văn học ở đô thị miền Nam. 3. Về cốt truyện tiểu thuyết Cùng với nhân vật, cốt truyện cũng là một trong những yếu tố nghệ thuật cấu thành tác phẩm tiểu thuyết. Trong tác phẩmViết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh cho rằng khi “chọn được đầu đề rồi, mình nghĩ qua cốt truyện”. Như vậy, Nhất Linh đã mặc nhiên thừa nhận yếu tố cốt truyện trong quá trình viết tiểu thuyết. Song trong quan niệm của mình, ông lại không coi trọng yếu tố cốt truyện. Vì theo ông “cái truyện” hay “cốt truyện” trong một tiểu thuyết không có gì quan trọng cả. Và nếu vẫn viết với ý định tạo ra một cuốn sách hay và lâu bền thì tốt hơn là đừng nghĩ đến truyện, đừng mất công xây dựng “truyện” một cách tài tình, khéo léo. Cần có ngay cái đại cương là đủ rồi”(43). Xuất phát từ quan niệm coi nhẹ vai trò của cốt truyện, nên Nhất Linh cho rằng giá trị của tiểu
  5. thuyết không phải ở cốt truyện mà chính ở tài năng của tác giả trong việc xây dựng nhân vật, “cuốn Kiều sống mãi vì có những nhân vật sống như ở đời người thực từ ý nghĩ đến lời nói, cử chỉ”(44). Quan niệm của Nhất Linh có những điểm tương hợp với quan niệm lý luận văn học hiện đại về cốt truyện trong tiểu thuyết. Nghĩa là trong tiểu thuyết hiện đại không nhất thiết phải có cốt truyện như tiểu thuyết truyền thống. Khác với Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ trong Văn học và tiểu thuyết, không đề cao cũng không coi nhẹ cốt truyện mà thừa nhận cốt truyện là một trong những yếu tố chính của tiểu thuyết. Theo ông “Nhân vật với cốt truyện như hình với bóng”(45). Chính vì vậy mà “rất khó phân biệt cho riêng rẽ giữa cốt truyện (hay tình tiết) với nhân vật”(46). Doãn Quốc Sỹ quan niệm “cốt truyện là gì, nếu không là hành động, những phản ứng của các nhân vật với nhau, hoặc giữa các nhân vật với hoàn cảnh đương đại (...) có những chuyện chú trọng nhiều đến hành động bên ngoài của nhân vật. Có những truyện lại chú trọng về những suy tư, những biến chuyển nội tâm của nhân vật, nhưng dù hành động bên ngoài hay suy tư bên trong thì truyện vẫn phải có cốt truyện (tình tiết) và nhân vật”(47). Như vậy, theo Doãn Quốc Sỹ, tiểu thuyết bao giờ cũng có cốt truyện. Và cốt truyện luôn gắn với những chuyển biến nội tâm của nhân vật. Và “để kích thích tò mò của độc giả, tác giả thường dựng lên những tình tiết u uẩn hồi hộp khiến độc giả đọc tới đấy tự nhiên thấy thắc mắc mà tự hỏi rồi việc gì sẽ xảy ra”(48). Đây chính là yếu tố tạo nên lực hút nơi độc giả. Cốt truyện càng rắc rối tính hấp dẫn càng tăng cao. Vì thế “Ngoài việc cốt truyện làm độc giả thắc mắc việc gì sẽ xảy ra, tác giả còn làm độc giả thắc mắc khi nêu thành vấn đề cần giải quyết, có khi cốt truyện rắc rối hơn, truyện này lăng líu tới truyện nọ, vấn đề này vừa giải quyết vấn đề khác đã xuất hiện trầm trọng hơn, cứ như vậy độc giả bị cuốn dẫn đến tột điểm kịch bản (climax) của cốt truyện”(49). Rõ ràng “cốt truyện” trong quan niệm của Doãn Quốc Sỹ là yếu tố làm nên giá trị của tiểu thuyết, là một phương diện thể hiện tài năng của nhà văn và tạo nên lực hấp dẫn đối với người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm tiểu thuyết. Đây là quan niệm lý luận văn học truyền thống, một quan niệm đề cao vai trò của cốt truyện như một đơn vị cấu thành tác phẩm tiểu thuyết.
  6. Còn Võ Phiến, trong tác phẩm Tiểu thuyết hiện đại, trên cơ sở phân tích tiến trình vận động của cốt truyện trong tiểu thuyết, tác giả cho rằng giá trị của tiểu thuyết liên quan đến sự thay đổi trong quan niệm về cốt truyện. “Đã có một thời cái giá trị ấy ở chỗ nó làm ta hồi hộp vì truyện li kì, có thời nó ở chỗ làm ta thấm thía vì những nhận xét thấu đáo sâu sắc, tại sao vào một thời kì khác nó lại không thể ở chỗ gây cho ta sự hoang mang nghĩ ngợi về vấn đề triết lý siêu hình”(50). Chính vì vậy, theo tác giả, người đọc cần có quan niệm đúng đắn về vai trò của cốt truyện phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kì trong sự vận động của thể loại, không thể “đi thưởng thức tác phẩm của giai đoạn sau này với quan niệm của các giai đoạn trước”(51). Theo ông, sự thay đổi trong quan niệm về tiểu thuyết sẽ là tiền đề dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm về vai trò của cốt truyện. Trong quá trình vận động của tiểu thuyết, vai trò cốt truyện ngày càng mờ nhạt và có thể sẽ mất hẳn trong loại “tiểu thuyết mới” khi mà“tiểu thuyết tới đây không còn là vẽ lại cuộc đời nữa mà chuyện đặt ra những băn khoăn hỏi về cuộc đời”(52). Vì vậy theo tác giả nếu vẫn giữ quan niệm tiểu thuyết bao giờ cũng phải có cốt truyện thì “những độc giả đi tìm cốt truyện có khi ngơ ngác hoặc trước cảnh đầu Ngô mình Sở; hoặc trước chút truyện quá nghèo nàn, hoặc trước một câu chuyện quá đỗi vô lý; có khi cũng vẫn có thể tìm thấy một truyện có đầu có đuôi, nhưng không lấy gì làm hồi hộp lý thú. Còn những độc giả đi tìm sự thực linh động vẫn có thể gặp ít nhiều sự việc có thực, nhưng không hề được phân tích sâu xa, trình bày tỉ mỉ cho xứng ý. Họ chỉ có thể thực sự thưởng thức những tác phẩm như thế khi họ chấp nhận quan điểm của chính lớp tiểu thuyết gia giai đoạn này”(53). Vì thế, theo Võ Phiến để có cái nhìn phù hợp với sự vận động của tiểu thuyết, người đọc cũng phải trang bị cho mình những tri thức hiện đại về tiểu thuyết, cũng như phải tự điều chỉnh quan niệm của mình, chuẩn bị một tầm đón đợi mới, có như thế mới tránh được những ngộ nhận đáng tiếc vì “lấy tiêu chuẩn của giai đoạn này mà phán đoán tác phẩm của giai đoạn kia, thế nào cũng không vừa ý. Lấy con mắt của người đọc Tây Du Ký mà nhìn vào Bướm trắng của Nhất Linh tất phải kêu là không phải tiểu thuyết chân chính. Cũng như lấy con mắt của kẻ quen đọc Bướm trắng mà nhìn vào Tòa lâu đài của Kafka tự nhiên cũng có cảm tưởng như thế”(54). Rõ ràng, quan niệm của võ Phiến về cốt truyện là quan niệm của lý luận văn học hiện đại, ảnh hưởng trào lưu tiểu thuyết mới của phương Tây. Đó là trào lưu mà trong quan niệm
  7. của họ, nhân vật và cốt truyện không là yếu tố nhà văn quan tâm khi xây dựng tác phẩm tiểu thuyết. Như vậy, trong quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam cốt truyện dù có hay không có, dù quan trọng hay không quan trọng, thì vẫn là yếu tố trong hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết. Đồng thời cốt truyện cũng luôn vận động và phát triển theo quá trình vận động của thể loại tiểu thuyết. Đây là quan niệm đan xen giữa lý luận văn học truyền thống và hiện đại. Việc nhìn nhận sự biến đổi của cốt truyện gắn với sự biến đổi quan niệm tiểu thuyết hoàn toàn phù hợp với tư tưởng hiện đại của khuynh hướng phê bình tiểu thuyết mới trong những giai đoạn trước cũng như các loại tiểu thuyết thời kì hậu hiện đại. Rõ ràng, từ quan niệm của loại tiểu thuyết có cốt truyện đến quan niệm của thể loại tiểu thuyết không có cốt truyện và vắng bóng con người là một quá trình tiệm tiến trong sự vận động và phát triển của tiểu thuyết - một thể loại không bao giờ bị “đông cứng” theo quan niệm của Bakhtin. Và như vậy quan niệm về tiểu thuyết của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975 cũng là một quan niệm luôn vận động và phát triển trong tư duy lý luận. Nó góp phần hoàn thiện quan niệm tiểu thuyết cũng như xác lập hệ thống quan niệm về thể loại văn học trong lý luận phê bình dân tộc trên hành trình tiếp cận với tư duy lý luận phê bình hiện đại của thế giới
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2