intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Sử dụng phương pháp học tập phục vụ cộng đồng nhằm phát huy các kỹ năng cần thiết cho học sinh

Chia sẻ: Nguyễn Đắc Thắng | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:21

0
12
lượt xem
1
download

Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Sử dụng phương pháp học tập phục vụ cộng đồng nhằm phát huy các kỹ năng cần thiết cho học sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến với mục tiêu rèn luyện, nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh, nắm bắt và giải quyết vấn đề trong thực tiễn thông qua các tình huống và đề tài thực tế; nâng cao chất lượng dạy - học và tạo hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học nhờ ứng dụng những kiến thức của bài học vào cuộc sống.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Sử dụng phương pháp học tập phục vụ cộng đồng nhằm phát huy các kỹ năng cần thiết cho học sinh

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ….. ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­o0o­­­­­­­­­­­­­­­­­­ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG   NHẰM PHÁT HUY  CÁC KỸ NĂNG CẦN THIẾT CHO HỌC SINH” MÔN: TIN HỌC CẤP HỌC: TRUNG HỌC CƠ SỞ 1
  2. NĂM HỌC …… 2
  3. MỤC LỤC .........................................................................................................................17 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................19 3
  4. PHẦN I ­  ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây “Đổi mới phương pháp dạy học” là nhiệm vụ  trọng tâm đặt ra cho nghành Giáo dục nói chung và cho những người đang   trực tiếp giảng dạy – các thầy cô giáo  ở  mọi cấp học nói riêng. Mục đích   cuối cùng của việc đổi mới phương pháp dạy học đó là: “P hát huy tính tích  cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc   phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ  máy móc. Tập trung dạy cách  học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và   đổi mới tri thức, kỹ  năng, phát triển năng lực. Chuyển từ  học chủ  yếu trên   lớp sang tổ  chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,  ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh  ứng dụng công nghệ  thông tin  và truyền thông trong dạy và học”.  Có rất nhiều phương pháp dạy học tích  cực theo hướng hiện đại: Phương pháp vấn đáp, phương pháp đặt và giải   quyết vấn  đề, phương pháp hoạt  động nhóm, phương pháp dạy học tình  huống… Tuy nhiên chúng ta không thể  áp dụng một cách máy móc,  ồ   ạt mà  phải áp dụng có chọn lọc và phù hợp với đối tượng học sinh, cấp học và cơ  sở vật chất của từng nhà trường. Một lớp học có quá đông học sinh thì không  thể  tiết học nào cũng tổ  chức học theo nhóm. Đổi mới dạy học không có  nghĩa là bài trừ, loại bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà là sự  kết hợp   nhuần nhuyễn giữa 2 yếu tố trên.  Theo thống kê của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ  Khoa học và Công nghệ  thống kê  ở  Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ. Con số  này nhiều gấp 5 lần Nhật Bản và 10 lần Israel. Vậy tại sao nước ta vẫn   nghèo nàn lạc hậu? Tại sao Việt Nam vẫn phải nhập rất nhiều máy móc,  thiết bị từ  nước ngoài? Tại sao các sáng chế  hầu hết thuộc về  những người   dân không bằng cấp? Chắc hẳn những nghiên cứu khoa học của các giáo sư,  tiến sĩ chỉ nằm trên tập giấy vì nó không phù hợp với thực tế, không đáp ứng  được nhu cầu của người dân, không phù hợp với hoàn cảnh kinh tế  của đất  nước hoặc họ chưa có cơ hội để phát huy tài năng của bản thân. Như vậy, có  kiến thức chưa hẳn đã mang lại lợi ích cho xã hội. Chính vì vậy, phương   pháp “Học tập phục vụ cồng đồng” mà tôi lựa chọn để áp dụng vào tiết học  theo chủ đề nhằm giúp các em học sinh phần nào hiểu được tầm quan trọng  của việc áp dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiến.   4
  5. Đối với học sinh lớp  7,  mặc dù mới được học tập bộ  môn Tin học  ở  mức độ sơ khai, nhưng do ảnh hưởng của đời sống công nghệ hiện đại, hầu  hết các em đều sử  dụng thành thạo máy tính và các phần mềm tin học cơ  bản: Word, excel… Tuy nhiên, các kỹ  năng mềm cần thiết như: Tìm kiếm  mục tiêu, sáng tạo trong học tập, kỹ năng thuyết trình, báo cáo, lắng nghe và  học tập những lời phê bình đánh giá, làm việc đồng đội, giao tiếp tự  tin…   vẫn còn khá non nớt. Hầu hết các em học tập một cách thụ động và biệt lập.  Nhiều học sinh trong lớp còn khá rụt rè, ngại hỏi giáo viên, sợ  giơ  tay đóng  góp ý kiến, sợ  phát biểu sai bị  các bạn chê cười… Học sinh không hứng thú  với môn học, mỗi tiết học dần trở nên buồn tẻ, nặng nề hơn đối với cả học  sinh và giáo viên. Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả dạy và học.  Chính vì thế song song với việc nâng cao kết quả học tập, mỗi giáo viên cần  chú trọng bồi dưỡng kỹ  năng mềm cho học sinh – nền tảng để  tạo nên sự  thành công của các em, xóa bỏ suy nghĩ “Tin học là môn học nhàm chán”. Và  đó chính là lí do tôi chọn đề tài “ Sử dụng phương pháp Học tập phục vụ  cộng đồng nhằm pháp huy các  kỹ năng cần thiết cho học sinh”  2. Mục đích  nghiên cứu Thông qua đề tài giúp các em học sinh:  ­ Rèn luyện, nâng cao kỹ  năng thực hành cho học sinh, nắm bắt và giải  quyết vấn đề trong thực tiễn thông qua các tình huống và đề tài thực tế.  ­ Củng cố các kiến thức trong bộ môn Tin học và các liên môn khác: Địa  lý, Vật lý, Sinh học…  ­ Nâng cao chất lượng dạy ­ học và tạo hứng thú của học sinh trong quá   trình dạy học nhờ ứng dụng những kiến thức của bài học vào cuộc sống. ­ Nâng cao tính chủ động và sáng tạo của học sinh do tạo được sự tương  tác giữa các học sinh ­ học sinh, học sinh – giáo viên, học sinh – máy tính, học   sinh  ­ cộng đồng dựa trên những tình huống, bài tập cụ thể từ sách giáo khoa,   các chủ đề từ giáo viên bộ môn và các giáo viên khác trong nhà trường. ­ Rèn luyện và nâng cao kỹ  năng giao tiếp, kỹ  năng nhận xét, đánh giá  của học sinh qua mỗi nhiệm vụ được giao.        ­ Tạo môi trường học tập thân thiện, thoải mái. ­ Học sinh tự  tạo ra được các sản phẩm nho nhỏ, được áp dụng trong   phạm vi trường học điều đó giúp các em thấy được tầm quan trọng của bản   5
  6. thân, tạo động lực để các em cố gắng hơn trong học tập và trong cuộc sống;   để lại những dấu ấn tốt đẹp trong  3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ứng dụng. 3.1 Thời gian        ­ Năm học …. 3.2 Đối tượng ­ Các bài giảng môn tin học lớp 7. ­ Các bài giảng môn địa lý, vật lý, sinh học 7… ­ Các tình huống thực tiễn. ­ Học sinh lớp 7A, 7D. ­ Thông qua giờ dạy của bản thân, qua các tiết dự giờ của đồng nghiệp  từ  đó quan sát , nhận xét kệt luận kết quả trước và sau khi tiến hành nghiên  cứu. 3.3 Phạm vi nghiên cứu, ứng dụng đề tài ­ Từ kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Tin học, thực trạng kỹ năng mềm,  phương pháp học của học sinh hiện nay.  4. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp nghiên cứu tìm tài liệu ­ Phương pháp thực nghiệm ­ Phương pháp khảo sát thực tiễn ­ Phương pháp đàm thoại ­ Phương pháp thống kê ­ Phương pháp quan sát , tổng kết đúc rút kinh nghiệm        ­ Nghiên cứu một số phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh  trong học tập Tin học ở nhà cũng như ở trường    5. Kết quả khảo sát trong học kì I năm học ….. Phần lý thuyết Trước khi thực hiện đề tài Mức độ hiểu các khái  niệm Số học sinh Tỷ lệ Hiểu đúng 65/94 69.15% Hiểu sai 29/94 30.85% Phần thực hành 6
  7. Trước khi thực hiện đề tài Mức độ thao tác Số học sinh Tỷ lệ Thao tác đúng 62/94 66% Thao tác chậm 23/94 24.4% Chưa biết thao tác 9/94 9.6% Trước khi thực hiện đề tài Tỉ lệ học sinh hứng  thú với môn học Số học sinh Tỷ lệ Thích học Tin học 67/94 71.3% Bình thường 15/94 16% Không thích 12/94 12.7% PHẦN II ­ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận 1.1 Một số  thông tư, nghị  quyết về đổi mới chương trình giáo dục  phổ thông.   ­ Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa  XI đã thông qua Nghị quyết 29­NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục  và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế  thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.     ­ Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ  thông   phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp   với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự  học,   rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,  đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".   ­ Nghị quyết Hội nghị Trung  ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn   diện giáo dục và đào tạo   ­ Nghị  quyết 40/2000/QH10 và chỉ  thị  14/2001/CT­TT về việc đổi mới  chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng   7
  8. một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ  thông tin vào dạy và học. ­ Thông tư  số  14/2002/TT­BGD&ĐT về  việc hướng dẫn quán triệt chủ  trương đổi mới giáo dục phổ thông. ­ Chỉ  thị  29/CT của Trung  ương Đảng về  việc đưa công nghệ  thông tin  vào nhà trường. 1.2  Khái niệm “Học tập phục vụ cộng đồng”. Trong đề  tài  “Sử  dụng phương pháp Học tập phục vụ  cộng đồng  nhằm pháp huy các  kỹ năng cần thiết cho học sinh ” chúng ta bắt gặp một  khái niệm khá mới “Học tập phục vụ cộng đồng”. Học tập phục vụ cộng đồng ( tên tiếng Anh là Service Learning  hoặc  Community – based learning) là một phương pháp dạy và học mà thông qua đó   người học áp dụng được những kiến thức học được trong lớp vào điều kiện   thực tế, đồng thời kết quả của quá trình học đáp ứng nhu cầu của cộng đồng  và được cộng đồng sử  dụng. Vì phạm vi  ứng dụng đề  tài dành cho học sinh  khối 7, nên cộng đồng ở đây tôi giới hạn trong tập thể lớp, các giáo viên trong   trường, tập thể  nhà trường và tham khảo một số  tình huống thực tiễn của  cộng đồng dân cư  lân cận. Chính vì thế cần một sự  phối hợp làm việc, hợp   tác trên cở  sở  của các mối quan hệ  của 4 thành phần tham gia đó là: nhà  trường, giáo viên, cộng đồng và học sinh. 8
  9. Học tập phục vụ cộng đồng trong mối quan hệ giữa hoạt động học và   phục vụ ( dựa theo sơ đồ của Trường Miami – Dade College)  Để những kiến thức và kỹ năng đã được học trở nên hữu ích và thực tế hơn,   tôi đã kết hợp với một số bộ môn khác như  Địa lý, Vật lý, Công nghệ, Sinh  học… để  tạo ra những nhóm học theo phương pháp học tập phục vụ  cộng  đồng. Học sinh sẽ giải quyết các vấn đề  thực tiễn ( được lồng ghép và mỗi   bài tập trên lớp) thông qua hoạt động làm việc nhóm theo sở  thích, các em  thích học địa lý sẽ giải quyết các bài tập liên quan tới địa lý, các em thích môn  sinh học sẽ giải quyết các yêu cầu về môn sinh học… Với phương pháp mới  này liên quan đến nhiều lĩnh vực, học sinh được lấy làm trung tâm, và hòa   nhập với những vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại.  Phương pháp này làm  phong phú kiến thức của học sinh từ lý thuyết đến thực tế và ngược lại, quá   trình  học này thông qua trải nghiệm nên học sinh có điều kiện tăng cường  kiến thức, rèn luyện và phát triển kỹ  năng mềm như  tư  duy suy xét,  tổng  hợp , làm việc theo nhóm, giao tiếp, thuyết trình và các kỹ năng sống. 2.Thực trạng  2.1 Về cơ sở vật chất:  Mặc dù đã có phòng Tin học riêng nhưng số lượng máy còn hạn chế (20   máy). Mỗi tiết thực hành có tới 2 đến 3 em cùng thực hành trên một máy vi  tính nên các em không có đủ  thời gian để thực hành và làm bài tập. Hơn nữa  một số máy chất lượng khá kém, cấu hình máy thấp, phần mềm cài đặt trong  máy không đầy đủ… nên  ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của  học sinh. Diện tích phòng Tin học nhỏ  hẹp nên quá trình hoạt động nhóm của học  sinh gặp nhiều hạn chế.  2.2 Về phía giáo viên:  Do môn Tin học mới là môn tự chọn trong chương trình ở bậc THCS nên   chương trình và phân phối chương trình bước đầu chưa có sự  thống nhất.   Ngoài ra, sự hạn chế về cơ sở vật chất đã dẫn đến việc áp dụng các phương   pháp dạy học mới gặp khá nhiều khó khăn. 2.3 Về phía học sinh:  Do tư tưởng học sinh coi môn Tin học là môn phụ  nên các em chưa thực  chú tâm vào môn học. Đa số  các em chỉ  được tiếp xúc với máy vi tính  ở  trường vào các tiết thực hành là chủ  yếu, dẫn đến việc tìm tòi và khám phá  9
  10. máy vi tính cũng như  tự  rèn luyện các kĩ năng thực hành với các em còn rất  hạn chế. Do đó việc học tập của học sinh vẫn còn mang tính thụ động. 3. Các bước tiến hành dựa trên phương pháp học tập phục vụ cộng  đồng: 3.1.Cộng đồng nêu vấn đề cần giải quyết. Ngoài các bài tập trong sách giáo khoa tôi đã lồng ghép các bài tập thông  qua việc cho học sinh tiếp cận với yêu cầu trong tiết đối thoại với giáo viên  bộ  môn liên quan, các tình huống thực tế  mà các em đã được gặp hoặc các   chủ đề mà giáo viên đưa ra …  Đối thoại với giáo viên: Đây là tình huống nêu vấn đề  khá phổ  biến,  tuy nhiên việc đàm thoại với giáo viên bộ  môn trong giờ  Tin học rất hiếm,  đặc biệt hơn nữa là qua thời gian đàm thoại, học sinh được giao lưu, trao đổi  và nhận yêu cầu thực hành từ giáo viên bộ môn yêu thích. Từ đó tạo hứng thú  cho học sinh, yêu thích môn học, được củng cố kiến thức liên môn. Một số yêu cầu của các giáo viên bộ môn ­Yêu cầu của cô Nguyễn Thị  Dung – giáo viên bộ  môn Vật lý: Cho sơ  đồ  mạch điện như hình vẽ. Biết chỉ  số  của V1, V2 lần lượt là 1,5V và 4V. Tính hiệu điện thế  giữa hai  đầu Đ1, Đ2, Đ3, Đ4. ­Yêu cầu của cô Huỳnh Thị Liên – giáo viên bộ môn Địa lí: Lượng mưa trung  bình từ  tháng 1 đến tháng 12 năm 2015 theo thứ  tự  là 2mm, 9mm, 147mm,   226mm,   168mm,   348mm,   331mm,254mm,   120mm,   42mm,   5mm,   2mm.   Vẽ  biểu đồ minh họa lượng mưa trung bình của năm 2015 và nêu nhận xét. (Ảnh giáo viên dạy học sinh) 10
  11. ­Dựa vào bảng số  liệu về  giới tính khi sinh (GTKS), giáo viên yêu cầu học  sinh  minh họa bằng bản đồ, sau đó nhận xét, trình bày hậu quả  của sự  mất   cân bằng giới tính. (Ảnh giáo viên dạy học sinh)  Xây dựng các chủ đề từ thực tiễn: Học sinh mỗi nhóm tự trao đổi để  đưa ra yêu cầu cho các nhóm còn lại thực hiện, được hình thành dựa trên các   tình huống, hoạt động thường mà học sinh đã gặp, trải nghiệm trong cuộc   sống. Đối với cách này, giáo viên cần định hướng rõ ràng yêu cầu cụ thể của   bài tập, tránh sự lan man, rườm rà, không rõ ý.  11
  12. Hai trong số nhiều chủ đề thực tế được học sinh thảo luận và đưa  vào bài học. 12
  13. Một số hình ảnh hoạt động nhóm của học sinh (Chèn ảnh) Nhóm 1 thảo luận về chủ đề “Đồ ăn” Nhóm 2 thảo luận về chủ đề “Sách – truyện” Nhóm 3 thảo luận về chủ đề “Album nhạc” Nhóm 4 thảo luận về chủ đề “Đồ uống” Những bài tập trên được học sinh đúc kết qua sự  trải nghiệm của chính  bản thân, do đó quá trình hoạt động theo nhóm sẽ  diễn ra rất sôi nổi, hào   hứng. Từ đó, học sinh học được cách tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người   13
  14. khác. Biết thống nhất để đưa ra vấn đề. Biết vận dụng vấn đề thực tiễn vào  các bài học.  3.2 Giáo viên lồng ghép các vấn đề  cộng đồng cần giải quyết vào   môn học thông qua các bài tập nhóm được phân loại theo sở thích của mỗi   học sinh. Giáo viên tổng hợp các yêu cầu từ cộng đồng (Từ hoạt động nhóm của  học sinh, từ  giáo viên bộ  môn…), phân tích và loại bỏ  những yêu cầu chưa  thực sự hợp lý, lồng ghép vào môn học thông qua các kiến thức đã học: Tạo   bảng thống kê, định dạng bảng, sử  dụng các hàm cơ  bản của Excel để  tính  toán, dùng biểu đồ minh họa số liệu từ đó làm cơ sở để nhận xét và đánh giá.   Cuối cùng giáo viên phân loại các bài tập theo từng lĩnh vực: Vật lý, địa lý,  toán học, đời sống… học sinh sẽ được tự do lựa chọn nhóm bài tập để  thực  hành. Sự đổi mới của cách tiếp cận bài tập, sự đa dạng hóa các dạng bài tập   đã tạo một động lực không nhỏ, gây thích thú, tò mò, kích thích mỗi học sinh.   Từ đó mỗi em đều hoàn thành tốt bài tập của mình.  3.3  Học sinh làm việc nhóm để giải quyết vấn đề. Ngày nay, khi khoa học kỹ  thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm  việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế cuộc sống không  có ai là hoàn hảo, do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt   mạnh của từng  học sinh  và bổ  sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu,  hơn nữa nó còn tạo ra được niềm vui và sự  hứng thú trong học tập, sự  đoàn  kết trong một cộng đồng. Mỗi nhóm phải thống nhất được nhóm trưởng để  phân công nhiệm vụ rõ ràng cho mỗi thành viên trong nhóm, tránh tình trạng ỷ  lại vào bạn. 3.4  Học sinh báo cáo sản phẩm. ­ Học sinh báo cáo kết quả  của bài tập theo nhóm. Người báo cáo sẽ  được  giáo viên chỉ định, như vậy tất cả học sinh đều phải nắm chắc được cách làm  bài của nhóm mình. Ngoài ra, học sinh còn phải tự  nghiên cứu thu thập tài  liệu, thông tin trên sách vở  hoặc báo; chọn lọc những kiến thức quan trọng   nhất; sau đó tổng hợp và nêu nhận xét về biểu đồ. Sau khi hoàn thành các bài tập trên, sản phẩm của học sinh được  cộng đồng sử  dụng vào mục đích học tập, giảng dạy, các tiết học giáo  dục về giới tính và các hoạt động khác của nhà trường. 14
  15. Biểu đồ  “Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2015” được sử  dụng   trong giờ địa lý 3.5  Đánh giá kết quả tổng hợp. Kết quả của mỗi học sinh dựa trên sự đánh giá của giáo viên trong suốt   quá trình hoạt động của nhóm, phần tự  đánh giá của các thành viên trong  nhóm, tham khảo ý kiến đánh giá của  giáo viên bộ  môn  dựa trên sản phẩm  hoàn thiện. Thể hiện trên phiếu đánh giá kết quả tổng hợp.  Mẫu phiếu  4. Kết quả Phương pháp này có nhiều ưu điểm như: ­ Tính liên quan: Tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút học sinh vào các tình  huống, yêu cầu thực tiễn từ đó biết áp dụng các kiến thức kĩ năng đã học để  giải quyết vấn đề. ­  Gây hứng thú:  cách tiếp cận và giải quyết yêu cầu trở  nên sinh động   từ đó thúc đẩy ham muốn học tập, tăng cường năng lực hoàn thành công việc,  chủ động hơn trong việc học. 15
  16. ­  Tính liên môn: Học sinh được tiếp cận với nhiều vấn đề liên quan đến   các môn học khác, do đó phải sử  dụng nhiều kiến thức của những môn học   đó để giải quyết vấn đề. ­ Tính xác thực: Học sinh tiếp thu kiến thức và học cách trình diễn kiến   thức. ­  Khả  năng cộng tác: thúc đẩy sự  cộng tác nhóm giữa học sinh và giữa  học sinh và giáo viên ­ Tính khách quan, công bằng trong việc lựa chọn bài tập thực hành và   quá trình đánh giá kết quả học tập ( thông qua mỗi hoạt động nhóm trên lớp   cũng như ở nhà) ­ Tính  kế thừa: sản phẩm của học sinh được kế thừa để sử  dụng phục   vụ quá trình học tập hoặc giảng dạy. Sau khi sử  dụng  phương pháp  “Học tập phục vụ  cộng đồng nhằm  pháp huy các  kỹ năng cần thiết cho học sinh” vào việc giảng dạy tôi thật  sự thấy có hiệu quả:  Về  phía cá nhân mình, tôi thấy mình nâng cao được tính tổ  chức, định  hướng, đánh giá bài tập của học sinh. Khoảng cách giữa thầy – trò được rút  ngắn, các tiết học  thực sự thoải mái và hiệu quả hơn.  Về phía học sinh các em hứng thú hơn khi được giao lưu với thầy cô bộ  môn, được lựa chọn bài tập để  hoàn thành theo môn học yêu thích mà không   bị rập khuôn theo cách truyền thống. Vận dụng được các kiến thức tổng hợp,  nắm vững kiến thức, tiếp thu bài tốt hơn, thể hiện được sự  sáng tạo, tìm tòi,   xây dựng cho bản thân những kỹ năng hữu ích.        Kết quả thống kê sau khi áp dụng phương pháp mới: 16
  17. Phần lý thuyết:. Sau khi thực hiện đề tài Mức   độ   hiểu   các  khái niệm Số học sinh Tỷ lệ Hiểu đúng 89/94 94.7% Hiểu sai 5/94 5.3% Phần thực hành  Sau khi thực hiện đề tài Mức độ thao tác Số học sinh Tỷ lệ Thao tác tốt 79/94 84% Thao tác chậm 15/94 16% Chưa biết thao tác 0/94 0% Trước khi thực hiện đề tài Tỉ   lệ   học   sinh   hứng  thú với môn học Số học sinh Tỷ lệ Thích học Tin học 81/94 86.17% Bình thường 13/94 13.83% Không thích 0/94 0% Như  vậy, dựa vào bảng khảo sát đầu năm khi chưa áp dụng phương  pháp mới và bảng khảo sát sau khi áp dụng phương pháp “Học tập phục vụ  cộng đồng” đã thu được thành tựu đánh kể: Số học sinh hiểu đúng kiến thức   tăng từ 69.15% lên 84% (tăng 14.85%); số học sinh thao tác thành thạo tăng từ  66% lên 84% ( tăng 18%), không còn học sinh nào chưa biết thao tác; số lượng  học sinh yêu thích môn học, hào hứng với tiết Tin học tăng và không còn học   sinh nào thấy Tin học là bộ môn nhàm chán.  17
  18. Từ  kết quả trên cho thấy khi  ứng dụng phương pháp trên học sinh nắm   chắc kiến thức, tiếp thu bài tốt hơn, thể  hiện được sự  sáng tạo, tìm tòi, xây   dựng cho bản thân những kỹ  năng cần thiết và mang lại hiệu quả  cao trong   hoạt động dạy và học.  18
  19. PHẦN III ­  KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận: Công nghệ  thông tin nói chung và bộ  môn Tin học nói riêng đã và đang là  nền tảng cơ  sở  để  phát triển các ngành khoa học khác. Việc đào tạo nguồn   nhân lực có chất lượng trong lĩnh vực CNTT ngày càng được chú trọng. Vì  thế trách nhiệm của giáo viên không đơn thuần là truyền đạt tri thức mà còn  hướng dẫn học sinh cách nắm bắt những luồng kiến thức mới một cách chủ  động, thôi thúc học sinh tìm tòi và sáng tạo những kiến thức mới. Đề  tài sử  dung phương pháp “Học tập phục vụ cộng đồng nhằm pháp huy các  kỹ  năng cần thiết cho học sinh ” đã đạt được khá nhiều kết quả khả quan: ­ Hình thành cho học sinh  kỹ năng thực hành, nhận diện và giải quyết vấn  đề trong thực tiễn. ­ Nắm vững được kiến thức trong bộ  môn tin học và các liên môn khác:  Địa lý, vật lý, sinh học… Ngoài ra học sinh còn nắm bắt được các kiến thức   trong thực tế dựa trên các tình huống, bài tập thực tiễn.     ­ Thông qua các buổi đàm thoại, hoạt động nhóm học sinh có cơ  hội rèn  luyện kĩ năng hoạt động tập thể, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của  người khác, biết kết hợp với các thành viên trong nhóm để hoàn thành bài tập   và hứng thú hơn với bài học. ­ Học sinh tiếp thu bài một cách chủ động và sáng tạo. ­ Kỹ  năng giao tiếp, kỹ  năng nhận xét, đánh giá của học sinh được nâng  cao qua mỗi nhiệm vụ được giao. ­ Tạo môi trường học tập thân thiện, thoải mái. ­ Tận dụng tối đa các thiết bị, tranh ảnh... vào việc giảng dạy. ­ Có những kiến thức căn bản trong việc sử  dụng máy tính từ  đó hình  thành thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động. ­ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học, bước đầu  ứng dụng CNTT trong học tập, lao động. ­ Xây dựng kỹ năng nhận xét, đánh giá trong môi trường học đường cũng  như ngoài xã hội. ­ Xây dựng phong cách sống khoa học, có tổ  chức, đạo đức và văn hóa  ứng   xử. 2. Khuyến nghị 19
  20. Về phía bản thân giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi  những điều kiện thích hợp về  phương tiện, cơ  sở  vật chất và tổ  chức dạy  học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang   tính chủ  quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định  những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm  của cá nhân. Về    nhà trường: Mở  rộng diện tích phòng Tin học, bố  trí lại cấu trúc  phòng học khoa học hơn, tham mưu với Phòng giáo dục tổ chức các khóa đào  tạo các kĩ năng, phương pháp dạy học mới cho giáo viên.   Về phía tổ chuyên môn: tham mưu với Ban giám hiệu để  mua bổ  sung  tài liệu, sách chuyên ngành, kết hợp liên kết các giáo viên bộ  môn để  xây   dựng những dự án học tập phù hợp với học sinh.    Trên đây là những kinh nghiệm về “ Sử  dụng phương pháp học tập  phục vụ cồng đồng nhằm phát huy các kỹ năng cần thiết cho học sinh ”.  Qua bài viết này kính mong nhận được sự  góp ý chân thành của ban giám   khảo và các bạn đồng nghiệp để bài sáng kiến kinh nghiệm lần sau thiết thực   hơn, sâu sắc hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2