intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiểu luận: Phân tích phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến đưa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Chia sẻ: Nguyên Khê | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:37

138
lượt xem
22
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận với đề tài "Phân tích phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến đưa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" có nội dung gồm 3 chương: chương 1 phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến, chương 2 xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế thời cơ và thách thức, chương 3 những giải pháp và kiến nghị.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Phân tích phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến đưa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

  1. LỜI GIỚI THIỆU Trong xu thế toàn cầu hoá quốc tế hoá hiện nay, các qu ốc gia trên th ế giới ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc lẫn nhau, có quan h ệ qua lại với nhau. Vì thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược l ại xu thế của thời đại và khó trá nh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tuy có phải trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi nước, mỗi quốc gia. Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đại hội Đảng IX đã đưa ra văn kiện về vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay đặt vấn đề xây dựng n ền kinh t ế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau nhằm phát triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến tôi viết bài ti ểu luận này với mong muốn mọi người có một cách nhìn sâu s ắc h ơn, c ặn k ẽ hơn, toàn diện hơn về những nguy cơ thách thức cũng như thời cơ khi chúng ta tham gia vào quá trình hội nhập kết h ợp v ới xây d ựng n ền kinh t ế độc lập tự chủ, và ảnh hưởng qua lại giữa việc xây dựng nền kinh t ế đ ộc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận tôi không thể trình bày tất cả các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh t ế đ ộc l ập t ự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế mà chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chúng đồng thời đưa ra những giải pháp, nh ững ki ến nghị nhằm góp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 1
  2. Lời cảm ơn Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Anh đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài tiểu luận này. Đồng cảm ơn thư viện trường Đại học Kinh tế quốc dân đã giúp tôi thu thập các tài liệu liên quan đến bài tiểu luận này. 2
  3. CHƯƠNG I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 1. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT LÀ KHOA HỌC VỀ MỐI LIÊN H Ệ PH Ổ BIẾN. 1.1. Phép biện chứng duy vật Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định bản ch ất vật chất, tính thống nhất vật chất của thế giới, mà còn kh ẳng đ ịnh các s ự v ật, hiện tượng trong thế giới luôn tồn tại trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó. Làm sáng t ỏ những vấn đề đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng. Chính vì vậy, Ph.Ănghen đã khẳng định rằng phép biện chứng là lý luận về mối liên hệ phổ biến, là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. V.I. Lênin nhấn mạnh thêm: Phép biện chứng là học thuyết sâu sắc nhất, không phiến diện về sự phát triển. 1.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật 1.2.1. Hai nguyên lý cơ bản: - Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - Nguyên lý về sự phát triển 1.2.2. Các cặp phạm trù cơ bản: - Cái riêng - cái chung - Bản chất - hiện tượng - Tất nhiên - ngẫu nhiên - Nội dung - hình thức - Nguyên nhân - kết quả - Khả năng - hiện tượng 1.2.3. Ba quy luật cơ bản: - Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi v ề ch ất và ngược lại. - Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. 3
  4. - Quy luật phủ định của phủ định. 4
  5. 2. MỘT TRONG HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Trên cơ sở kế thừa các giá trị về tư tưởng biện chứng trong kho tàng lý luận của nhân loại, đồng thời khái quát những thành tựu mới nh ất c ủa khoa học tự nhiên thế kỷ XIX (khoa học về các quá trình, về nguồn gốc, về mối liên hệ và sự phát triển) phép biện chứng duy vật đã phát hiện ra nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện t ượng trong th ế giới, coi đây là đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật. 2.1. Khái niệm: - Liên hệ: Là sự quy định lẫn nhau , tác động lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật hiện tượng của nhau. - Liên hệ phổ biến: Là những mối liên hệ tồn tại một cách phổ biến cả trong tự nhiên xã hội và tư duy. Mối liên hệ phổ biến mang tính ch ất bao quát, nó tồn tại thông qua những mối liên hệ đặc thù của sự v ật, nó phản ánh tính đa dạng và tính thống nhất của thế giới. 2.2. Nội dung nguyên lý: - Triết học Mác khẳng định mọi sự vật hiện tượng trong th ế giới đều nằm trong mối liên hệ phổ biến, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng tác động đến nhau ràng buộc quy ết đ ịnh và chuyển hoá lẫn nhau. Các mối liên hệ trong tính tổng thể của nó quy định sự tồn tại vận động, biến đổi của sự vật. Khi các mối liên h ệ thay đ ổi t ất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi sự vật. 2.3. Ý nghĩa của nguyên lý 2.3.1. Cơ sở khoa học của quan điểm toàn diện: - Trong nhận thức và hoạt động phải xem xét sự vật trong tính toàn vẹn của nhiều mối liên hệ, nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các quá trình, các giai đoạn phát triển của sự vật cả trong quá kh ứ hi ện t ại và tương lai. Có như vậy mới nắm được thực chất của sự vật. Khi tuân thủ nguyên tắc này chủ thể tránh được sai lầm cực đoan phiến diện một chiều. 5
  6. - Không được đồng nhất và san bằng vai trò của các mối liên hệ của các mặt sự vật. Phải phản ánh đúng vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ. Phải rút ra được những mối liên hệ bản chất nhất chủ y ếu c ủa s ự v ật khi tuân thủ nguyên tắc này con người sẽ tránh được sai lầm nguỵ biện và chiết trung. 2.3.2. Cơ sở khoa học của quan điểm lịch sử cụ thể - Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại vận động phát triển bao giờ cũng diễn ra trong những hoàn cảnh cụ th ể, trong không gian và thời gian xác định. - Điều kiện: Không gian và thời gian có ảnh hưởng tới đặc điểm tính chất sự vật. Cùng là một sự vật nhưng ở trong những điều kiện hoàn c ảnh khác nhau sẽ có những tính chất khác nhau. Yêu cầu: Khi nghiên cứu xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, trong không gian thời gian xác định mà nó đang tồn t ại vận động và phát triển đồng thời phải phân tích vạch ra ảnh hưởng của đi ều kiện hoàn cảnh của môi trường đối với sự tồn tại của s ự v ật, đ ối v ới tính chất của sự vật và đối với xu hướng vận động và phát triển của nó. - Khi vận dụng một lý luận nào đó vào trong thực tiễn cần phải tính đến điều kiện cụ thể của nơi vận dụng tránh bệnh giáo điều dập khuôn, máy móc, chung chung. 3. TẠI SAO PHẢI VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PH Ổ BIẾN VÀO PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG N ỀN KINH T Ế Đ ỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Sau khi nghiên cứu kỹ phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biên ta dễ ràng nhận ra rằng sự vật hiện tượng luôn có mối liên h ệ m ật thiết với nhau chuyển hoá lẫn nhau hay nói cách khác mọi sự vật hiện tượng tồn tại phải có mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác chứ không thể tồn tại một cách tách biệt độc lập. Sở dĩ các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau là vì chúng là biểu hiện của vật chất vận động. Có nguồn gốc chung từ vật động mà khi sự vận động có nghĩa là có mối liên 6
  7. hệ và các mối liên hệ của sự vật là cái khát quan vốn có của s ự v ật. Chính vì vậy khi xem xét việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta không thể tách rời khỏi việc hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại. Hơn nữa theo quan điểm toàn diện khi xem xét một sự việc hiện tượng mà cụ thể ở đây việc xây dựng độc lập tự chủ chúng ta phải xem xét nó trong tính toàn vẹn của nhiều mối liên hệ khác nhau, nhiều mặt khác nhau mà c ụ thể đây là ảnh hưởng của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại. Có như vậy chúng ta mới nắm được thực chất của sự vật mới tránh được những sai lầm cực đoan phiến diện một chiều. Đặc biệt đây lại là những vấn đề rất cấp bách đặt ra đối với chúng ta khi tham gia quá trình toàn cầu hoá, quốc t ế hoá. Ch ỉ có th ể dựa trên nguyên lý mối liên hệ phổ biến mới có th ể giúp chúng ta nhìn sâu hơn, hiểu sâu hơn về vấn đề mà mình đang nghiên cứu. Hơn nữa cũng theo quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét một sự vật hiện tượng nào đó ta ph ải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể không gian cụ thể. Vấn đề chúng ta đang nghiên cứu ở đây cần được đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá hi ện nay, tình hình kinh tế nước ta hiện nay để thấy rõ h ơn được ảnh h ưởng c ủa tình hình thế giới, tình hình trong khu vực, tình hình trong nước đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với hội nh ập kinh t ế quốc t ế. Chính vì vậy dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến sẽ giúp chúng ta có một cách nhìn cặn kẽ hơn, tổng quát hơn. Chẳng hạn liệu hội nhập kinh tế quốc tế có phải là một xu thế tất yếu không, hội nhập có phải là hoà tan hay không, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ như thế nào cho phù hợp với tình hình hiện nay, phù hợp với quá trình h ội nhập kinh t ế qu ốc t ế… Tất cả những vấn đề đó chỉ có thể giải đáp khi chúng ta hiểu rõ hơn v ề vấn đề chúng ta đang nghiên cứu dựa trên nguyên lý về mối liên h ệ ph ổ biến. Từ đó ta có thể thấy rõ hơn tâm quan trọng của phép bi ện ch ứng m ối liên hệ phổ biến. 7
  8. Ở chương II, chương III chúng ta sẽ tiếp tục tìm hi ểu rõ h ơn, c ặn k ẽ hơn về mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến. 8
  9. CHƯƠNG II XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC 1. XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện “toàn cầu hóa” nền kinh tế, mở cửa hội nhập mà lại đặt vấn đề xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là thiếu nhạy bén, không thức thời, thậm chí là bảo thủ, tư duy kiểu cũ. Th ế giới bây giờ là một thị trường thống nhất, cần thứ gì thì mua, thiếu tiền thì đi vay, sao lại chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ (?!) Nói như vậy mới nghe qua thì thấy có vẻ có lý, nh ưng nếu suy ng ẫm kỹ thì thấy không có cơ sở khoa học, vì nó quá ư giản đơn và phiến diện. Chúng ta biết rằng, độc lập tự chủ là một xu thế phát triển của th ế giới. Trong điều kiện “toàn cầu hóa”, liên doanh, liên kết rất đa dạng và ph ức tạp như hiện nay lại càng phải giữ vững tính độc lập tự chủ. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị độc lập tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo đảm độc lập tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát tri ển bền vững và có hiệu quả cho chính ngay nền kinh tế, cho vi ệc mở c ửa, h ội nhập kinh tế quốc tế. Khi đã có độc lập tự ch ủ về chính trị thì n ội dung c ơ bản của độc lập tự chủ của một quốc gia là có xây dựng được n ền kinh t ế độc lập tự chủ hay không. Đây là kinh nghiệm của nước ta và cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Vả chăng, nước ta phát triển kinh tế để đi lên chủ nghĩa xã hội, bối cảnh quốc t ế có nhi ều diễn biến phức tạp, các lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội thường xuyên tìm cách ngăn cản và chống phá sự nghiệp xây dựng chế độ xã h ội chủ nghĩa ở nước ta. Nếu không xây dựng một nền kinh tế độc l ập tự ch ủ thì dễ bị lệ thuộc, bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh t ế đ ể lôi kéo, hoặc khống chế, ép buộc chúng ta thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, có xây dựng được n ền 9
  10. kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo được cơ sở kinh tế, cơ sở v ật ch ất - k ỹ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ. Độc lập tự chủ về kinh t ế là nền tảng vật chất để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ bền vững về chính trị. Không thể có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về kinh t ế. Độc lập tự chủ về kinh tế được đặt trong mối quan hệ biện chứng với độc lập tự chủ về các mặt khác sẽ tạo ra sự độc lập tự chủ và sức m ạnh tổng hợp của một quốc gia. 1.1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ ? Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, ph ụ thuộc vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ ch ức kinh t ế nào đó v ề đường lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ... để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc. Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và chống phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có kh ả năng đứng v ững, không bị sụp đổ, không bị rối loạn. Bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm vững chắc định hướng xã hội chủ nghĩa và giá trị truy ền thống, b ản s ắc văn hóa dân tộc trong công cuộc phát triển kinh tế, tiến hành công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa đất nước. Không phải chờ đến khi có trình độ phát triển cao mới đặt vấn đề giữ vững độc lập tự chủ, mà ngay từ đầu, ngay bây giờ đã ph ải bảo đảm yêu cầu cơ bản về độc lập tự ch ủ, trước hết là v ề đ ường l ối chính trị, các nguyên tắc cơ bản về phát triển kinh tế. Đương nhiên, xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là một quá trình lâu dài, đi từ thấp đến cao, ngày càng hoàn chỉnh, ngày càng bền vững. Trong thời đại ngày nay, nói độc lập tự chủ về kinh tế không ai hiểu đó là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối quan h ệ biện chứng với mở cửa, hội nhập, chủ động tham gia sự giao lưu, hợp tác 10
  11. và cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh của quốc gia, từng bước xây dựng một cơ cấu sản xuất đáp ứng được cơ bản nhu cầu thiết yếu về đời sống của nhân dân và có khả năng trang bị lại ở mức cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh. 1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay Trước hết phải kể đến mức tăng trởng cao. Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) trong thời kỳ 1991-2000 đã tăng bình quân hàng năm là 7,4%, theo đó tổng giá trị GDP đ ạt g ấp đôi năm 1990, GDP theo đầu ngời tăng 1,8 lần. Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Giá trị sản lợng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,6%. Trong đó nông nghiệp tăng 5,4%, thuỷ sản tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1%. Nổi bật nhất là sản 1ợng lơng thực tăng bình quân mỗi năm 1,1 triệu tấn. Sản lợng lơng thực năm 2000 đạt 34 triệu tấn, đ a mức lơng thực bình quân đầu ngời từ 294,9 kg năm 1990 lên trên 436 kg năm 2000. Việt Nam từ nớc nhập khẩu lơng thực hàng năm, trở thành nớc xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. Sản lợng của một số cây công nghiệp trong thời kỳ 1999-2000 đã tăng khá cao: cà phê tăng 4,7 lần, cao su 4,5 lần, chè tăng 2 lần, mía tăng 3 l ần, bông tăng 9,7 lần. Sản lợng thuỷ sản tăng bình quân trong 10 năm là 8,85%: Giá trị sản l- ợng công nghiệp tăng bình quân trong 10 năm qua là khoảng 12,8 – 13%/năm Công nghiệp chế biến đã có tốc dộ tăng tr ởng khá và đã chiếm tới 60,6% giá trị toàn ngành công nghiệp năm 1999. Dầu khí có tốc độ tăng tr ởng cao nhất trong toàn ngành công nghiệp. Sản lợng dầu thô năm 2000 đã tăng gấp 6 lần so với năm 1990. Sản lợng điện phát ra năm 2000 so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, sản lợng thép cán gấp 16 lần, xi măng gấp 5,3 lần, phân hoá học 4,2 lần, 11
  12. giầy dép da 14,9 lần, giầy vải 4,9 lần, bột giặt 4,6 lần, đ ờng 3,6 lần, bia 7,3 lần... Giá trị sản phẩm công nghiệp xuất khẩu tăng trung bình hàng năm là 20%. Các ngành dịch vụ đã tăng trởng nổi bật trong các ngành thơng mại, du lịch, bu chính viễn thông. Giá trị hàng hóa bán ra trên thị trờng trong nớc năm 1999 đã gấp 11,3 lần năm 1990. Khách du lịch quốc tế từ 1992 đến 1997 đã tăng bình quân hàng năm là 26,5%. Mật độ điện thoại năm 1999 đã tăng 13,8 so với năm 1991 và là n ớc có tốc độ phát triển viễn thông đứng thứ hai thế giới. Vận chuyển hàng hoá tăng bình quân trong 10 năm qua là 9,2%, vận chuyển hành khách - 14,25%. Hoạt động xuất khẩu cũng có mức tăng trởng nổi bật. Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm qua đã tăng bình quân hàng năm 18,2%, tăng gấp 5,3 lần so với năm 1990. Tốc độ tăng tr ởng giá trị nhập khẩu bình quân hàng năm 10 năm qua là 17,5%. Tổng giá trị xuất nh ập kh ẩu năm 2000 đã t - ơng đơng tổng GDP. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đã tăng rất đáng kể. Tính đến quý I năm 1999 đã có 2624 dự án đ ợc cấp giấy phép đầu t với tổng vốn đăng ký là 35,8 tỷ USD, nếu tính cả vốn bổ sung là 40,3 tỷ USD. Trong 10 năm qua, vốn FDI đã chiếm khoảng 28% tổng vốn đầu t toàn xã hội. Thứ hai, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực. Tỷ trọng nông, lâm, ng nghiệp trong GDP đã giảm từ 38,7% năm 1990 xuống còn 25,4% năm 1999; công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 22,6% lên 34,9%; dịch vụ từ 35,7 lên 40,1%. Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đợc dịch chuyển theo hớng tăng tỷ trọng một số cây công nghiệp và ăn quả có tiềm năng xuất khẩu và sức cạnh tranh quốc tế nh cà phê, điều, chè, tiêu, rau quả, cao su..., tốc độ phát triển chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt. 12
  13. Trong công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã đợc xây đựng, nhiều ngành công nghiệp mới đã đ ợc hình thành nh ô tô, xe gắn máy, điện tử... Các ngành dịch vụ phát triển, đặc biệt là ngành bu chính viễn thông, du lịch, thơng mại... đã nâng đợc tỷ trọng lên trên 40% GDP. Cơ cấu vùng kinh tế đã thay đòi theo hớng tập trung phát triển ba vùng trọng điểm - Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, Hà Nội - H ải Phòng - Qu ảng Ninh, Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đồng thời đã dành sự quan tâm cần thi ết t ới nh ững miền núi, vùng xa, vùng sâu, những xã nghèo. Cơ cấu vốn đầu t phát triển đã chuyển từ u tiên phát triển công nghiệp nặng sang u tiên nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng, các ngành xuất khẩu, các lĩnh vực giáo dục, y t ế, xã hội. Trong thời kỳ 1991-2000, vốn đầu t cho nông nghiệp và nông thôn tăng bình quân hàng năm là 22,9%, vốn đầu t phát triển cho kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, thông tin liên lạc đã tăng bình quân hàng năm là 24,5%, vốn đầu t phát triển cho các ngành công nghiệp tăng bình quân hàng lăm là 27,1%, vốn đầu t cho lĩnh vực khoa học công nghệ giáo dục, đào tạo, y tế và văn hoá đã tăng bình quân hàng năm là 23,6%. Thứ ba, các vấn đề xã hội bức xúc đã có những chuyển biến tích cực. Mức sống của dân c cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã đ ợc cải thiện một bớc rõ rệt thể hiện trên các mặt: GDP theo đầu ngời: trong 10 năm qua đã tăng 1,8 lần thu nhập bình quân mỗi ngời 1 tháng đã tăng 3,2 lần. Số học sinh đi học các cấp học khác nhau từ tiểu h ọc đ ến đ ại h ọc đã tăng khoảng 2,3 - 4,3 lần trong 10 năm qua; chỉ số HDI đã đ ợc nâng lên từ thứ 122/174 nớc năm 1995 lên 110/174 nớc năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số năm 1988 là 2,28% đã giảm xuống còn 1,53% năm 2000; năm 1998 Việt Nam đã đợc Liên hợp quốc tặng giải thởng về công tác dân số. 13
  14. Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Năm 1990 tỷ lệ trẻ dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng là hơn 50% tỷ lệ chết của trẻ em dới 1 tuổi là 46%, dới 5 tuổi là 69,5%, tuổi thọ trung bình là 64, chiều cao trung bình của thanh niên là 1,6m. Đến năm 1998 các ch ỉ tiêu t ơng ứng trên đây đã đợc cải thiện rõ rệt: 38,9%; 39%, 48,5%, 68 tuổi; 1,62m. Số hộ đói nghèo đã giảm rõ rệt từ 30,0% năm 1992 xuống còn 10,6% năm 2000. Đến cuối năm 1998 cả nớc đã có 15 tỉnh thành phố có tỷ lệ hộ đói nghèo dới 10%; 21 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo khoảng 11 - 19%. 1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế đ ộc l ập tự chủ Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa h ọc kỹ thu ật nhiều chục năm so với các nước công nghiệp phát triển. Sản xuất, xu ất khẩu của ta chủ yếu gồm các nông khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứ cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật tư phụ tùng, nông nghiệp lệ thuộc vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu, nông cơ; công nghiệp lệ thuộc vào máy vật tư, linh kiện rời. Các nông khoáng sản thô nh ư gạo, cao su, cà phê, hàng thuỷ sản, than đá - dầu thô, và các mặt hàng th ứ c ấp khác: hàng may mặc và giầy dép là những mặt hàng xuất kh ẩu ch ủ y ếu Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh rất mạnh của các nước kém mở mang khác, các hạn định quota nhập khẩu của nước ngoài, giá cả b ấp bênh và có khuynh hướng giảm, thị trường hạn chế. Trong nhiều năm, gạo, cà phê, cao su, hàng may mặc của Việt Nam không xuất khẩu được hết trên th ị trường thế giới, khiến cho giá sụt và làm giảm thu nh ập của công nhân, nông dân trong các ngành liên quan. Trong khi đó, nh ập khẩu l ại h ướng v ề máy, các vật tư, linh kiện rời giá đắt và các hàng tiêu dùng cao c ấp giá r ất đắt. Tình hình này làm cho vị thế của ta trên thị trường quốc tế yếu đi và dẫn đến nhiều nguy cơ lớn về kinh tế tài chính. Thứ nhất là nguy cơ bán rẻ như cho và mua phải trả giá cao, tỷ lệ giao hoán bất lợi, xuất phát từ việc xuất khẩu nông khoáng sản thô giá rẻ và 14
  15. nhập khẩu hàng cao cấp giá cao. Sự thiệt thòi triền miên năm này qua năm khác mỗi năm ước hàng nhiều tỷ USD khiến cho nước ta nghèo càng nghèo thêm. Thứ hai là nguy cơ siêu đưa đến thâm thủng cán cân th ương m ại bu ộc phải vay tiền nước ngoài. Trong các năm 1995 dến 95 chúng ta nh ập siêu trên dưới 3 tỷ USD, nợ quốc tế tăng khoảng 2-3 tỷ USD/năm để trám vào thâm thủng của cán cân thương mại và các chi phí khác về ngoại tệ. Thứ ba là nợ quốc tế tăng gia với tốc độ nhanh hàng năm đ ưa đ ến tình hình nợ đáo hạn và vốn lời phải trả mỗi năm m ỗi tăng. Mu ốn tr ả n ợ qu ốc tế, chỉ có 2 phương pháp: (a) xuất siêu để có dư cân thương mại để trả n ợ, (b) hoặc vay nợ mới để có ngoại tệ trả nợ cũ. Trong thập niên 90, chúng ta không có xuất siêu vậy phải áp dụng biện pháp vay nợ mới trả nợ cũ, cả vốn lẫn lãi, khiến cho nợ quốc tế tăng gia nhanh theo đ ịnh lu ật lãi kép. N ợ quốc tế, nếu ước hơn 15 tỷ USD thì bằng đến khoảng 50% GDP của n ước ta, ước khoảng 30 tỷ USD. Nợ quốc tế tăng, đến một mức nào đó, có thể dẫn đến tình hình khủng hoảng tài chính - tiền tệ như đã xảy ra tại Thái Lan. Khi ấy, cơ quan tiền tệ quốc tế đã đề nghị với Thái Lan những biện pháp "trọn gói" trong đó có nhiều biện pháp mà Thái Lan cho rằng vi phạm nền độc lập tự ch ủ kinh tế quốc gia, nhưng sau đó chính phủ Thái Lan đã buộc phải nhận. Tình hình nợ quốc tế của nước ta so với Thái Lan ít hơn nhiều, nh ưng bài h ọc Thái Lan cho thấy là nợ quốc tế tăng có th ể đưa đến vi ệc ngân hàng trung ương không còn khả năng thanh toán quốc tế, đặc biệt là các trang trải nhập khẩu thông thường và lúc bấy giờ sẽ xảy ra khủng hoảng tài chính, tiền tệ. Thứ tư: hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ kỹ thuật, khoa học, vốn quốc tế. Tuy nhiên các công ty nước ngoài ch ỉ đầu t ư ở Vi ệt Nam n ếu họ có lợi. Như vậy, chúng ta ở trong thế yếu, chỉ có kh ả năng h ạn ch ế h ọ bớt lợi mà thôi, nhưng nếu đầu tư mà ch ỉ thu được lợi ít, h ọ s ẽ ng ưng hay giới hạn lượng đầu tư. Kinh nghiệm chó thấy, trong thập niên 90, nh ững 15
  16. thiết bị được đầu tư ở Việt Nam, thường là những thiết bị cũ, th ị ph ần các doanh nghiệp Việt Nam giảm nhanh trong khi thị phần các công ty có vốn nước ngoài tăng nhanh, nhiều công ty phía Việt Nam có phần hùn khoảng 30% nhờ phần đóng góp mặt bằng, nhà đất đã chuyển thành công ty có v ốn nước ngoài 100%do nhiều lý do, trong số có lý do phía n ước ngoài đ ề ngh ị tăng vốn nhưng bên Việt Nam không có kh ả năng đáp ưúng. N ếu tình hình này tiếp tục, người nước ngoài sẽ làm chủ dần dần hầu hết các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, khi ấy, sẽ khó giữ được độc lập tự chủ kinh t ế quốc gia. Sự phối hợp 4 nguy cơ trên có khả năng đưa đến tình hình mất độc lập tự chủ kinh tế, tài chính, tiền tệ, gây ra tình cảnh lệ thuộc vào n ước ngoài. Đồng chí TBT đã xác định là độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng cơ bản bảo đảm sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị, do đó c ần ph ải có biện pháp xây dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động trong việc hội nhập vào kinh tế quốc tế. 16
  17. 2. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1. Thế nào hội nhập kinh tế quốc tế: Ngày nay hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi châu lục, chi phối đời sống kinh tế mọi quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế là hiện tượng xảy ra trong quan hệ giữa các quốc gia. Cách hiểu ph ổ bi ến nh ất hiện nay về hội nhập kinh tế là xoá bỏ sự khác biệt kinh tế giữa nh ững nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau. 2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan t ới ch ủ tr ương h ội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta: Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ "mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế". Đại hội lần thứ IX khẳng định chủ trương "phát huy cao độ nội lực, đồng th ời tranh th ủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững". Chủ trương hội nhập được đề ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức t ạp, khó lường trước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã h ội và khoa h ọc - k ỹ thuật, với những đặc điểm nổi bật sau : 2.2.1. Trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế thế giới nhìn chung phát triển không ổn định và không đồng đều, về tốc độ thấp h ơn thập k ỷ trước (trên 2%/năm so với 3,2%) ; đã xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn, sâu rộng hơn cả là cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính nổ ra năm 1997 ; vị trí các nước và các khu vực thay đổi theo hướng : kinh t ế Mỹ phát tri ển nhanh và ổn định liên tục trong nhiều năm và đến 2002 bắt đầu suy giảm ; kinh t ế Tây Âu hiện không còn phát triển nhanh như các th ập kỷ trước ; kinh t ế Nhật suy thoái chưa có lối ra ; các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng và kéo dài ; vài năm gần đây đã tăng trưởng tương đối khá ; trong khi đó kinh tế Trung Quốc phát triển "ngoạn mục" ; Đông Á và Đông - Nam Á phát triển nhanh vào bậc nh ất th ế giới trong những thập kỷ trước, vừa qua đã rơi vào suy thoái và nay đang 17
  18. hồi phục ; Nam Á và nhất là châu Phi vẫn chưa thoát kh ỏi tình tr ạng trì tr ệ kéo dài ; kinh tế Mỹ La-tinh có khá hơn song cũng không ổn định. "Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với tốc đ ộ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội". Dưới tác động của những chiều hướng đó, kinh tế th ế giới trải qua những biến đổi về chất, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là nh ững lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao, nhất là công nghệ thông tin và sinh học phát triển nhanh chóng làm thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, tiêu dùng, trao đổi... cũng như phương thức làm ăn và cả sinh hoạt, giao lưu. 2.2.2. Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển ngày càng nhanh Vòng đàm phán U-ru-goay kết thúc, Hiệp định Ma-ra-két được ký kết, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời từ 01- 01-1995 thu hút tới 136 và nay là 144 quốc gia và lãnh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buôn bán quốc tế, theo hướng giảm mạnh hàng rào quan thuế và phi quan thuế, mở cửa thị trường hàng hóa, đầu tư, dịch vụ ... Bên cạnh sự ra đời của WTO, xuất hiện rất nhiều tổ chức tiểu vùng, khu vực, liên khu vực như các tam, tứ giác phát triển, các khu vực mậu dịch tự do (AFTA, NAFTA), những tổ chức liên kết toàn châu lục (EU) hoặc giữa các châu lục (APEC). Các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi chính sách kinh tế mở. Ngay những nước có tiềm năng và thị trường rộng lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ... và cả một số nước vốn "khép kín", theo mô hình tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu : suy thoái môi trường, bùng nổ dân số, nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo, các vấn đề xã hội "xuyên quốc gia"..., không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được mà cần phải có sự hợp tác đa phương. Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy xu thế hội nhập để phát triển. Trong xu thế chung đó, các nước công nghiệp phát triển, trước hết là Mỹ, 18
  19. do có ưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học - công nghệ, có nền kinh tế phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối thị trường thế giới, áp đặt điều kiện đối với các nước chậm phát triển hơn, thậm chí dùng những biện pháp thô bạo như bao vây, cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ích của các nước đang phát triển và chậm phát triển. Trước tình hình đó, các nước đang phát triển đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cường quyền áp đặt của Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình vì một trật tự kinh tế quốc tế bình đẳng, công bằng. Điều đó chứng tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa đẩy mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc liệt. 2.2.3. Ở khu vực Đông-Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc. Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, đối đầu, Đông-Nam Á đã có hòa bình, tuy còn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây bất ổn định, xu thế hợp tác để phát triển không ngừng gia tăng. Mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trầm trọng thời gian 1997-1998, song đây vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng do vị trí địa - chính trị và địa - kinh t ế của mình, dung lượng thị trường lớn, tài nguyên phong phú, lao động dồi dào, được đào tạo tốt, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Toàn bộ tình hình trên đem lại nhiều thuận lợi to lớn, đ ồng th ời cũng đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trình phát tri ển đất nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng. 2.3. Những kết quả đạt được khi Việt Nam tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thời gian qua đã mang lại cho chúng ta những kết quả quan trọng : 2.3.1. Chúng ta đã làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô l ập nước ta của các thế lực thù địch, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ qu ốc, nâng cao v ị th ế nước ta trên chính trường và thương trường thế giới. 19
  20. 2.3.2. Không những chúng ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã gây nên, mà còn mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu. Trong quá trình hội nhập, chúng ta đã nhanh chóng mở rộng xuất nh ập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm vi ệc làm, tăng thu ngân sách. Nếu năm 1990 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 2,404 tỷ USD và nhập khẩu 2,752 tỷ USD thì năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đã đạt 15,1 t ỷ USD (nếu tính cả dịch vụ thì đạt 17,6 tỷ USD, tăng trung bình trên 20% mỗi năm, có năm tăng 30% ; riêng năm 2001 do ảnh hưởng của tình hình kinh tế khó khăn trên thế giới và ở khu vực và giá cả các mặt hàng xu ất khẩu chủ yếu giảm mạnh, nên xuất khẩu chỉ tăng gần 5%. 2.3.3. Thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), bổ sung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp nội lực với ngoại lực, tạo được những thành tựu kinh tế to lớn, quan trọng. Tháng 12-1987, chúng ta đã ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ đó đến nay đã thu hút được trên 42 tỷ USD vốn đầu tư, với trên 3 000 dự án, đã thực hiện khoảng 21 tỷ USD trong số đó. Ngu ồn đ ầu t ư tr ực tiếp của nước ngoài giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta : gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu, giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trực ti ếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp. 2.3.4. Tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài. Từ năm 1993, hằng năm đều có hội nghị các nhà tài trợ cho nước ta gồm một số nước và một số định chế tài chính - tiền tệ quốc tế. Cho đ ến nay, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho nước ta gần 20 tỷ USD, ch ủ y ếu là cho vay ưu đãi với lãi suất từ 0,75% đến 2,5% tùy theo mỗi đối tác ; m ột phần là viện trợ không hoàn lại. 2.3.5. Tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo. 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2