intTypePromotion=1

SKKN: Một số biện pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở trường mầm non Cát Bi

Chia sẻ: Trần Thị Trúc Diễm | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:20

0
474
lượt xem
40
download

SKKN: Một số biện pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở trường mầm non Cát Bi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo dục không thể tách rời đời sống xã hội, giáo dục có bản chất xã hội, do đó giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội làm công tác giáo dục thì mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả cao. Hay nói một cách khác ta cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham gia làm công tác giáo dục. Mời các thầy cô tham khảo sáng kiền kinh nghiệm một số biện pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở trường mầm non Cát Bi để có thêm nhiều kinh nghiệm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở trường mầm non Cát Bi

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở TRƢỜNG MẦM NON CÁT BI 1
  2. PHẦN I : MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài. Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với Giáo dục. Giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu được của xã hội loài người. Giáo dục có vai trò to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động và thức tỉnh tiềm năng sáng tạo trong mỗi người. Điều đó có nghĩa là Giáo dục không thể tách rời đời sống xã hội, Giáo dục có bản chất xã hội, do đó Giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội làm công tác Giáo dục thì mới đảm bảo cho Giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả cao. Hay nói một cách khác ta cần làm tốt công tác xã hội hóa Giáo dục để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham gia làm công tác Giáo dục. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này trong nghị quyết TW 2 khóa XIII đã khẳng định "Phát triển Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội của Nhà nước, của cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân...". Điều 22 luật giáo dục đã khẳng định "Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất tình cảm trí tuệ, thẩm mĩ hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một”. Đất nước ta còn nghèo, nhà nước đã quan tâm đầu tư cho Giáo dục xong cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của sự nghiệp Giáo dục như hiện nay và hơn bao giờ hết lúc này đây ta cần làm cho mọi người hiểu về Giáo dục, say mê với sự nghiệp Giáo dục để cùng nhau tạo ra những bước tiến nhảy vọt trong giáo dục. Xã hội hóa công tác giáo dục không những huy động được nhiều nguồn đầu tư khác từ các lực lượng xã hội, các cá nhân cho giáo dục mà còn "mở cửa" nhà trường với xã hội bên ngoài tạo mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường và nhân dân, cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình với giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, làm cho giáo dục phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Xã hội hóa giáo dục là con đường để thực hiện dân chủ hóa Giáo dục nhằm biến hệ thống giáo dục từ một thể chế hành chính cô lập thành một thể chế giáo dục của dân, do dân, vì dân. Thực tế hiện nay ở một số địa phương cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức Đoàn thể chưa hiểu được ý nghĩa to lớn và vai trò vô cùng quan trọng của công tác xã hội hóa Giáo dục còn coi đó là trách nhiệm của nhà trường. Do đó nhà trường lúc này cần giữ vai trò trung tâm, nòng cốt và chủ động đề xuất mọi nội dung cần thiết, mọi chủ trương và hướng đi của mình cùng các biện pháp thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục sao cho có sức thuyết phục và hiệu quả. Đứng trước tình hình thực tế hiện nay trường mầm non Cát Bi đang gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Trình độ giáo viên không đồng đều. Tỉ lệ huy động trẻ ra lớp trên địa bàn chưa đáp ứng được yêu cầu, bên cạnh đó nhận thức của nhân dân về giáo dục mầm non còn thấp. Trước những thử thách khó khăn này thì chủ trương huy động xã hội hoá giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết và cần làm ngay vì nó góp phần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo của nhân dân về tầm quan trọng và vai trò của giáo dục mầm non. Trên cơ sở xã hội hoá giáo dục tạo nguồn cơ sở vật chất trang thiết bị đồ 2
  3. dùng, đồ chơi tạo môi trường học tập tốt cho các cháu đảm bảo mọi điều kiện phát triển của ngành giáo dục mầm non. Xã hội hóa Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, dựa vào đặc điểm nhà trường và thực tiễn ở địa bàn trường đóng chúng tôi xin đưa ra "Biện pháp tiến hành công tác xã hội hóa giáo dục" ở trường mình làm để góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện của nhà trường. II. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn về xã hội hóa công tác Giáo dục tôi xin đưa ra một số biện pháp tổ chức xã hội hóa công tác Giáo dục ở địa phươngvà ở đơn vị mình. Nhằm làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, toàn diện cả về nhân lực, tài lực, vật lực. Huy động cả cộng đồng tham gia làm công tác giáo dục để nhanh chóng hoàn thiện cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện giữ vững trường chuẩn quốc gia mức độ 2, trường đạt chất lượng giáo dục cấp độ 2. III. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu. Tôi nghiên cứu xã hội hóa công tác giáo dục và thực tiễn xã hội hóa công tác giáo dục ở địa phương của nhà trường trong những năm vừa qua. Thông qua chính quyền địa phương, qua nhân dân, qua phụ huynh học sinh, qua một số đơn vị làm tốt công tác XHGD ở Quận, thành phố. IV. Nhiệm vụ của đề tài. 1. Nghiên cứu cơ sở lí luận, và cơ sở thực tiễn về xã hội hóa công tác Giáo dục. 2. Nghiên cứu nội dung của xã hội hóa công tác giáo dục. 3. Một số biện pháp tổ chức Xã hội hóa công tác Giáo dục ở địa phương. 4. Tìm hiểu thực trạng xã hội hóa công tác Giáo dục ở Trường Mầm non Cát Bi quận Hải An trên cơ sở đó đề ra một số biện pháp giải quyết. 5. Một số biện pháp thực hiện Xã hội hóa công tác giáo dục ở Trường mầm non Cát Bi. Những kết quả đã đạt được- những tồn tại khó khăn - khuyến nghị. V. Phƣơng pháp nghiên cứu. 1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết. Sưu tầm các nguồn tư liệu để nghiên cứu gồm: - Xã hội hóa công tác giáo dục nhận thức và hành động. - Những bài giảng về quản lý trường học. - Các chuyên san nghiên cứu giáo dục. - Luật phổ cập giáo dục. - Tài liệu bồi dưỡng công đoàn. - Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc. - Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 3
  4. - Tài liệu Xã hội hóa công tác Giáo dục - nhận thức và hành động " Viện khoa học Giáo dục " - 1999 - Nghị quyết Chính phủ hướng dẫn tổ chức thực hiện Xã hội hóa công tác giáo dục ở địa phương. - Nghị quyết Hội đồng nhân dân Thành Phố Hải Phòng. - Nghị quyết quận Ủy, ủy ban nhân dân quận Hải An. - Nghị quyết của Đảng ủy Phường Cát Bi về công tác Giáo dục. - Nghiên cứu báo chí, tài liệu, chuyên san và các số liệu tổng kết xã hội hóa Giáo dục ở địa phương qua các năm gần đây. 2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn.  Dùng phương pháp quan sát : Tìm hiểu cơ sở vật chất trường học thể hiện kết quả Xã hội hóa công tác Giáo dục ở địa phương. Quan sát nền nếp kỷ cương của giáo viên. Quan sát tự nhiên để xác định thực trạng về công tác tuyên truyền vận động xã hội hoá giáo dục của giáo viên. Quan hệ giữa phụ huynh học sinh với nhà trường, điều kiện phụ huynh học sinh của trường. Quan hệ giữa chính quyền địa phương với nhà trường. Quan sát hoạt động của học sinh để đánh giá hoạt động đoàn thể trong nhà trường. Quan sát hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại trường mầm non Cát Bi. * Phương pháp phỏng vấn: + Trao đổi với lãnh đạo địa phương: Đảng ủy, chính quyền, và các tổ chức đoàn thể về hoạt động của họ trong công tác xã hội hóa Giáo dục. + Với người dân địa phương: xem nhận thức của họ về giáo dục + Với phụ huynh học sinh: - Xem họ có quan tâm đến nhà trường không ? - Quan niệm về ý thức trách nhiệm. - Quan hệ đối xử với nhà trường ra sao ? + Với cán bộ giáo viên trong trường: Xem sự tham gia, sự phối kết hợp với Phụ huynh học sinh về giáo dục của giáo viên mình thế nào? + Với học sinh: - Để thấy được sự quan tâm của gia đình . - Trung bình kinh phí đầu tư cho con em đi học /năm. - Về tình hình Giáo dục ở địa bàn trường đóng, trình độ dân trí của nhân dân, điều kiện đời sống kinh tế của nhân dân. 4
  5. - Tính toán số liệu tìm ra thực trạng của nhà trường và kết quả qua các số liệu khi thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục. VI. Địa bàn phạm vi nghiên cứu: Trường mầm non Cát Bi - Phường Cát Bi - quận Hải An - thành phố Hải Phòng. 5
  6. PHẦN II : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận : Các nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục và xã hội học đều khẳng định:" Giáo dục là một nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội". Điều đó có nghĩa là không thể tách rời giáo dục khỏi đời sống xã hội. Do bản chất xã hội vốn có đó của giáo dục mà giáo dục phải là sự nghiệp của toàn xã hội, chỉ có sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục mới thúc đẩy giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả. Mục tiêu của giáo dục là làm cho con người phát triển một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và tiến bộ khoa học - công nghệ. Để thực hiện mục tiêu trên ta cần tiến hành xã hội hóa công tác giáo dục. Những địa phương nào chỉ nhìn xã hội hóa công tác giáo dục theo khía cạnh huy động nguồn tài chính của nhân dân là không nhìn đúng, chưa toàn diện về bản chất xã hội hóa công tác giáo dục và chắc chắn sẽ không thể xây dựng cho địa phương mình một sự nghiệp giáo dục phát triển bền vững, có chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, chúng ta phải hiểu và có nhận thức đúng đắn về xã hội hóa công tác giáo dục, từ đó xây dựng những biện pháp tổ chức về xã hội hóa công tác giáo dục trong từng địa phương cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội . 2. Cơ sở thực tiễn. Trong nhiều năm qua, với cơ chế tập trung quan liêu và bao cấp đã làm cho ngành giáo dục rơi vào thế đơn độc, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội. Đây là một trong những lí do cơ bản làm cho cơ sở vật chất của giáo dục xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy và người học giảm sút, sự phát triển giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc làm cho giáo dục trở lại với bản chất xã hội hóa vừa là phù hợp với bản chất xã hội đích thực của giáo dục, vừa phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Trong hoàn cảnh đất nước ta còn nghèo, ngân sách đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, mà trong mỗi nhà trường nói chung và trường mầm non Cát Bi nói riêng còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất trường lớp. Trường mầm non Cát Bi nằm ở khu trung tâm thành phố thuộc quận Hải An với diện tích 3807m2, trường có 10 phòng học. Trong đó có 4 phòng học chuẩn và 4 phòng học xây dựng từ năm 1998 không đạt về diện tích, chất lượng sử dụng không đủ số lớp học cho các cháu. Vì vậy nhà trường phải tận dụng phòng hội trường trên tầng 2 và các phòng chức năng làm phòng học. Đồng thời bếp ăn cũ sửa chữa thành phòng học. Hệ thống sân chơi còn bê tông hoá. Hàng năm số học sinh của trường từ 450 - 500 học sinh một số học sinh thuộc phường Cát Bi, Thành Tô. Cơ sở vật chất phương tiện đã xuống cấp. Các thiết bị đồ dùng phần lớn đã cũ và hết hạn sử dụng... song chúng ta không thể ngồi chờ đến khi có đầy đủ các điều kiện cần thiết để phát triển mà ta phải tìm ra con đường ngắn nhất, có hiệu quả cao nhất đó là xã hội hóa công tác giáo dục, từ đó góp phần tích cực để giải quyết những khó khăn trước mắt của nhà trường, địa phương, của từng ngành học. Làm cho giáo dục phát triển mạnh mẽ, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Về chất lượng giáo dục được coi là hai trong ba trường mầm non có chất lượng của Quận. Tuy nhiên giải ở các bộ môn năng khiếu còn thấp chưa được quan tâm. 6
  7. - Dân trí nhìn chung là nhân khẩu sống nghề lao động tự do, đời sống còn khó khăn và trên 80 hộ nghèo của phường chủ yếu tập trung ở đây. Đời sống gia đình các em học sinh đa số là gia đình gặp khó khăn. Do đời sống khó khăn nên họ ít quan tâm đến vấn đề học tập của con em mình. Trường nằm ở gần Chợ Thành Tô, phường Cát Bi. Do đó sinh hoạt của nhân dân và học sinh ở phường có nhiều ảnh hưởng và rất phức tạp, đa dạng. Chính quyền địa phương đã quan tâm đến công tác giáo dục song cách nhìn cũng chưa toàn diện về giáo dục, ít quan tâm đến phong trào và cũng chỉ khuyến khích động viên . Chưa kết hợp chặt chẽ với trường để làm công tác phổ cập giáo dục mầm non và tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường còn coi đây là nhiệm vụ của nhà trường chứ không phải của phường. Hiện nay, xã hội hóa công tác giáo dục đã phát triển ở nhiều nơi trong cả nước, từ thành thị đến nông thôn. Đặc biệt ở Quận Hải An Thành phố Hải Phòng xã hội hóa công tác giáo dục, ngày càng chứng tỏ tính đúng đắn của nó và ngày càng được chứng minh như một giải pháp thực sự có hiệu quả cao trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Những địa phương triển khai tốt công tác xã hội hóa giáo dục đã thu được những kết quả đáng khích lệ và mở ra một hướng đi đúng đắn đầy triển vọng cho sự phát triển của giáo dục. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC GIÁO DỤC Vì giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội hóa cao. Chỉ riêng ngành giáo dục không thể làm tốt công tác giáo dục. Đúng như Hồ Chủ Tịch đã nói: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đẹp đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn". Do vậy để làm tốt xã hội hóa công tác giáo dục ở địa phương, ngoài việc làm cho mọi người hiểu thế nào là xã hội hóa công tác giáo dục, vai trò và ý nghĩa của công tác này, còn phải tiến hành xây dựng các biện pháp cụ thể để tiến hành xã hội hóa công tác giáo dục. Từ thực tiễn nhà trường và tìm hiểu về các làm công tác xã hội hóa giáo dục của một số gương mặt quản lý giỏi và làm tốt công tác xã hội hóa công tác giáo dục của Thành phố và của Quận Hải An. Như chị Bùi Thị Lại trường mầm non Đông Hải 2 Quận Hải An, trường mầm non chuẩn Quốc Gia Hoa Cúc quận Lê Chân...Bản thân tôi đã rút cho mình một số biện pháp làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục tại trường mầm non Cát Bi. 1. Đảng ủy và chính quyền địa phƣơng chỉ đạo xã hội hóa công tác giáo dục : + Đảng ủy địa phương phải đề ra các chủ trương, Nghị quyết về xã hội hóa công tác giáo dục. Xác định rõ mục tiêu, phương hướng chỉ đạo các giải pháp lớn, nhỏ, cụ thể, sát hợp với hoàn cảnh địa phương. Giải quyết các điều kiện thực hiện và kiểm tra đánh giá kết quả đồng thời lãnh đạo các đoàn thể, tổ chức chính trị và quần chúng thực hiện các Nghi quyết đề ra. + Hội đồng nhân dân phường là nơi cụ thể hóa các chủ trương, phương hướng của cấp trên, của đảng ủy. Hoạch định các chương trình, kế hoạch, cân đối các điều kiện thực hiện ngân sách, đội ngũ cơ sở vật chất... Để thực hiện các chủ trương Nghị quyết về xã hội hóa công tác giáo dục. Phân công trách nhiệm cho các tổ chức, các cơ quan, ban ngành, động viên các lực lượng xã hội cùng tham gia. 7
  8. + Ủy ban nhân dân: Phải dựa vào sự tham mưu của ngành học, của các nhà trường, của Hội đồng giáo dục để thực hiện các chủ trương, các chương trình, kế hoạch về xã hội hóa công tác giáo dục. + Mặt trận tổ quốc của địa phương : Phải phối hợp với ngành giáo dục thực hiện công cuộc xã hội hóa giáo dục như: Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng gia đình văn hóa, huy động sự đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực của địa phương để phát triển giáo dục. Tập hợp các quần chúng, tạo nên những phong trào quần chúng làm giáo dục. Thu thập nhu cầu, nguyện vọng của mọi người, bàn bạc thảo luận, đề xuất những chủ trương, những chương trình, kế hoạch hoạt động, kiến nghị các chính sách chế độ với các cấp địa phương trong việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục. + Phối hợp với phụ nữ địa phương: Hội phụ nữ địa phương với ngành giáo dục thực hiện phổ cập giáo dục cho trẻ em. Hội là người tham gia vào việc duy trì sĩ số ở địa phương. Hội phối hợp cùng với nhà trường nắm bắt tình hình học tập của con cái, góp phần tích cực trong việc khôi phục truyền thống hiếu học, nâng cao dân trí của gia đình và họ tộc. Hội huy động và tổ chức lực lượng phụ nữ tham gia xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị, khai thác tiềm năng, nhân lực, vật lực cho giáo dục nhà trường. + Phối hợp với các tổ chức kinh tế địa phương: Tạo điều kiện, phương tiện cho học sinh tham quan, vui chơi giải trí. Đồng thời họ là những nhà "tài trợ" cho nhiều hoạt động giáo dục ngoài nhà trường. + Phối hợp với gia đình và họ tộc: Gia đình và họ tộc động viên con cái và mọi thành viên đi học như là một quyền lợi và nghĩa vụ, thực hiện trách nhiệm phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí, thực hiện học tập thường xuyên và suốt đời. Gia đình là nơi tham gia hữu hiệu nhất vào việc phát triển và duy trì số lượng trong giáo dục, khuyến khích học sinh học tập đồng thời tham gia đóng góp vật chất - lao động xây dựng trường sở, đóng học phí, khen thưởng con cái ngoan, học giỏi. 2. Nhà trƣờng phải giữ vai trò chủ động trong xã hội hóa công tác giáo dục : Nhà trường phải thể hiện đầy đủ tính chủ động sáng tạo, vai trò trung tâm và nòng cốt trong xã hội hóa công tác giáo dục. Chỉ như vậy mới lôi cuốn, thu hút và tổ chức sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác giáo dục. Xuất phát từ nhu cầu của mình và của địa phương mà chủ động đề xuất nội dung cần thiết xã hội hóa công tác giáo dục. Tiến hành thu thập thông tin, thăm dò dư luận, gợi ý sự tham gia của các lực lượng cần thiết, chuẩn bị các phương án các chương trình... Trên cơ sở đó chủ động tham mưu với các cấp lãnh đạo và quản lý địa phương về phương hướng, chủ trương, mục đích, yêu cầu, nội dung cách thức, thực hiện những yêu cầu về xã hội hóa công tác giáo dục mà nhà trường đã chuẩn bị. Để phát huy vai trò trung tâm nòng cốt trong xã hội hóa công tác giáo dục ở địa phương, nhà trường phải thực sự là bộ phận của địa phương, của cộng đồng. Các hoạt động giáo dục của nhà trường phải nhằm phục vụ những mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương. Để tận dụng được tiềm năng của các lực lượng xã hội, liên kết phối hợp các lực lượng xã hội cùng làm giáo dục, nhà trường phải đạt được niềm tin, đem lại lợi ích thực sự cho xã 8
  9. hội. Muốn vậy nhà trường phải thực sự tốt về mọi mặt, chỉ có chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường mới tạo nên động lực cho sự tham gia của xã hội làm giáo dục. Khi nói đến nhà trường là nói đến tập thể đội ngũ cán bộ giáo viên, đặc biệt là vai trò của Hiệu trưởng, vì Hiệu trưởng là người cụ thể hóa các chủ trương trên những quan điểm cơ bản để xã hội hóa công tác giáo dục. Để làm tốt việc này, người Hiệu trưởng phải có năng lực quản lý, nắm vững nguyên tác quản lý, có nghiệp vụ quản lý. Phải có quan điểm quần chúng sâu sắc, có năng lực vân động quần chúng, phát huy được ý thức tự giác, làm chủ, chủ động và sáng tạo của quần chúng. Phải hiểu chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của từng lực lượng xã hội có quan hệ tốt với các lực lượng xã hội đó. Phải có năng lực tổ chức, biết tìm người, sử dụng người và sắp xếp lực lượng. Hiệu trưởng phải có tín nhiệm với địa phương với cộng đồng, biết lắng nghe tâm tư nguyện vọng của từng cá nhân và tổ chức xã hội để có tiếng nói thuyết phục đối với họ. Đối với giáo viên, phải là người nhận thức sâu sắc về xã hội hóa công tác giáo dục và vai trò của mình trong công tác này. Phải có quan hệ tốt với các tổ chức quần chúng, các lực lượng xã hội, nhất là đối với gia đình học sinh, với mọi tầng lớp nhân dân trong địa phương. Mặt khác người giáo viên, phải là người dạy giỏi,chăm sóc trẻ tốt, có phẩm chất đạo đức tốt để cuốn hút học sinh say mê học tập và gắn bó với trường lớp. * Với phụ huynh học sinh : Tuyên truyền vận động phụ huynh về giáo dục thông qua Đại hội Đại biểu phụ huynh học sinh, để từ đó họ hết lòng ủng hộ nhà trường. Làm cho phụ huynh hiểu được quyền và trách nhiệm của mình, họ tận hiểu được những lợi ích mà bản thân và con em họ được hưởng từ thành quả XHHGD để từ đó họ càng tích cực tham gia công tác giáo dục hơn. Nhà trường làm tốt công tác xây dựng kế hoạch. Lập kế hoạch gồm: + Nội dung công việc định làm. + Mục đích ý nghĩa. + Đối tượng tham gia. + Cách làm. + Kết quả thu được. Cụ thể về nội dung: * 2010 - 2011: Mua 15 máy vi tính + Xây dựng sân chơi + 20 bảng + cải tạo nhà xe + 22 tủ đựng đồ dùng... Tiếp tục vận động phụ huynh mua sắm bàn ghế chuẩn, bảng dạy học, tủ đồ dùng, tủ đựng sách vở để toàn bộ các cháu đều có điều kiện học tập tốt nhất ... Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng của phổ cập đúng độ tuổi. Quan tâm đến các hoạt động phong trào để phấn đấu là trường trọng điểm có chất lượng giáo dục toàn diện thu hút học sinh. 9
  10. * 2011- 2012: Lát sàn gỗ 11 lớp + 150 bàn, ghế chuẩn + Đầu tư trang thiết bị bếp ăn, phòng học. Đầu tư sân chơi, thiết bị bếp chuẩn, sân khấu, 100 bộ bàn ghế chuẩn. Xây dựng phòng hội trường đa chức năng để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn nghệ thuật giúp phát huy cao khả năng của học sinh. Mục đích để phấn đấu xây dựng trường chuẩn quốc gia. * 2012 - 2013: Mua giá góc chuẩn 09 lớp, 01 bộ âm ly, loa máy, gương gióng múa, sơn tường, máy phô tô, tủ văn phòng, máy tính, cối xay thực phẩm. Đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầu của trường chuẩn Quốc gia mức độ 2, trường đạt chất lượng giáo dục cấp độ 2. 4. Xây dựng các bước để làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục. Bước 1: Tổ chức triển khai trong hội đồng nhà trường để mọi giáo viên nắm chắc được mục đích yêu cầu, nhiệm vụ và bàn bạc thống nhất. Sau đó phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong Hội đồng nhà trường thực hiện nhiệm vụ đó. Bước 2: Triển khai trong Ban giám hiệu và hội đồng nhà trường. Ban Giám hiệu trao đổi bàn bạc với chính quyền địa phương và tập thể Hội cha mẹ học sinh. Ba bên bàn bạc đi đến thống nhất nội dung và cách thức tiến hành. Phân công rõ nhiệm vụ cho từng cá nhân, từng tổ chức. Bước 3: Triển khai đến phụ huynh học sinh. - Tiến hành Đại hội phụ huynh học sinh trong toàn trường. Ở đây Hiệu trưởng trực tiếp hợp với toàn thể phụ huynh học sinh (100% phụ huynh học sinh tham gia họp bàn). - Hiệu trưởng trực tiếp điều hành cuộc họp. - Phụ huynh học sinh dân chủ bàn bạc và đi đến thống nhất chủ trương cách thức làm . - Trong quá trình họp bàn để dân chủ công khai thì Hiệu trưởng cần báo cáo công việc cụ thể, mức đóng góp, và luôn khuyến khích sự đóng góp ý kiến của phụ huynh học sinh và Hiệu trưởng phải là người vững vàng có lý luận và giải thích thấu tình đạt lý mới có thể mang lại kết quả tốt như mong muốn và làm cho phụ huynh phấn khởi tin tưởng. Bước 4: Xin chủ trương lãnh đạo: - Trường làm tờ trình xin ý kiến của Phòng Giáo Dục của Ủy ban Nhân dân quận Hải An về xã hội hóa công tác giáo dục của từng năm mà mình sẽ làm. Đây cũng là một việc làm xin ý kiến chủ trương của các cấp lãnh đạo và nhận sự đồng tình của các cấp . Bước 5: Một lần nữa lấy ý kiến của phụ huynh học sinh: - Họp phụ huynh xin ý kiến phụ huynh học sinh về từng nội dung - Mục đích là công khai dân chủ và hợp pháp. - Mọi người đều thể hiện chính kiến của mình. - Nếu đồng ý thì ghi đồng ý. - Nếu không đồng ý thì ghi không đồng ý. - Nếu có ý kiến khác thì ghi ý kiến của mình. 10
  11. - Sau khi thu phiếu lấy ý kiến Ban giám hiệu cùng Ban thường trực Hội kiểm tra xem xét, nghiên cứu các ý kiến của từng phụ huynh, sau đó tập trung các ý kiến đó lại, nếu số phiếu nhất trí từ 80% trở lên thì công việc đó sẽ được tiến hành và số còn lại ta sẽ phải trực tiếp giải thích tuyên truyền động viên, còn phụ huynh học sinh nào không có khả năng tham gia thì thôi cũng không có ảnh hưởng gì. Các phiếu lấy ý kiến đó chính là bằng chứng về sự tự nguyện và dân chủ. Nó đảm bảo chắc chắn cho sự thành công với ý nghĩa đích thực của nó về xã hội hóa công tác giáo dục và xã hội hóa công tác giáo dục chỉ thành công khi mọi người hiểu đúng về giáo dục và tự nguyện tham gia thì nó mới trở thành sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân. Bước 6: Triển khai nội dung công việc. Sau khi lấy ý kiến xong công việc được triển khai có sự điều chỉnh cho phù hợp với ý kiến đóng góp của các cấp lãnh đạo của Phụ huynh học sinh . Như vậy xã hội hóa công tác giáo dục sẽ thành công và nó sẽ xứng với ý Đảng, hợp với lòng dân, làm cho mọi người đều tin tưởng phấn khởi. III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC. Với cách thức tiến hành như trên kết quả xã hội hóa công tác giáo dục của trường mầm non Cát Bi thật đáng khích lệ. Kết quả đó được thể hiện như sau: Về cơ sở vật chất, cảnh quan sư phạm và các hoạt động của nhà trường. Nhờ làm tốt công tác tham mưu nhà trường đó được đầu tư xây dựng 4 phòng học chuẩn, cô trò phấn khởi hơn khi được học ngôi trường mới. Hàng ngày cô và trò chăm lo công tác lao động dọn dẹp vệ sinh, xây dựng cảnh quan sư phạm nhà trường, phụ huynh học sinh phấn khởi hơn khi đưa con đến trường nhập học. Sân trường bê tông hóa gần 1000m² khuôn viên được cải tạo thành khu vườn cổ tích thể chất để các cháu được vui chơi hoạt động . Năm học 2012-2013 nhà trường đó cơ bản hoàn thành xong các công trình theo sơ đồ qui hoạch của trường, sân chơi rộng rãi sạch sẽ, các hoạt động ngoại khoá có nhiều khởi sắc đó tạo không khí ngày khai giảng thực sự vừa là ngày lễ, vừa là ngày hội của tất cả các em. Không những chăm lo xây dựng cảnh quan sư phạm tạo được bộ mặt cho nhà trường mà nhà trường còn chú trọng công tác phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi ở địa phương, từng bước phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non đúng độ tuổi. Công tác duy trì sĩ số nhiều năm liền được giữ vững. Tình trạng bỏ học giữa chừng của các cháu giảm dần. Được sự quan tâm của cấp trên, nhà trường xây dựng thành công trường chuẩn quốc gia mức độ 2 nên trường chỉ còn một điểm chính công tác huy động xã hội hóa để xây dựng và phát triển nhà trường lại càng thuận lợi. Ngày càng có nhiều phụ huynh học sinh quan tâm đóng góp cả tài lực, vật lực cho nhà trường, Đảng ủy chính quyền địa phương quan tâm đúng mức cô trò lại càng phấn khởi hơn ra sức phấn đấu dạy tốt, học tốt. Vườn hoa, cây cảnh nhà trường đó bắt đầu xanh tốt, từ một bãi đất trống gạch đỏ ngổn ngang khô cằn trên hiện trạng phòng học cũ đó được cải tạo thành khu vườn cổ tích thể chât sinh động. Tập thể cán bộ giáo viên, công nhân viên cùng học sinh trong toàn trường lao động trồng cây và hoa theo sơ đồ qui hoạch. 11
  12. Trong ba năm trở lại đây nhà trường có nhiều tiến bộ về nhiều mặt (cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, chất lượng học sinh, chất lượng giáo viên, hoạt động xã hội hoá...) nhận được sự đồng thuận và ủng hộ của đa số phụ huynh học sinh trong địa bàn. Ban đại diện cha mẹ học sinh phối hợp chặt chẽ với nhà trường được hội đồng giáo dục tuyên dương. Các đoàn thể phối hợp nhịp nhàng với đoàn thể địa phương cũng như phối hợp hoàn thành tốt công việc trong đơn vị. Lãnh đạo địa phương phấn khởi quan tâm nhiều hơn cho sự phát triển của nhà trường. * Kết quả về công tác phổ cập giáo dục và chất lượng giáo dục đến T2/2013. BIỂU MẪU THỐNG KÊ Kết quả về công tác phổ cập giáo dục và chất lƣợng giáo dục đến T2/2014 STT Năm học Nội dung 2011-2012 2012-2013 2013-2014 1 Huy động trẻ 5 tuổi ra lớp 99,7% 100% 100% 2 Tỷ lệ chuyên cần 93,7% 95% 95,5% 3 Số giải năng khiếu 38 giải 44 giải Tốt 80% 85% Khá 20% 15% 4 Chất lượng giáo dục T.B Đạt YC 0% 0% CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐƢỢC HUY ĐỘNG STT Cơ sở vật chất 2011-2012 2012-2013 2013-2014 1 Ghế 50 160 chiếc 60 chiếc 2 Bàn 40 50 chiếc 20 chiếc 3 Giá (đồ chơi, học tập...) 70 20 chiếc 10 chiếc 4 Bảng dạy học 4 5 chiếc 5 Đồ dùng, đồ chơi các góc 11 9 lớp 9 lớp 6 Rèm che nắng 10 5 chiếc 7 Màn hình MT 6 2 chiếc 3 chiếc 8 Máy tính 5 2 chiếc 5 chiếc 9 Điều hoà 10 2 chiếc 10 Bình nóng lạnh 2 3 bộ 2 bộ 11 Sàn gỗ 300 m 12
  13. 12 Tủ chăn gối 5 4 chiếc 13 Chăn 70 50 chiếc 10 chiếc 14 Gối 480 360 chiếc 20 chiếc 15 Chiếu 150 170 chiếc 50 chiếc 16 Đồ dùng thể chất (11 lớp) 9 lớp 9 lớp 17 Camera 14 cái 2 chiếc 18 Đồ chơi ngoài trời 1 bộ 2 bộ 19 Máy photo 1 bộ 20 Đàn oocgan 2 bộ 2 bộ 21 Xe đẩy cơm 2 chiếc 22 Giường y tế 1 chiếc 23 Tủ ca cốc inoc 9 chiếc +Giáo viên: Chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng cao. Qua đợt kiểm tra toàn diện cho thấy hiện nay không còn giáo viên xếp loại đạt yêu cầu, giáo viên giỏi các cấp ngày càng tăng. Trình độ đào tạo và trình độ chuẩn nghề nghiệp tăng vượt trội. Qua nối mạng internet giáo viên tích cực trong việc truy cập thông tin phục vụ cho bài giảng, qua địa chỉ tìm kiếm với google cán bộ nhà trường thu được nhiều dữ liệu và thông tin phục vụ cho các hoạt động của nhà trường tạo được các hình thức sinh hoạt mới mẻ, phong phú và hấp dẫn các cháu. Giáo viên tích cực sử dụng các đồ dùng dạy học hiện có trong nhà trường, ngoài ra giáo viên nhà trường tích cực làm thêm nhiều đồ dùng dạy học phục vụ cho giảng dạy cũng như làm đồ dùng hỗ trợ cho các hội thi đạt kết quả tốt: - Khảo sát tay nghề giáo viên cấp trường: 28/28 + 100% GV tham gia, kết quả: 11/28 = 39% GV đạt giỏi, 17/28 = 61% GV đạt khá. - Thi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học cấp trường: 21/28 + 75% GV tham gia, kết quả: 11/21 = 52% GV đạt giỏi, 10/21 = 48% GV đạt khá. Thi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học giỏi đứng thứ tư cấp quận. Thi đồ dùng sáng tạo mầm non cấp quận: có 10 loại đồ dùng tham gia thi, kết quả: đứng thứ nhất cấp quận . BẢNG SỐ LIỆU MINH CHỨNG 1. Số lượng và trình độ đào tạo: NĂM HỌC Tỷ lệ giáo viên trên chuẩn Tỷ lệ giáo viên giỏi các cấp 2010 - 2011 56% 50.6% 2011 - T2/2013 57%. 2013 - T2/2014 57%. 13
  14. 4/ KẾT QUẢ XẾP LOẠI CHI BỘ - NHÀ TRƢỜNG - CÁC ĐOÀN THỂ: NĂM HỌC CHI BỘ NHÀ TRƢỜNG CÔNG ĐOÀN CHI ĐOÀN 2010-2011 Trong sạch-vững mạnh Lao động tiên tiến Vững mạnh-Xuất sắc Xuất sắc 2011-2012 Trong sạch-vững mạnh Lao động tiên tiến Vững mạnh-Xuất sắc Xuất sắc 2012-2013 Trong sạch-vững mạnh Lao động tiên tiến Vững mạnh-Xuất sắc Xuất sắc Nhìn vào kết quả trên ta thấy chất lượng Giáo dục ngày càng được nâng cao và cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường. Thể hiện xã hội hóa công tác giáo dục cần được quan tâm nhiều hơn nữa chắc chắn những yếu điểm của nhà trường sẽ được khắc phục và hiệu quả giáo dục ngày một toàn diện, cơ sở vật chất ngày được hoàn thiện hơn. 14
  15. PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. NHỮNG NHẬN ĐỊNH ĐÁNH GIÁ CHUNG: Phải nói rằng xã hội hóa công tác giáo dục ở trường mầm non Cát Bi trong những năm qua đặc biệt là đầu năm học 2013 – 2014 đã thu được một kết quả to lớn đáng khích lệ. Cách làm của nhà trường được dư luận toàn xã hội đồng tình ủng hộ. Nhờ có xã hội hóa công tác giáo dục mà cơ sở cảnh quan nhà trường được cải thiện đáng kể. Và cũng vì xã hội hóa công tác giáo dục mà phụ huynh học sinh quan tâm hơn đến việc phát triển toàn diện cho con em mình. Thể hiện là họ tạo điều kiện cho các em luyện tập thể dục thể thao, tham gia học bồi dưỡng ở các môn năng khiếu như:Bé khéo tay, võ . Đặc biệt các hoạt động phong trào của trường ngày càng được quan tâm và đi vào chiều sâu chất lượng. Các hoạt động được phụ huynh quan tâm, phường tạo điều kiện và cử đoàn viên vào hỗ trợ. Những hoạt động ngoại khoá trường mở cửa trường để thu hút sự quan tâm của toàn thể nhân dân địa phương và phụ huynh học sinh. Việc tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học được tăng cường, các hoạt động tập thể ngày càng sôi động, chất lượng giáo dục ngày càng được khẳng định. Cụ thể là: Số lượng, chất lượng học sinh ngày càng tăng. Điều đó một lần nữa khẳng định tác dụng và vai trò to lớn của xã hội hóa công tác giáo dục. * Bài học: Để xã hội hóa công tác giáo dục có hiệu quả bản thân tôi thấy mình cần làm tốt các khâu sau đây: 1. Phải làm tốt khâu tuyên truyền vận động và đây là việc làm tối cần thiết và mang tính tiên quyết. Khi mọi người đã hiểu về giáo dục, hiểu được ý nghĩa việc làm của mình thì họ sẽ tự giác, nhiệt tình tham gia. Muốn tuyên truyền vận động có hiệu quả thì bản thân người Hiệu trưởng phải có trình độ lí luận, hiểu sâu sắc về vấn đề mình đưa ra mới có sức thuyết phục. Hiệu trưởng phải chuẩn bị bài phát biểu chu đáo, bố cục phải rõ ràng và trong quá trình điều hành Hiệu trưởng phải linh hoạt, khả năng ửng xử tốt trong mọi tình huống. Vận động mọi người làm xã hội hóa công tác giáo dục phải hết sức thận trọng và có bài bản. Phải xác định được hết các đối tượng cần tham gia tuyên truyền vận động và đối tượng cần tuyên truyền. Các đối tượng tham gia tuyên truyền: Học sinh, cán bộ giáo viên, phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể...Các đối tượng này cần được tập huấn kỹ lưỡng về nội dung, về phương pháp làm xã hội hóa công tác giáo dục. Vận động tuyên truyền xã hội hóa công tác giáo dục cần thông qua các cuộc họp, các hội nghị, các buổi tập trung... Các đối tượng được tuyên truyền vận động là phụ huynh học sinh và nhân dân, các tổ chức đoàn thể... 15
  16. Xã hội hóa công tác giáo dục càng thắng lợi nếu Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo và họp được với toàn thể phụ huynh học sinh toàn trường, bởi có như vậy 100% phụ huynh mới được trực tiếp lĩnh hội những ý tưởng và chủ trương của trường tránh việc truyền đạt sai lệch thông tin hoặc hiểu không đầy đủ vấn đề . 2. Trong quá trình triển khai nhà trường phải đóng vai trò chủ đạo, trung tâm. Tuy nhiên xã hội hóa công tác giáo dục muốn thành công thì phải phát huy cao độ tính dân chủ. Cụ thể: Khuyến khích họ bàn bạc trao đổi để đi đến thống nhất. Nếu phụ huynh học sinh còn có ý kiến trao đổi ta nên tạo điều kiện cho họ được phát biểu. Sau đó dựa trên ý kiến phát biểu đó người điểu khiển cuộc họp sẽ hướng về vấn đề cần kết luận. Bao gồm: - Nội dung công việc. - Cách thức tìm. - Đối tượng tham gia. - Mức độ đóng góp (nếu có). - Kết quả. * Phải huy động được nhiều người cùng tham gia làm xã hội hóa công tác giáo dục 3. Sau khi họp xong, để một lần nữa mỗi thành viên tham gia xã hội hóa công tác giáo dục thể hiện chính kiến của riêng mình tránh tình trạng là cho rằng thấy mọi người nhất trí tôi cũng nhất trí theo thì khi tiến hành bao giờ tôi cũng phát phiếu xin ý kiến cho từng thành viên. Các thành viên có quyền mang phiếu về nhà bàn bạc trao đổi với gia đình. Nếu nhất trí với nội dung nào thì ghi đồng ý với nội dung đó, nếu không nhất trí thì ghi không đồng ý. Nếu có ý kiến khác thì ghi ý kiến của mình. Một tuần sau tôi sẽ thu lại các phiếu đó. Các phiếu thu lại, được Ban giám hiệu, thường trực Hội cha mẹ học sinh cùng nhau kiểm tra, tập hợp các ý kiến đó lại để có quyết định chính thức trước khi triển khai. Nếu được 80% trở lên thì công việc được triển khai. Và những người không đồng ý với việc làm về xã hội hóa công tác giáo dục thì ta tiếp tục vận động hoặc xem xét. Có thể không để họ tham gia (nhất là các khoản đóng góp). Đây là cách làm mà được các cấp lãnh đạo rất khen ngợi. 4. Khi đã tiến hành làm xã hội hóa công tác giáo dục thì người Hiệu trưởng phải thực hiện đúng những lời hứa của mình trước phụ huynh học sinh, trước các cấp lãnh đạo tránh để lâu mới tiến hành hoặc sử dụng kinh tế sang mục đích khác để mất uy tín với phụ huynh học sinh. 5. Sau mỗi việc làm phải có đánh giá sơ kết, có tuyên dương khen thưởng, nếu là tài chính phải công khai thu chi. Có như vậy mới tạo niềm tin với nhân dân và các công việc về sau mới diễn ra thuận tiện, có hiệu quả. II. NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ. Qua thực tiễn năm năm làm công tác quản lý và trực tiếp làm xã hội hóa công tác giáo dục tôi thấy còn gặp những khó khăn và tồn tại sau đây: 16
  17. 1. Tồn tại: - Khả năng tuyên truyền vận động của cán bộ giáo viên chưa tốt nhiều giáo viên khả năng thuyết phục và giải thích còn hạn chế. - Một số phụ huynh nhận thức về vai trò trách nhiệm của mình với con em của họ chưa cao đôi lúc họ còn có những biểu hiện về lời nói việc làm thiếu văn hóa làm cho cán bộ quản lý và giáo viên không hài lòng. Đa số phụ huynh học sinh ủng hộ công tác này xong một số ít phụ huynh không ủng hộ là họ cũng dễ dàng đơn thư và gây khó khăn cho nhà trường. Đảng ủy chính quyền địa phương một số người chưa nhận thức đầy đủ về xã hội hóa công tác giáo dục, họ không tạo cơ hội để nhà trường tiếp cận để tuyên truyền cho nhân dân địa phương đôi lúc họ còn tỏ ra thờ ơ với công việc này. 2. Khuyến nghị: 2.1. Xã hội hóa công tác giáo dục phụ thuộc vào khả năng vận động, vào điều kiện và trình độ dân trí của nhân dân địa phương song nhà nước và các cấp có thẩm quyền nên có những hướng dẫn quy định cụ thể để tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình xã hội hóa công tác giáo dục 2.2. Cần có chế độ khen thưởng để khuyến khích những đơn vị, cá nhân, các tổ chức đoàn thể có thành tích trong xã hội hóa công tác giáo dục. 2.3. Các quận huyện, tỉnh thành cần có những hội thảo chuyên đề rút kinh nghiệm và học tập lẫn nhau về cách làm xã hội hóa công tác giáo dục. 2.4. Cơ quan báo trí và đài truyền hình cần tập trung vào việc tuyên truyền cho công tác xã hội hóa giáo dục một cách thỏa đáng. 2.5. Nhà nước, ủy ban nhân dân thành phố, Quận huyện cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể cho các đơn vị trường học về việc phối hợp với chính quyền địa phương làm xã hội hóa công tác giáo dục. Qua nghiên cứu lí luận và thực tiễn làm xã hội hóa công tác giáo dục tôi tự rút ra cho mình một số kết luận sau: Xã hội hóa công tác giáo dục là vô cùng cần thiết và có vai trò to lớn trong sự nghiệp giáo dục hiện nay. Những nơi làm tốt công tác này sẽ được cải thiện đáng kể về cảnh quan trường lớp về cơ sở vật chất góp phần đắc lực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Giáo viên, phụ huynh, học sinh phấn khởi và tạo ra mối quan hệ gắn bó mật thiết. Xã hội hóa công tác giáo dục là việc làm đòi hỏi phải khoa học và nghệ thuật và mang tính dân chủ, công khai. Đây là việc làm khó đòi hỏi Hiệu trưởng phải tập trung trí tuệ, kiên trì vận động thuyết phục. Nó cũng như mưa dầm thấm đất để dần dần mọi người sẽ thấu hiểu và tự nguyện tham gia xã hội hóa công tác giáo dục. Lúc đó ta sẽ thu được kết quả to lớn bất ngờ hơn ta tưởng. Xã hội hóa công tác giáo dục là một chiến lược nhà trường cần hoạch định rõ nhiệm vụ cụ thể của tường thời kì, từng năm và chuẩn bị đầy đủ mọi yếu tố cần thiết để tiến hành công việc này. Nếu xã hội hóa công tác giáo dục được quan tâm và tiến hành một cách bài bản chặt chẽ với sự tham gia của toàn xã hội sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục. 17
  18. Trên đây là một số kinh nghiệp và biện pháp tổ chức xã hội hóa công tác giáo dục của bản thân và nhà trường tôi đã làm trong những năm qua với các biện pháp trên đã mang lại những kết quả to lớn về xã hội hóa công tác giáo dục, được phụ huynh đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên cũng không thể tránh được những tồn tại. Rất mong được sự đóng góp xây dựng của các cấp có thẩm quyền để việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở trường mầm non Cát Bi trong những năm tiếp theo sẽ thu được những thắng lợi to lớn hơn . Xin chân thành cảm ơn! Cát Bi, ngày 18 tháng 1 năm 2014 Nhận xét của HĐKHSP Ngƣời nghiên cứu ....................................................................... ....................................................................... ........................................................................ ....................................................... ................ Bùi Thị Kim Hƣơng ........................................................................ 18
  19. PHẦN III : TÀI LIỆU TH AM K HẢO 1. Giáo dục với cộng đồng - Nhà trường và xã hội - 1998 Tài liệu Bồi dưỡng cán bộ quản lý - Công chức nhà nước ngành Giáo dục đào tạo. Của Phó Tiến sĩ: Đặng Xuân Hải 2. Xã hội hóa công tác giáo dục - nhận thức và hành động -1999 Viện Khoa học giáo dục xuất bản Các Tác giả: Bùi Gia Thịnh-Võ Tấn Quang-Nguyễn Thanh Bình 3. Xã hội hoá công tác giáo dục: Nhà xuất bản giáo dục: Bộ giáo dục và Đào tạo - Ban khoa giáo trung ương - Công đoàn giáo dục Việt Nam - Viện khoa học giáo dục. Của Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Minh Hạc. 4.Những bài giảng về quản lý trường học. 5. Báo giáo dục và thời đại. 6. Các chuyên san nghiên cứu giáo dục. 7. Luật phổ cập giáo dục và luật giáo dục có sửa đổi 2005. 8. Tài liệu bồi dưỡng công đoàn. 9. Các văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn Quốc. 10. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 11. Nghị quyết Chính phủ hướng dẫn tổ chức thực hiện Xã hội hóa công tác giáo dục ở địa phương 12. Nghị quyết Đảng Bộ Thành Phố Hải Phòng . 13. Nghị quyết quận Ủy quận Ngô Quyền . 14. Nghị quyết Hội đồng nhân dân các cấp về công tác XHHGD. 15. Nghị quyết Hội đồng giáo dục va nghị quyết Đảng ủy Phường Lê Lợi về công tác Giáo dục. 16. Nghiên cứu báo chí, tài liệu, chuyên san và các số liệu tổng kết xã hội hóa Giáo dục ở địa phương qua các năm gần đây. 17. Báo cáo tham luận về xã hội hóa công tác giáo dục của một số đơn vị quận huyện, một số đơn vị trường họctiêu biểu củaThành phố Hải Phòng. 19
  20. PHỤ LỤC PHẦN I : MỞ ĐẦU Trang I Lí do chọn đề tài. 1 II Mục đích nghiên cứu. 2 III Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu. 2 IV Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài. 2 V Phương pháp nghiên cứu. 3 VI Địa bàn phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu. 4 PHẦN II : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. 5 II Một số biện pháp tiến hành xã hội hóa công tác giáo dục. 6 III Kết quả đã đạt được. 11 PHẦN III : KẾT LUẬN CHUNG. Những nhận định đánh giá chung khi thực hiện đề tài. 15 Những vấn đề tồn tại và những khuyến nghị. 17 PHẦN IV: Tài liệu tham khảo 19 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2