intTypePromotion=3

Thuyết hành vi

Chia sẻ: Phạm Trăng Thu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:5

0
552
lượt xem
42
download

Thuyết hành vi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đối tượng nghiên cứu là hành vi có thể quan sát được, lượng hóa được, khái niệm cơ bản của thuyết hành vi, phương pháp nghiên cứu là quan sát và thực nghiệm khách quan, mục đích đặt ra là phải điều khiển được hành vi là những nội dung chính trong tài liệu "Thuyết hành vi". Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thuyết hành vi

  1. THUYẾT HÀNH VI I. Nội dung của thuyết hành vi          Thuyết hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mỹ, gắn liền với tên tuổi  của nhà sáng lập J. B. Watson, với bốn điểm cơ bản: ● Đối tượng nghiên cứu là hành vi có thể quan sát được, lượng hóa được. ● Khái niệm cơ bản của Thuyết hành vi là: Kích thích – phản ứng. ● Phương pháp nghiên cứu là quan sát và thực nghiệm khách quan. ● Mục đích đặt ra là phải điều khiển được hành vi.          Những tác giả có công đóng góp cho việc hình thành trị liệu hành vi  là: J. Watson (1978 ­ 1958), E. Tolman (1986 ­ 1959), F. Skinner (1904  ­1990)…Cách tiếp cận hành vi được phát triển trong những năm 50 và  đầu những năm 60 của Thế kỷ XX.         Quan điểm hành vi bắt nguồn từ cơ sở của tâm lý cho rằng con  người có phản ứng do có một sự thay đổi của môi trường, gọi là tác nhân  kích thích.          Theo thuyết này, hành vi của chúng ta không phải là tự có mà do  chúng ta học, hoặc chúng ta được củng cố hành vi đó, tức là chúng ta có  thể học được những hành vi khác để thay thế những hành vi không mong  muốn, không thích nghi.          Thuyết hành vi được phát triển thành ba trường phái cơ bản đó là: + Thuyết hành vi cổ điển đại diện là Skinner. + Thuyết nhận thức – hành vi đại diện là E. Tolman. + Thuyết hành vi chủ quan đại diện là O. Miller. 1
  2. Nhưng trong ba trường phái của thuyết hành vi trên thì công tác xã hội áp  dụng nhiều về thuyết hành vi cổ điển và nhận thức – hành vi.          Thuyết hành vi cổ điển đặt cơ sở trên lập luận rằng việc hành vi  được hình thành từ sự ảnh hưởng của các tác nhân kích thích. Hành vi hay  chính là phản ứng của con người là nhằm thích nghi với các tác nhân kích  thích này. Thuyết hành vi cổ điển nhấn mạnh đến việc tạo ra những hành  vi mong muốn thông qua tăng cường các củng cố tích cực đối với những  hành vi này, và ngược lại.         Tác nhân kích thích và phản ứng của con người đến hành vi được  biểu diễn dưới dạng mô hình                                         S→ R→B           Trong đó: S (subject): tác nhân kích thích. R (reflexion): phản ứng của con người. B (behavior): kết quả hành vi. Khi một tác nhân kích thích( S) sẽ có rất nhiều khả năng phản ứng ( R)  của con người. Nhưng dần dần sẽ có một phản ứng R1 có xu hướng lặp  đi lặp lại do con người được học hoặc được củng cố khi kết quả hành vi  đó mang lại một điều gì đó được mong đợi.             Cách giải quyết  vấn đề theo mô hình này tập trung vào tiến trình  lập kế hoạch thay đổi hành vi thông qua việc tạo ra môi trường cho cá  nhân tăng cường hành vi tốt và hạn chế hành vi chưa tốt. Quan điểm hành vi quan tâm nhiều đến các khuôn mẫu và tìm cách để con  người lặp lại các khuôn mẫu đó bằng việc tác động vào nhận thức hay sử  dụng các củng cố. 2
  3.         Hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh như  môi trường sinh sống, những kinh nghiệm sống mà cá nhân đó trải qua.  Hành vi một người liên quan đến các yếu tố như cảm xúc, suy nghĩ lời nói  ra và các hành động. Trong đó cảm xúc và suy nghĩ thường không được  nhìn thấy rõ rang, còn lời nói và hành động thường dễ nhận biết. Hạn chế:            Quan điểm hành vi không đặt trọng tâm vào việc thân chủ thực sự  cảm nhận như thế nào về những khuôn mẫu, không thực sự quan tâm đến  những quy trình cảm xúc diễn ra trong tâm trí thân chủ.           Quan điểm hành vi chủ yếu sửa chữa những hành vi được thể hiện  ra ngoài, được coi là phần nổi của tảng băng. Tuy nhiên, những mô hình /  lý thuyết theo quan điểm này  không hướng sự can thiệp đến những gốc  rễ sâu sa của những lệch lạc hành vi của thân chủ. Có thể nói quan điểm  hành vi chỉ có thể sửa chữa những biểu hiện bề nổi của vấn đề, nhưng  không thực sự xóa bỏ được vấn đề gốc rễ xuất phát từ những di chứng từ  quá khứ để lại trong vô thức của thân chủ. II. Ứng dụng của thuyết hành vi trong Công tác xã hội.          Trong làm việc với cá nhân, thuyết hành vi hướng đến việc giúp các  cá nhân thay đổi thông qua việc tạo ra những củng cố tích cực đối với  những hành vi mong đợi và củng cố tiêu cực đối với những hành vi không  hợp lý thông qua việc tạo ra môi trường cho cá nhân tăng cường hành vi  tốt và hạn chế hành vi chưa tốt.          Trong làm việc về vấn đề hôn nhân, thuyết hành vi giúp cho nhân  viên xã hội tạo được khuôn mẫu những hành vi giúp gia đình lấy lại hạnh  phúc và loại bỏ những hành vi khiến vợ chồng mâu thuẫn nhau. 3
  4.          Thuyết hành vi giúp cho Nhân viên xã hội tiếp cận và tìm hiểu được  hành vi của thân chủ nguyên nhân là do đâu, do di truyền hay do môi  trường xã hội để từ đó có cách thức tác động đến thân chủ, giúp thân chủ  thay đổi.         Dựa trên thuyết hành vi thì các hành vi lệch chuẩn hoàn toàn có khả  năng thay đổi. Thuyết hành vi cho thấy được môi trường của họ sống, hành vi con người  được hình thành thông qua quá trình học hỏi và phát triển vì vậy có thể  thay đổi các hành vi lệch chuẩn thông qua học tập, thay đổi môi trường  của đối tượng.           Phương pháp trị liệu hành vi trong Công tác xã hội có mục đích làm  cho thân chủ cải thiện được các chức năng cần có trong sinh hoạt hàng  ngày, làm tăng các hành vi mong muốn, đồng thời giảm thiểu các hành vi  không cần thiết.          Thuyết hành vi đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tâm  lý trị liệu / tham vấn. Quá trình quan sát hành vi của thân chủ sẽ giúp cho  Nhân viên xã hội làm rõ vấn đề và hoàn cảnh môi trường sống của thân  chủ, giúp nhân viên xã hội xác định được các hành vi cốt lõi để từ đó tạo  điều kiện giúp Nhân viên xã hội đưa ra các phương pháp hỗ trợ, kỹ thuật  hỗ trợ thích hợp.           Giúp cho quá trình phục hồi hành vi và nhân cách cho đối tượng ( đối  tượng là người nghiện, người mại dâm,…).          Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội,  công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường  4
  5. của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của  nghề.           Nghề Công tác xã hội vận dụng các lý thuyết về phát triển con  người và hành vi và về các hệ thống xã hội để phân tích các tình huống  phức tạp và tạo thuận  lợi cho sự thay đổi ở cấp cá nhân, tổ chức, xã hội. III. Ví dụ một ca :         Em Nguyễn. V. H sinh ra và lớn lên trong một gia đình bố mẹ làm  nghề buôn bán, quanh năm bận rộn với cuộc sống làm ăn. Do không có  nhiều thời gian quan tâm đến con nên bố mẹ H thường phó mặc việc sinh  hoạt hàng ngày của em cho người giúp việc. Hiện nay H đang học lớp  6A1 trường THCS Cát Linh ­ Hà Nội, do không được sự quan tâm từ gia  đình nên H thường chơi với những đứa trẻ hư hay tụ tập quanh khu vực  nhà em ở, gần đây bố mẹ H nhận thấy H càng ngày càng ít nói, lầm lì hơn  trước và rất hay nói hỗn với bố mẹ vì em cho rằng bố mẹ chỉ mải kiếm  tiền mà không hề yêu thương em. Đặc biệt mấy buổi học gần đây H  thường nghỉ học và còn gây ra những vụ đánh nhau với những bạn bằng  tuổi ở gần trường học. Giáo viên chủ nhiệm của H đã đến gặp gia đình.         Bố mẹ H  đã tìm đến nhân viên xã hội nhờ sự giúp đỡ. 5

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản