intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Sáng kiến kinh nghiệm: Lấy học sinh làm trung tâm trong giờ học toán lớp 2

Chia sẻ: Nguyễn Thị Thu Trinh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:19

0
1.177
lượt xem
345
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Lấy học sinh làm trung tâm trong giờ học toán lớp 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm lấy học sinh làm trung tâm trong giờ học toán lớp 2. Phần môn toán trong chương trình giảng dạy Toán lớp 2 chiếm một vị trí quan trọng trong bậc Tiểu học. Nó là nền móng cho việc học môn Toán ở các lớp tiếp theo của bậc Tiểu học và Trung học sau này. .

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Lấy học sinh làm trung tâm trong giờ học toán lớp 2

  1. Sáng kiến kinh nghiệm Lấy học sinh làm trung tâm trong giờ học toán lớp 2 1
  2. I. Đặt vấn đề: Phần môn toán trong chương trình giảng dạy Toán lớp 2 chiếm một vị trí quan trọng trong bậc Tiểu học. Nó là nền móng cho việc học môn Toán ở các lớp tiếp theo của bậc Tiểu học và Trung học sau này. Đặc trưng chủ yếu và phương pháp dạy học mới là coi học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học. Nhờ cách dạy học như vậy mà học sinh tiếp thu kiến thức một cách tích cực giáo viên nắm được khả năng của từng học sinh, từ đó có thể tạo điều kiện giúp học sinh phát triển năng lực của cá nhân. Đó chính là những lý do khiến tôi chọn đề tài này. II. Thực trạng: Trong quá trình dạy học, để học sinh tiếp thu kiến thức chủ động, tôi có một số biện pháp tiến hành có hiệu quả sau : III. Giải quyết vấn đề: 1. Giảng bài mới kết hợp củng cố, vận dụng kiến thức đã học : 2
  3. Giảng bài mới trong tiết học Toán hết sức quan trọng. Học sinh có vận dụng luyện tập giải Toán đúng hay sai là ở chỗ này. Do vậy, trong khi dạy, tôi luôn bảo đảm truyền thụ đủ nội dung kiến thức của bài học bằng cách. Chuẩn bị bài hết sức chu đáo, cẩn thận. Soạn bài trước một tuần để có thêm thời gian nghiên cứu, hiểu kỹ yêu cầu nội dung của bài học. Khi soạn bài, tôi luôn tìm hướng giảng bài mới một cách dể hiểu nhất đối với trò mà vẫn phát huy được tư duy của trò, lấy "học sinh làm trung tâm". Vì vậy, kết hợp với khâu chuẩn bị bài của học sinh, trong mỗi tiết dạy bài mới, tôi cung cấp đủ nội dung bài, đồng thời khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức đã học có liên quan thực hiện phương châm "ôn cũ, học mới". Với cách thực hiện như thế, học sinh sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng mà đầy đủ kiến thức, được củng cố kiến thức cũ có hệ thống, vận dụng giải Toán sẽ linh hoạt, không bị gò ép phụ thuộc, tạo cho học sinh có thói quan chủ động tích cực trong giải Toán. Ví dụ : Khi dạy bài : "8 cộng với số 8 + 5". Phần giảng mới, tôi đã tiến hành cùng với học sinh như sau : 3
  4. Bước 1 : Mỗi học sinh lấy 8 que tính sau đó lấy thêm 5 que tính. Tất cả bao nhiêu que tính ? Bước 2 : Học sinh tự thao tác trên que tính để tìm tất cả số que tính đã lấy. - Học sinh lấy 8 que tính thêm 2 que tính được tách ra từ chỗ 5 que tính được 10 que tính. Lấy 10 que tính thêm 3 que tính còn lại được 13 que tính Giáo viên cho học sinh nêu lại cách thao tác trên que tính như vậy rồi mới hướng dẫn cách tính. 8+5 = 8 + (2 + 3) =8+2+3 = 10 + 3 = 13 Học sinh tự rút ra quy tắc : 8 cộng với số ta tách 2 ở số sau để có : Bước 1 : 8 cộng 2 được 10 Bước 2 : 10 cộng nốt với đơn vị còn lại Hoặc khi dạy bài "tìm số trừ" tiết 80 4
  5. - Tôi tổ chức cho học sinh cả lớp cách tìm số trừ thông qua trò chơi "tìm số ô vuông bị lấy đi" giúp học sinh nắm kiến thức nhẹ nhàng. Học sinh được chơi 3 lần, lần thứ nhất, 1 học sinh lên gắn 12 ô vuông lên bảng, sau đó bạn lấy đi một số ô vuông, lúc này cả lớp che mắt lại. Hỏi còn lại mấy ô vuông ? Bạn đã lấy bao nhiêu ô vuông ? vì sao con biết ? Học sinh trả lời : Bạn đã lấy đi 3 ô vuông. Con biết vì đã đếm số ô vuông bị khuyết trên hình vẽ. Chơi lần thứ hai : Có 12 ô vuông Lấy đi một số ô vuông Còn lại 7 ô vuông 5
  6. Tìm số ô vuông bạn đã lấy ? (Học sịnh tìm được số ô vuông bạn đã lấy bằng cách lấy ô vuông đã có trừ đi ô vuông còn lại) 12 - 7 = 5. Chơi lần ba : x 14 Có 14 ô vuông. Bạn lấy đi một số ô vuông Còn lại 10 ô vuông Bạn đã lấy đi bao nhiêu ô vuông ? (Học sinh tìm được số ô vuông bị lấy đi bằng cách lấy số ô vuông đã có trừ đi số ô vuông còn lại là : 14 - 10 = 4). Có 14 ô vuông lấy đi một số ô vuông chưa biết ta gọi số đó là x. Còn lại 10 ô vuông. Ai lập cho cô phép tính ? 14 - x = 10 6
  7. Như vậy với cách tổ chức cho học sinh thao tác trên đồ dùng, học sinh được chơi mà học, học sinh đã chủ động xác định kiến thức bài học. Từ đó học sinh hứng thú, học tập, tự tin vào khả năng của bản thân và dần dần hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu độc lập và sáng tạo. Để dạy tốt môn Toán lớp 2 không thể không đề cập việc chấm. Chữa cho học sinh một cách chu đáo. 2. Chấm chữa kịp thời để uốn nắn, khắc sâu kiến thức, rèn kỹ năng giải toán. Bậc tiểu học có đặc điểm riêng về tâm sinh lý lứa tuổi nên việc chấm chữa kịp thời của giáo viên đối với trẻ là rất phù hợp, nó tác động ngay tới hành động của trẻ. Chấm chữa kịp thời củagiáo viên trong giờ học toán là rất quan trọng. Qua chấm chữa, giáo viên nắm được tình hình chất lượng tiếp thu bài học và bản thân học sinh cũng tự thấy mình hiểu choõ nào, chỗ nào chưa hiểu. Cụ thể trong tiết toán tôi đã thường xuyên thực hiện như sau : Sau khi cung cấp kiến thức bài học, học sinh vận dụng giải quyết các bài tập trong "Vở bài tập toán 2". Tôi luôn cố gắng đảm bảo 100 học sinh trong lớp đủ bài các bài tập. Đối với học sinh khá giỏi thì dễ dàng, còn đối với học sinh trung bình để làm đúng 100% số bài tập ngay tại lớp là khó khăn. Vì vậy trong quá trình học sinh đang 7
  8. làm bài tập, tôi đã quan sát việc làm bài của số học sinh này nhiều hơn, kịp thời phát hiện những chỗ sai để uốn nắn học sinh theo dõi bài chữa trên bảng, biết chỗ sai để học sinh tự chữa ; có thể dùng một vài câu hỏi nhỏ gợi ý. Tuy nhiên gặp những bài khó, học sinh có lỗi lớn về đường lối giải, nhiều học sinh sai thìì tôi yêu cầu học sinh nhận xét lỗi sai ở chỗ nào ? cách sửa thế nào ? Thường thì tôi dùng học sinh có lỗi sai đó nhận xét và sửa trước, nếu học sinh làm được điều đó có nghĩa là cùng một lúc tôi đã củng cố cho học sinh đó và đồng thời chữa chung cho nhiều em khác. Còn gặp bài khó, học sinh lúng túng, tôi dùng câu hỏi gợi ý hoặc dùng học sinh giỏi của lớp tham gia chữa bài. Trong tiết toán, thời gian có hạn, tôi chú ý chấm chữa cho học sinh trung bình, yếu và chú ý tới những lỗi sai mà học sinh mắc nhiều. Với cách làm như vậy lỗi sai không bị kéo dài, mà học sinh có thói quen làm toán đúng, chủ động giải. Tôi cố gắng chữa triệt để những lỗi sai bằng cách : + Học sinh chữa lỗi sai nhỏ như : Tên đơn vị, kết quả ... vào ngay trong vở "Bài tập toán 2", lỗi lớn như sai cách giải, câu trả lời chưa rõ ý thì chữa ngay vào vở toán khác do lớp quy định. Sau đó tôi kiểm tra chấm chữa, nhận xét phần chữa của học sinh, học sinh phải tự làm bài đó một lần nữa để khắc sâu bài học. Có những học sinh 8
  9. chữa tới hai lần mới đúng cũng được giáo viên kiểm tra triệt để, cuối cùng phải chữa đúng mới thôi. + Tôi rất chú ý coi trọng tới việc chữa bài của học sinh. Khi học sinh chữa bài, tôi yêu cầu học sinh ngoài việc chữa đúng còn phải trình bày lưu loát, sạch đẹp, rõ ràng hơn. Do đó mà học sinh chữa bài rất thận trọng, chính điều này giúp học sinh nhớ rất kỹ bài giải, lần sau gặp dạng toán khó học sinh rất ít sai sót. Ví dụ : Mảnh vải xanh dài 55 dm. Mảnh vải đỏ dài hơn mảnh vải xanh 9 dm. Hỏi mảnh vải đỏ dài bao nhiêu đề xi mét ? + Có học sinh giải như sau : Mảnh vải đỏ dài là : 55 + 9 = 64 mảnh vải Đáp số : 64 mảnh vải Giáo viên hỏi : Đơn vị của bài toán là gì ? Học sinh trả lời : đề xi mét Giáo viên hỏi : Vậy trong bài giải con đã ghi đúng tên đơn vị của bài toán chưa ? 9
  10. Lúc này học sinh sẽ nhận ra chỗ thiếu sót trong bài giải của mình và tự sửa lỗi sai đó. Ví dụ 2 : Thùng thứ nhất đựng 25 lít dầu. Thùng thứ hai đựng 30 lít dầu. Hỏi thùng nào đựng nhiều dầu hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ? Có học sinh giải như sau : Số lít dầu thùng đựng nhiều hơn là : 30 - 25 = 5 lít Đáp số : 5 lít Giáo viên hỏi : Ta cần tìm điều gì ? Học sinh trả lời : Thùng nào đựng nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ? Giáo viên hỏi tiếp : Câu trả lời này đã nói rõ điều đó chưa ? Còn thiếu ý nào ? Lúc này học sinh sẽ nhận ra trong câu trả lời này chưa nêu được thùng nào đựng nhiều hơn và phải bổ sung và chữa vào bài giải là : Thùng thứ hai đựng nhiều hơn và nhiều hơn là : 10
  11. 30 - 25 = 5 lít Đáp số : 5 lít Bên cạnh việc cung cấp đủ trọng tâm bài học, rèn cách luyện tập thành thạo, tôi còn luôn quan tâm tới việc mở rộng, nâng cao kiến thức từ chính những bài tập trong SGK, vở bài tập toán. 3. Phát triển, tìm tòi nội dung kiến thức sách giáo khoa : Thông thường giáo viên chỉ chú ý tới việc học sinh làm đủ, làm đúng các bài tập trong SGK, vở bài tập theo quy định của tiết học, nên đôi khi gặp những trường hợp khác lạ là học sinh lúng túng vì quen giải theo khuôn mẫu, ít tư duy tìm tòi sáng tạo. Vì thế để học tốt môn toán 2, tôi luôn tìm cách mở rộng ngay sau một bài tập nào đó trong số bài luyện, tuy nhiên ở mức độ hợp với trình độ học sinh trong lớp, các đối tượng tiếp thu được. Khi học sinh làm đủ 100% số bài tập quy định chưa hẳn là đã thành thạo cách giải loạii toán đó, nhất là học sinh trung bình. Vì vậy, tôi đã cố gắng đưa nội dung kiến thức vào bài tập thật phong phú, đa dạng dựa vào bài tập có sẵn, vẫn xoay quanh nội dung bài vừa học hoặc vừa luyện. Bài toán đưa ra các hình thức khác nhau, giáo viên khai thác được tư duy của học sinh. Các dạng toán có thể thực hiện được điều này như : 11
  12. + Dạng toán về nhiều hơn, ít hơn. + Dạng toán về số bị trừ, số trừ, tìm số hàng trong tổng. Ví dụ 1 : Bài toán về nhiều hơn. Nội dung bài tập là : Anh 25 tuổi, hơn em 6 tuổi. Hỏi em bao nhiêu tuổi ?. + Để giải được bài này, học sinh phải hiểu rõ yêu cầu của bài toán. Đã biết tuổi của anh, biết số tuổi anh hơn em. Muốn tìm số tuổi của em phải làm thế nào ? + Học sinh phải tự phân tích đề toán và giải : Tuổi của em là : 25 - 6 = 9 tuổi Đáp số : 19 tuổi Với việc mở rộng kiến thức này, học sinh sẽ linh hoạt hơn khi giải toán không nhất thiết cứ nhiều hơn là phải làm tính cộng. Ví dụ 2 : Bao thứ nhất đựng được 50 kg gạo, như vậy bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 15 kg gạo. Tính số gạo của bao thứ hai. Đã biết yếu tố gì ? Số gạo của bao thứ nhất và biết bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 15 kg. Lúc này, học sinh phải hiểu bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 15 kg 12
  13. nghĩa là bao thứ hai đựng nhiều hơn bao thứ nhất 15 kg. Vậy tìm số gạo của bao thứ hai ta phải làm như thế nào ? Học sinh : Bao thứ hai đựng số gạo là : 50 + 15 = 65 kg Đáp số : 65 kg Ví dụ : x + 15 = 42 + 8 x trong phép tính này là thành phần gì ? (Số hạng chưa biết) Muốn tìm số hạng chưa biết ta phải làm thế nào ? (Lấy tổng trừ đi số hạng đã biết) Tổng ở đây là 42 + 8. Vậy ta phải tìm 42 + 8 trước, sau đó áp dụng cách tìm một số hạng trong một tổng để giải như bình thường. x + 15 = 42 + 8 x + 15 = 50 x = 50 - 15 13
  14. x = 35 Trong giảng dạy không thể thiếu được phần đánh giá, kiểm tra kịp thời sau mỗi phần kiến thức. IV. Kết quả: Để kiểm tra, đánh giá kết quả của học tập, ngoài tiết chính khoá, tôi soạn thêm bài tập củng cố theo mức độ từ thấp đến cao, sát với nội dung tiết chính khoá. Trong giờ ôn toán tôi chuẩn bị các nội dung song song. Một là loại bài tập cho học sinh đại trà, hai là loại bài tập nâng cao cho học sinh khá, giỏi. Ví dụ : Có bài tập sau : 1) Đặt tính rồi tính : 62 + 18 73 + 15 45 - 19 86 - 37 2) x + 15 = 21 3) Ngăn thứ nhất có 12 quyển sách. Ngăn thứ hai có nhiều hơn ngăn thứ nhất 9 quyển sách. Hỏi ? a. Ngăn thứ hai có bao nhiêu quyển sách ? Trên đây là phần đại trà cho học sinh cả lớp 14
  15. Đối với học sinh khá, giỏi sẽ làm nhanh hơn, vì vậy tôi đã mở rộng bài tập này cho học sinh khá giỏi. Tuy nhiên cũng có thể có những học sinh trung bình giải quyết được, tôi rất khuyến khích. Như vậy, trong cùng một khoảng thời gian dù học sinh trung bình giải được phần này, vẫn còn một phần bài tập tiếp theo để học sinh khá, giỏi giải tiếp. Phần bài tập tiếp theo là : b. Cả hai ngăn có bao nhiêu quyển sách ? 4) Tìm x : x + 15 = 21 + 6 5) DR E B G C - Có bao nhiêu tam giác, tứ giác trong hình trên ? 15
  16. - Có bao nhiêu đoạn thẳng ? Phần bài tập luyện này tôi chữa kỹ và chấm 100% số bài của học sinh Với biện pháp trên tôi đã thu được nhiều kết quả trong việc dạy và học môn toán 2. V. Bài học kinh nghiệm: Muốn dạy tốt môn toán ở lớp 2 thì : - Giáo viên cần soạn bài kỹ, soạn trước một tuần - Học sinh có sự chuẩn bị trước bài ở nhà thật chu đáo. - Giáo viên cần dạy đủ, đúng nội dung tiết chính khoá và ngoại khoá. - Luôn động viên, khuyến khích học sinh có phương pháp giải toán tối ưu. - Giáo viên thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn để có khả năng giảng dạy tốt, tìm tòi, mở rộng từ các bài tập có sẵn trong sách giáo khoa và vở bài tập Toán lớp 2. - Luôn đổi mới trong phương pháp dạy học để cuốn hút học sinh say mê học Toán. - Chấm chữa bài kỹ, thường xuyên. 16
  17. - Đánh giá, kiểm tra, động viên học sinh kịp thời. VI. Kết luận Trên đây là một vài suy nghĩ và biện pháp thực hiện khi dạy môn Toán lớp 2 mà tôi đã làm để học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, tích cực, bước đầu đạt hiệu quả tốt. Rất mong được sự đóng góp giúp đỡ của các đồng nghiệp để giúp tôi ngày càng dạy tốt bộ môn Toán. Một Ngàn A, ngày 10 tháng 10 năm 2011 Người viết TRẦN THỊ BÍCH LAN Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG 17
  18. …………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… XẾP LOẠI …………… Một Ngàn, ngày….tháng…..năm…….. TM HỘI ĐỒNG NHÀ TRƯỜNG Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC HUYỆN …………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………….. 18
  19. XẾP LOẠI ……………. Một Ngàn, ngày……tháng…….năm……… TM HỘI ĐỒNG KHOA HỌC HUYỆN 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản