intTypePromotion=3

Tiểu luận: Đầu tư nước ngoài gián tiếp tại Việt Nam

Chia sẻ: Sdgvfcxg Sdgvfcxg | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:42

0
88
lượt xem
22
download

Tiểu luận: Đầu tư nước ngoài gián tiếp tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài Đầu tư nước ngoài gián tiếp tại Việt Nam trình bày sơ lược về đầu tư quốc tế gián tiếp, đặc trưng cơ bản của đầu tư quốc tế gián tiếp, tác động hai mặt của đầu tư quốc tế gián tiếp đối với việt nam. Các quy chế đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam, thực trạng hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam, nâng cao hiệu quả đầu tư gián tiếp tại Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Đầu tư nước ngoài gián tiếp tại Việt Nam

  1. Tiểu luận ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM Page 1 of 42
  2. MỤC LỤC --o0o--- PHẦN 1: SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP 1. Khái niệm ........................................................................................................................2 2. Đặc trưng cơ bản của ĐTQTGT...................................................................................2 3. Tác động hai mặt của ĐTQTGT đối với Việt Nam ...................................................4 4. Sự cần thiết thu hút FPI .................................................................................................8 5. So sánh FDI và FPI ........................................................................................................9 PHẦN 2: CÁC QUY CHẾ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VN 1. Quy chế tổ chức và hoạt động của CT CK ...............................................................13 2. Quy chế tổ chức và hoạt động của QĐT và CTQL QĐT .......................................17 3. Quy chế về nhà ĐTNN được phép mua cổ phiếu của DN VN...............................20 PHẦN 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VN 1. Các giai đoạn thu hút FDI .........................................................................................24 2. Quỹ đầu tư.....................................................................................................................25 3. Công ty chứng khoán ..................................................................................................29 4. Nhà đầu tư nhỏ ............................................................................................................36 PHẦN 4: NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP TẠI VN 1. Các rào cản ....................................................................................................................37 2. Các nhóm giải pháp......................................................................................................38 Kết luận ..............................................................................................................................41 Page 2 of 42
  3. Phần 1: NHỮNG HIỂU B IẾT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM --o0o--- 1. Khái niệm: Định nghĩa của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment - FPI) là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác TTTC trong nước hoặc nước ngoài. Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006 đã xác định: "Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư". Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản đầu tư gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thông qua 2 hình thức chủ yếu sau: - Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của Chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính (TTTC). - Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên TTTC. 2. Đặc trưng cơ bản của ĐTQTGT: - Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán. Page 3 of 42
  4. - Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong FDI. ĐTGTNN là đầu tư tài chính thuần tuý trên TTTC. Trên thực tế, mặc dù ĐTGTNN là dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu tư trực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp đồng hợp tác kinh doanh...), song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu do nhà đầu tư nắm giữ là thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và 30% theo tiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) thì là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt ngưỡng này thì lại được xếp vào đầu tư trực tiếp và lúc này, nhà đầu tư có thể dùng quyền bỏ phiếu của mình để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp... Cũng như FDI, động thái dòng vốn ĐTGTNN chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hoà bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; mức độ tự do hoá và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư v.v... Nhưng khác với FDI, vốn ĐTGTNN chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ phía các nhân tố, như sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán (TTCK), chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên TTTC; sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước hết là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán; Đặc biệt, dòng vốn Page 4 of 42
  5. ĐTGTNN sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hoá các DNNN, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỉ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó... 3. Tác động hai mặt của đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với Việt Nam: Cũng như dòng vốn FDI, dòng vốn ĐTGTNN đã, đang và sẽ có tác động hai mặt đến đời sống kinh tế nước ta. Những tác động tích cực: • Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư trực tiế p của xã hội. Dòng vốn ĐTGTNN khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng số dòng vốn này. Hơn nữa, vốn ĐTGTNN gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ "nhìn gương" các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, kết quả là tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên. Hơn nữa, khi dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng, thì đó sẽ là một sự bảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông qua các quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước. • Thứ hai, góp phần tích cực vào phát triển TTTC nói riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường vốn ĐTGTNN sẽ làm cho TTTC (đặc biệt là TTCK) Việt Nam trở nên đồng bộ, cân đối và sôi động hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơn điệu, kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua. Hơn nữa, điều kiện và như là kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng vốn ĐTGTNN này là sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính - Page 5 of 42
  6. chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị trường; Đồng thời còn kéo theo sự gia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên TTCK... Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể TTTC nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói chung trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam. • Thứ ba, góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân. Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả bề rộng lẫn bề sâu sẽ mang lại những cơ hội mới và sự đa dạng hoá trong lựa chọn các phương thức đầu tư cho các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài và trong nước. Đông đảo các nhà đầu tư nước ngoài và cả trong nước, từ người dân, các doanh nhân đến các tổ chức và pháp nhân đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp sẽ có thêm điều kiện lựa chọn sử dụng vốn của mình để đầu tư dưới các hình thức trực tiếp tự mình hay thông qua các định chế tài chính trung gian để mua - bán các cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán có giá khác của Việt Nam trên TTTC trong nước và nước ngoài. Việc đầu tư này sẽ cho phép họ thu nhận được lợi nhuận từ sự chênh lệch giá cả khi mua - bán chứng khoán, cũng như từ lãi s uất và cổ tức các chứng khoán mà họ sở hữu theo thoả thuận hoặc thực tế kết quả kinh doanh của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cải thiện thu nhập, mức sống của đông đảo các nhà đầu tư là người dân, tuỳ theo lượng vốn và kỹ năng đầu tư chứng khoán mà họ có. Hơn nữa, thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp này, các nhà đầu tư trong nước và người dân sẽ được dịp "cọ xát", rèn luyện và bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, bản lĩnh đầu tư, nâng cao trình độ bản thân nói riêng, chất lượng nguồn nhân lực nói chung, phù hợp yêu cầu và điều kiện kinh doanh thị trường, hiện đại. • Thứ tư, Góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Page 6 of 42
  7. Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch hoá, cập nhật hoá thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ ưa lựa chọn đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến TTTC, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào TTTC, nhà nước sẽ đa dạng hoá các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, TTTC nói riêng sẽ được cải thiện hơn. Một số tác động tiêu cực: • Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy c ảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước ngoài Khác với FDI là nguồn vóon đầu tư lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (công đoàn nhà máy, mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó chuyển đối hoặc thanh khoản, vốn ĐTGTNN được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên TTTC, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước, hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tuý theo kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình. Đặc trưng nổi bật này cũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuếch đại độ nhạy cảm và chấn động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn ĐTGTNN đối với nền kinh tế của nước tiếp Page 7 of 42
  8. nhận đầu tư, đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốn đầu tư gián tiếp nói trên diễn ra theo kiểu "tháo chạy" đồng loạt trên phạm vị rộng và số lượng... Cần nhấn mạnh rằng, sự nhạy cảm và bất ổn kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, cũng có thể hoàn toàn do các nguyên nhân bên ngoài nước tiếp nhận đầu tư do phản ứng dây chuyền, làn sóng đô-mi-nô của các nhà đầu tư quốc tế như đã từng diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Trong tình huống như vậy, một sợ đổ vỡ, một cuộc khủng hoảng đầu tư - tài chính - tiền tệ, thậm chí là khủng hoảng kinh tế hết sức tệ hại và bất khả kháng là hoàn toàn có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư, nếu không có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả. • Thứ hai, Làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán. Sự gia tăng tỷ lệ nắm giữ chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập, được biểu quyết của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đến một mức "vượt ngưỡng" nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạt động sản xuất - kinh doanh và các chủ quyền khác của doanh nghiệp, tổ chức phát hành chứng khoán, thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp theo phương hướng, kế hoạch, mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là, tính chất gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển hoá thành tính trực tiếp. Nhà đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hoá thành nhà đầu tư trực tiếp. Thậm chí, về lôgíc, quá trình "diễn biến hoà bình" này đạt tới quy mô và mức độ nào đó còn có thể làm chuyển đổi về chất quyền sở hữu và tính chất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp và quốc gia. • Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế Đầu tư gián tiếp quốc tế không chỉ làm gia tăng các nguy cơ và tác hại của các hoạt động đầu cơ, lũng đoạn kinh tế vi phạm các quy định pháp lý của nước tiếp nhận đầu tư, mà còn là mảnh đất mầu mỡ sinh sôi và phát triển các loại tội phạm kinh tế có yếu tố nước ngoài, thậm chí xuyên quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt Page 8 of 42
  9. động tiếp vốn cho các vụ kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố, cùng các loại tội phạm và các đe doạ an ninh phi truyền thống khác. Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của dòng vốn ĐTGTNN kể trên, nhất là khi chúng diễn ra một cách "có tổ chức" của giới đầu cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn thương của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay; Thậm chí trong một số trường hợp, chúng còn làm mất uy tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các chính phủ... Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn ĐTGTNN vào Việt Nam còn đặt ra yêu cầu Chính phủ và các cơ quan TW phải chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc sử dụng bảo lãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công cụ khác của các định chế tài chính - tiền tệ quốc gia và địa phương... những điều cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn ĐTGTNN. 4. Sự cần thiết thu hút FPI: Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FPI lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệ p, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế. Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn FPI mang một ý nghĩa rất quan trọng. Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư rất lớn (khoảng 140 tỷ USD) cho giai đoạn (2006-2010) để xây dựng, từng bước hoàn Page 9 of 42
  10. thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Các doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO. Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK). Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp. Lợi ích của hội nhập không những được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa, dòng người mà còn có cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu tư FPI sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động “ phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý…). Hơn nữa, FPI có thể giúp vốn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, do vậy FPI rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước đang thiếu vốn. Tuy nhiên, dòng vốn FPI cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn từ nước ngoài khác. Do vậy, thúc đẩy thu hút FPI ổn định, tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực quản trị của nhà doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hậu WTO là vấn đề cần được quan tâm. 5. So sánh FDI và FPI: FPI FDI 1. KN: Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái Direct Investment) là hình thức đầu tư dài phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua hạn của cá nhân hay công ty nước này vào quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản Page 10 of 42
  11. định chế tài chính trung gian khác mà nhà xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở hoạt động đầu tư. sản xuất kinh doanh này. 2. Cơ chế quản lý vốn: Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản Chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp lý hoạt động đầu tư. tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư 3. Đặc điểm: a. FPI có đặc điểm là di chuyển (vào và a. FDI ko chỉ có sự lưu chuyển vốn mà còn ra) rất nhanh nên nó sẽ khiến cho hệ thống thường đi kèm theo công nghệ, kiến thức tài chính trong nước dễ bị tổn thương và kinh doanh và mạng lưới phân phối rộng rơi vào khủng hoảng tài chính khi gặp khắp trên toàn cầu. Do vậy FDI là h ình phải các cú sốc bên trong cũng như bên thức có ưu thế đối với các nước đang phát ngoài nền kinh tế. triển. FDI được thực hiện theo 2 kênh chủ yếu:  Đầu tư mới  Mua lại và sáp nhập b. FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các nhân tố: * Sự phát triển và độ mở cửa của TTCK, KHÔNG chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu … lưu thông trên TTTC. * Sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian. * Sự phát triển và chất lượng của hệ thống Page 11 of 42
  12. thông tin và dịch vụ chứng khoán. * FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hoá các DNNN, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỉ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó... Page 12 of 42
  13. Phần 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM ---o0o--- Hoạt động đầu tư quốc tế gián tiếp tại Việt Nam chịu chi phối của Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/06/ 2006. Luật này quy định về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán gồm 11 chương và 136 điều. Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật có liên quan: Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/12/2003 của chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 cảu thủ tướng chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 5 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 15/05/2007 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính về quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ Quyết định 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/09/2004 về Quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ. Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán Quyết định 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 của chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam Quyết định 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Page 13 of 42
  14. Quyết định 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/03/2003 về quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Thông tư 73/2003/TT-BTC ngày 31/07/2003 của Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp VN. 1. Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán: Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán gồm 7 chương và 46 điều: Chương 1: Những quy định chung (điều 1-2) Chương 2: Giấy phép thành lập và hoạt động (3-19) Chương 3: Tổ chức công ty chứng khoán (10-23) Chương 4: Quản lý an toàn tài chính (24-29) Chương 5: Hoạt động của công ty chứng khoán (30-42) Chương 6: Chế độ báo cáo, lưu trữ, công bố thông tin (43-45) Chương 7: Tổ chức thực hiện (46) Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Điều kiện để được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán: Quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu một năm, trong đó diện tích làm sàn giao dịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150 m2 . Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn giao dịch phục vụ khách hàng; thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán; trang thông tin điện tử, bảng tin để công bố thông tin cho khách hàng; hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá trị khác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán. Page 14 of 42
  15. Đáp ứng đủ số vốn pháp định theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ trong đó môi giới chứng khoán là 25 tỷ VNĐ, tự doanh chứng khoán là 100 tỷ VNĐ, bảo lãnh phát hành chứng khoán là 165 tỷ VNĐ và tư vấn đầu tư chứng khoán là 10 tỷ VNĐ. Cá nhân góp vốn từ 5% trở lên vốn điều lệ của công ty chứng khoán phải chứng minh tài sản bằng tiền, chứng khoán hoặc các tài sản khác. Đối với tài s ản bằng tiền, phải có xác nhận của ngân hàng. Đối với tài sản bằng chứng khoán, phải có xác nhận của công ty chứng khoán hoặc của tổ chức phát hành về số chứng khoán đó. Đối với tài s ản khác, phải có tài liệu chứng minh quyền sở hữu và tài sản đó phải được định giá bởi tổ chức định giá hợp pháp. Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều lệ thực góp ban đầu của công ty chứng khoán. Phần vốn góp ban đầu của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập không được chuyển nhượng trong vòng ba (03) năm kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Giám đốc hoặc tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Người hành nghề chứng khoán phải tham gia các khoá tập huấn về văn bản pháp luật, hệ thống giao dịch, loại chứng khoán mới do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức. Thủ tục cấp Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán: Trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét chấp thuận nguyên tắc việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán. Trong vòng sáu (06) tháng kể từ ngày được chấp thuận nguyên tắc, tổ chức xin cấp phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán phải hoàn tất việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và phong toả vốn pháp định. Tổ chức xin cấp phép Page 15 of 42
  16. được trích phần vốn góp của các cổ đông hoặc của các thành viên hoặc vốn góp của chủ sở hữu để đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước kiểm tra cơ sở vật chất tại trụ sở công ty chứng khoán trước khi chính thức cấp Giấy phép thành lập và hoạt động. Phần vốn góp còn lại của các cổ đông hoặc của thành viên góp vốn hoặc của chủ sở hữu phải được gửi vào một tài khoản phong toả tại ngân hàng do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ định và phải có xác nhận của ngân hàng này về số vốn trên tài khoản phong toả. Số vốn này chỉ được giải toả sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chính thức cấp Giấy phép thành lập và hoạt động. Trong thời hạn bảy (07) ngày, kể từ ngày nhận được xác nhận phong tỏa vốn của ngân hàng và biên bản kiểm tra cơ sở vật chất trụ sở công ty, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán phải chính thức hoạt động trong thời hạn mười hai (12) tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động. Trong thời hạn bảy (07) ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán phải công bố Giấy phép thành lập và hoạt động trên trang thông tin điện tử của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và một tờ báo điện tử hoặc báo viết đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong ba (03) số liên tiếp. Một số quy định về đình chỉ, thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động: Lỗ gộp đạt mức 50% vốn điều lệ hoặc không còn đáp ứng đủ điều kiện về vốn hoạt động kinh doanh chứng khoán. Thời hạn đình chỉ hoạt động tối đa sáu mươi (60) ngày. Sau khi bị đình chỉ hoạt động mà không khắc phục được tình trạng trong thời hạn 06 tháng thì bị thu hồi giấy phép hoạt động, hoặc không tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cũng sẽ bị thu hồi giấy phép. Nguyên tắc tổ chức trong công ty chứng khoán: Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phải đảm bảo tách biệt về văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu, báo cáo giữa các bộ phận nghiệp vụ có xung đột giữa lợi Page 16 of 42
  17. ích của công ty chứng khoán và của khách hàng hoặc giữa lợi ích của các khách hàng với nhau. Công ty chứng khoán phải thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ độc lập và chuyên trách. Hệ thống kiểm soát nội bộ phải được thiết lập tại trụ sở chính, chi nhánh của công ty chứng khoán. Tối thiểu mỗi năm một (01) lần, công ty chứng khoán phải đánh giá hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Báo cáo đánh giá hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ phải gửi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cùng với báo cáo tài chính năm. Nguyên tắc quản lý an toàn tài chính: - Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được mua lại không quá 10% số cổ phần phổ thông đã bán làm cổ phiếu quỹ. - Công ty chứng khoán phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng vốn nợ điều chỉnh tối thiểu bằng 5%. - Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán không được vượt quá sáu lần. Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắn hạn. - Công ty chứng khoán được mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình theo nguyên tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không được vượt quá 50% vốn điều lệ của công ty CK. Hạn chế đầu tư của công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán không được: đầu tư vào cổ phiếu hoặc phần vốn góp của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán, cùng với người có liên quan đầu tư từ 5% trở lên vốn điều lệ của công ty chứng khoán khác, đầu tư từ 20% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết, đầu tư từ 15% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết, đầu tư hoặc góp vốn từ 15% trở lên tổng số vốn góp của một công ty trách nhiệm hữu hạn. Gần đây, UBCK vừa công bố Quyết định 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán với các điều kiện khắc khe hơn để củng cố và lành mạnh hóa tình hình hoạt động của các CTCK hiện Page 17 of 42
  18. nay. Theo đó, cá nhân và cổ đông sáng lập chỉ được phép sử dụng vốn của mình để góp vốn, không được sử dụng vốn vay, vốn ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân khác. Điều kiện đối với pháp nhân khắc khe hơn, với yêu cầu có thời gian hoạt động tối thiểu là 5 năm. Công ty chứng khoán được thành lập theo hình thức công ty cổ phần hoặc công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên phải có tối thiểu 2 cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức, trong đó phải có ít nhất 1 tổ chức là NHTM, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm. Tỷ lệ sở hữu cổ phần, vốn góp của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức tối thiểu 65% vốn điều lệ, trong đó tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là NHTM, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm tối thiểu phải đạt 30% vốn điều lệ của CTCK. Đối với CTCK thành lập theo hình thức công ty TNHH một thành viên chủ sở hữu phải là NHTM, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm và đảm bảo giữ tối thiểu 35% vốn điều lệ CTCK. 2. Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư và quỹ đầu tư: Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007, mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ, công ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam tối thiểu là 25 tỷ đồng Việt Nam. Theo Quyết định 73/2004/QĐ-BTC về Quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ gồm 8 chương và 60 điều: Chương 1: Quy định chung (điều 1-2) Chương 2: Quỹ công chúng (3-24) Chương 3: Quỹ thành viên (25-30) Chương 4: Công ty quản lý quỹ (31-49) Chương 5: Ngân hàng giám sát (50-54) Chương 6: Chế độ báo cáo và quản lý hồ sơ (55-57) Page 18 of 42
  19. Chương 7: Thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm (58-59) Chương 8: Tổ chức thực hiện (60) Quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm 2 hình thức quỹ công chúng và quỹ thành viên: Quỹ công chúng là Quỹ có chứng chỉ quỹ được phát hành ra công chúng Tổng giá trị chứng chỉ quỹ xin phép phát hành đạt ít nhất 5 tỷ đồng. Các sáng lập viên không chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mà mình sở hữu trong 02 năm kể từ ngày phát hành. Thời hạn cấp giấy phép phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng là trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày UBCK nhận được hồ sơ hợp lệ. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày UBCKNN cấp giấy phép phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng, công ty quản lý quỹ phải công bố việc phát hành trên một (01) tờ báo trung ương hoặc một (01) tờ báo địa phương nơi công ty quản lý quỹ đặt trụ sở chính với các nội dung theo quy định. Công ty quản lý quỹ phải phân phối chứng chỉ quỹ một cách công bằng và phải đảm bảo thời hạn đăng ký mua chứng chỉ quỹ cho người đầu tư tối thiểu là 15 ngày làm việc và phải hoàn thành đợt phân phối chứng chỉ quỹ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày giấy phép phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng có hiệu lực. Số tiền mua chứng chỉ quỹ phải được chuyển vào tài khoản phong toả mở tại ngân hàng giám sát cho đến khi hoàn tất đợt phát hành. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ phiên họp Đại hội người đầu tư đầu tiên sau khi kết thúc đợt phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng, công ty quản lý quỹ gửi UBCKNN hồ sơ xin đăng ký lập Quỹ công chúng và niêm yết chứng chỉ quỹ. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, UBCKNN cấp chứng nhận đăng ký lập Quỹ công chúng và niêm yết chứng chỉ quỹ. Việc đầu tư vốn và tài sản của Quỹ công chúng phải tuân thủ các hạn chế sau: một Quỹ công chúng không được góp vốn hoặc đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính Quỹ công chúng đó hoặc của một Quỹ khác, không được đầu tư vào quá 15% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành, không được đầu tư quá 20% tổng giá trị Page 19 of 42
  20. tài sản quỹ vào chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành, không được đầu tư quá 10% tổng giá trị tài s ản quỹ vào bất động sản, không được đầu tư quá 30% tổng giá trị tài s ản Quỹ vào các công ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn nhau, vốn và tài sản của Quỹ công chúng không được dùng để cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào; không được phép vay để tài trợ cho hoạt động của Quỹ công chúng, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải các chi phí cần thiết cho Quỹ công chúng, tổng giá trị các khoản vay của Quỹ công chúng không được vượt quá 1% giá trị tài s ản ròng của Quỹ công chúng tại mọi thời điểm, thời hạn vay tối đa không được quá 30 ngày, quỹ công chúng không bị hạn chế đầu tư vào các loại trái phiếu Chính phủ. Ngoài ra, các giao dịch tài sản của Quỹ công chúng mà công ty quản lý quỹ hoặc người có liên quan của công ty quản lý quỹ có tham gia dưới mọi hình thức không được là bất động sản. Quỹ thành viên là Quỹ được lập bằng vốn góp của tối đa 49 thành viên góp vốn và không phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng. Quỹ thành viên có số vốn điều lệ tối thiểu là 5 tỷ đồng. Thành viên góp vốn phải luôn đáp ứng điều kiện: đầu tư tối thiểu 3 tỷ đồng Việt Nam, trường hợp thành viên là tổ chức; đầu tư tối thiểu 1 tỷ đồng Việt Nam, trường hợp thành viên là cá nhân. Thời hạn cấp chứng nhận đăng ký lập Quỹ thành viên là trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ tại UBCKNN. Kể từ khi được cấp chứng nhận đăng ký lập quỹ thành viên, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát phải lập và lưu giữ sổ đăng ký đăng ký sở hữu phần vốn góp của thành viên góp vốn của Quỹ thành viên và mọi thông tin liên quan đến việc chuyển nhượng vốn góp. Quỹ thành viên phải đảm bảo đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản quỹ vào chứng khoán. Công ty quản lý quỹ được cấp giấy phép thực hiện một hoặc các loại hình dịch vụ: lập và quản lý Quỹ công chúng; lập và quản lý Quỹ thành viên. Việc thành lập công ty liên Page 20 of 42

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản