intTypePromotion=1

Tiểu luận Tác động của di dân tới đói nghèo

Chia sẻ: Nguyen Thanh Cong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
91
lượt xem
27
download

Tiểu luận Tác động của di dân tới đói nghèo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Di cư là một hiện tượng xã hội phổ biến và tất yếu của bất cứ một xã hội nào trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong vòng 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã và đang chứng kiến sự gia tăng theo cấp số nhân của dòng người di cư trong nước và quốc tế. Dòng di cư phổ biến ở Việt Nam đó là di cư nông thôn – thành thị khi mà người dân đổ về thành phố lớn tìm kiếm việc làm gia tăng thu nhập cho gia đình. Đồng thời...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Tác động của di dân tới đói nghèo

  1. Tiểu luận Tác động của di dân tới đói nghèo 1
  2. MỤC LỤC I. GIỚ I THIỆU CHUNG ...........................................................................................2 II. NỘ I DUNG............................................................................................................4 2.1. Một số khái niệm liên quan:...............................................................................4 2.2. Đói nghèo và nguyên nhân di dân: ................................ ................................ ....5 2.3. Tác động của di dân trong xóa đói giảm nghèo ở nơi đi ................................ ....9 a. Tiền gửi về: .......................................................................................................9 b . Vai trò của tiền gử i về ................................ ................................ ..................... 10 2.4. Tác động của di dân tới đói nghèo ở n ơi đến ................................................... 14 III. K ẾT LUẬN................................................................ ........................................ 20 I. GIỚ I THIỆU CHUNG 2
  3. Di cư là mộ t hiện tượng xã hội phổ biến và tất yếu của bất cứ một xã hội nào trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong vòng 20 năm trở lại đây, Việt Nam đ ã và đ ang chứng kiến sự gia tăng theo cấp số nhân của dòng ngư ời di cư trong nước và quố c tế. Dòng di cư phổ b iến ở Việt Nam đó là di cư nông thôn – thành thị khi mà người dân đổ về thành phố lớn tìm kiếm việc làm gia tăng thu nh ập cho gia đình. Đồng thời nó cũng để lại nhiều tác động đáng kể với khu vực thành thị. Hơn thế nữ a, những nhà nghiên cứu đã chỉ ra giữa di cư, đói nghèo và phát triển luôn có mố i quan hệ ch ặt ch ẽ với nhau. Di cư vừa là động cơ thúc đẩy lại vừa là kết quả củ a sự phát triển kinh tế xã hộ i của một quố c gia. Di cư gắn liền với những yếu tố mang tính cốt lõi củ a xã hội như: xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hộ i, sức khỏ e… Chính điều này đã chỉ ra các tác động cơ bản tới nơi đi và nơi đến. Tuy nhiên những đóng góp của di cư đối với Việt Nam còn ch ưa đồng đ ều. Những đóng góp tích cực củ a d i cư đã được nhà nước nhìn nhận như một nhân tố thiết yếu giúp giảm nghèo và ph át triển, n hưng vẫn còn có không ít nh ững lo lắng từ phía chính phủ về tác động tiêu cực. Sự phân bố đói nghèo và các khu vực kém phát triển ở Việt Nam đã cho th ấy rằng mộ t trong những khác biệt này là sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị và những người dân di cư tới cư trú ở khu vự c thành thị. Mặc dù luôn có sự phức tạp trong mối quan hệ qua lại giữa di cư, đói nghèo và phát triển nhưng có mộ t điều dễ nh ận thấy đó là không nên coi di cư như một yếu tố cản trở sự phát triển nhưng nó cũng không phải là liều thuố c chữa bệnh đói nghèo và bất bình đ ẳng về thu nhập. Di cư có thể đóng góp nhiều hơn cho sự tăng trưởng kinh tế cả ở cấp độ quốc gia và ở cấp độ hộ gia đình. Di cư có thể đẩy m ạnh mối quan hệ giữa nơi đi và nơi đến. Không chỉ đ ơn thuần thông qua số tiền người di cư gửi về, mà còn thông qua việc chuyển giao kiến thức, kỹ năng vì th ế làm giảm sự khác biệt giữa nông thôn – đô thị… Tuy nhiên còn tồn tại nhiều thách thức lớn đối với vấn đề này trong việc đảm bảo quyền lợi, cơ hội tiếp cận đố i với người di cư. Do vậy, để trả lời câu hỏi cũng như mối băn khoăn củ a nhiều người về tác động của di cư tới đói nghèo: góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn hay tăng nghèo đói ở đô thị thì nhóm chúng tôi tập trung phân tích các tác động khác nhau của hiện tư ợng di cư tới khu vực nông thôn – đô th ị nh ằm làm rõ vai trò của di cư đố i với sự phát triển củ a đất nước. 3
  4. II. NỘI DUNG 2.1. Một số khái niệm liên quan: a. Nghèo: Hộ i nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra đ ịnh nghĩa như sau: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không đư ợc hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã đ ược xã hộ i thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Hay theo tổ chức Y tế Thế Giới: Ngh èo diễn tả sự thiếu cơ hộ i để có thể sống mộ t cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhấ t định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đ ổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Một người là nghèo khi thu nh ập hàng n ăm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu ngư ời hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia. Quyết đ ịnh số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chu ẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015. Hộ cận nghèo áp dụng cho giai đo ạn 2011 - 2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mứ c thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng; Hộ cận ngh èo ở th ành th ị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.  Qua những khái niệm trên ta có th ể th ấy được nghèo là sự thiếu thốn cả về vật chất và phi vật chất, tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nh ập thiếu do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày củ a cuộ c sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và d ễ b ị tổn thương trước những mất mát. Định nghĩa của tổ chứ c y tế TG đ ã chỉ ra một cách khái quát những đ ặc điểm tiêu biểu để làm căn cứ xác đ ịnh nghèo. Đồng thời đ ịnh ngh ĩa trên cũng nêu ra những chỉ báo quan trọng trong việc xác định các mức độ nghèo, thuận lợi cho công tác phân tích đánh giá mứ c sống của các hộ gia đình theo từng khu vực nông thôn – thành thị. b. Xóa đói giảm nghèo: Xóa đói giảm nghèo là kết quả của việc thực hiện tổng thể các biện, pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo 4
  5. đói nhằ m tạo điều kiện để họ tăng thu nhập, đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo theo quy định của từng địa phương, khu vực, quốc gia. Xóa đói giảm nghèo luôn đư ợc coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu củ a mỗ i quố c gia nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên nó không tách biệt ra khỏi hệ thống các chính sách ban hành về nh iều mặt kinh tế - chính trị - xã hộ i… Vì vậy, với xu hướng di dân ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì tầm quan trọng của xóa đói giảm nghèo càng được nâng cao rõ rệt. Thêm vào đó, di dân và xóa đói giảm nghèo đều góp ph ần không nhỏ vào sự phát triển xã hội. Xóa đói giảm nghèo là kết quả m à di dân mang lại nhưng cũng là động cơ thúc đẩy di dân. c. Di cư: Chưa có một đ ịnh ngh ĩa chu ẩn nào về di cư nhưng theo tổ chức di cư quốc tế (IMO) đ ịnh ngh ĩa d i cư là sự dịch chuyển dân số bao gồm bấ t kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới quố c gia hay trong một quố c gia. Là một sự di chuyển nào của con người, bất kể đ ộ dài, thành phần hay nguyên nhân bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạ n, người di cư kinh tế và người di chuyển vì mụ c đích khác (trong đó có đoàn tụ g ia đ ình).  Định nghĩa này đ ã chỉ ra ph ạm vi cần thiết đ ể xác định các loại hình di cư, nguyên nhân di cư. Đồng th ời với đ ịnh ngh ĩa trên nó đưa ra cái nh ìn bao quát nhất về loại hình di cư hiện tại ở Việt Nam, điều này giúp cho việc phân lo ại tác động của di cư tới nơi đi và nơi đ ến thêm rõ ràng và dễ nh ận diện hơn. 2.2. Đói nghèo và nguyên nhân di dân: Phần lớn (khoảng 70%) những người di cư trong nước là vì lý do kinh tế, bao gồm cả d i cư tìm việc làm và cải thiện điều kiện sống. Tuy nhiên động cơ di cư củ a cá nhân và hộ gia đình không mang tính mộ t chiều mà thường lồng ghép với các yếu tố khác. Có thể thấy đ ộng cơ này lý giải phần lớn xu hư ớng di cư trong nước ở Việt Nam. Thậm chí với tiêu chí động cơ kinh tế có thể xác định các yếu tố cụ th ể, chẳng hạn như tăng thu nhập với vai trò là một chiến lư ợc đối phó nhằm tăng kh ả n ăng cải thiện kinh tế. Di cư trong khu vự c nông thôn đóng góp một phần không nhỏ vào di cư trong nước, chiếm 47% dòng di dân được th ống kê trong cuộc điều tra năm 1999. Minh chứng khảo sát về d i dân từ các khu vực nông thôn vào thành phố Hà Nội đ ã chỉ ra rằng có tới 90% người lao động di chuyển vào thành phố tìm việc làm là do những khó khăn về kinh tế ở quê nhà (Hoàng Văn Ch ức, 2004). Phân tích kết quả điều tra 1300 người di cư củ a Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội cho thấy đại bộ phân dân nhập 5
  6. cư vào Hà Nội thông qua con đường di dân tự d o mà động lự c chủ yếu là sức ép về kinh tế. Khoảng 90% dân di cư tạm thời ở Hà Nội báo cáo rằng họ vào thành phố chỉ là đ ể tìm kiếm việc làm để cải thiện thu nh ập hộ gia đ ình. Trong khi đó, có đến hơn mộ t nửa số những người nhập cư vào Hà Nội với mục đích đ ịnh cư lâu dài không ph ải vì lý do khó khăn kinh tế củ a gia đình. Ngoài ra những nguyên nhân khác như hôn nhân, đoàn tụ gia đình, họ c tập và sức hút của đô thị chỉ chiếm một tỷ lệ th ấp so với nguyên nhân đói nghèo (kinh tế). Ch ỉ có một bộ ph ận rất nhỏ dân nhập cư, khoảng 5% số ngư ời được hỏi, di chuyển vào thành phố Hà Nộ i qua con đường tuyển dụng lao động chính th ức. (Trung Tâm Dân Số & Nguồn Lao Động, 2007). Hay như trong một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Diễm (2005): “Đi làm ăn xa – phương thức tăng thu nhập gia đ ình” là mộ t minh chứng tiêu biểu cho việc người di cư từ nông thôn ra đô thị chủ yếu vì cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn, ho ạt động sản xu ất còn thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng lại bị chi phối bởi điều kiện khí h ậu khắc nghiệt, hoạt động nông nghiệp chưa được tiếp cận nhiều với máy móc kỹ thuật hiện đại, tận dụng sức ngư ời lớn trong khi hiệu quả sản xuất không cao, cộng thêm bệnh dịch làm thu nh ập b ấp bênh, yếu tố việc làm không đáp ứng được nhu cầu của phần đông dân cư. Nh ững khó khăn xung quanh đ ời sống mưu sinh đã là động cơ thúc đẩy họ tìm phương án cho thu nhập cũng như cải thiện đời sống của họ. Quan sát biểu đồ thu được từ cuộc điều tra ý kiến của các hộ gia đ ình có người đi di cư cho ta thấy: Hình 1. Lý do di cư (ĐVT: %) 6
  7. Không hài lòng về thu nhập và điều kiện 37 sống Không hài lòng về công việc 23.3 Không có đất ở 18.2 Đi học 13.3 Kết hôn, đi theo gia đình 3.4 Muốn thay đổi môi trường sống 2.7 khác 2 0 5 10 15 20 25 30 35 40 Nguồn: IOM - 2 008 Rõ ràng đ a phần người dân đi di cư là vì lý do kinh tế do họ không hài lòng về thu nhập, điều kiện sống (37%) cũng như công việc ở quê nhà và hy vọ ng có nhiều cơ hội việc làm tố t hơn ở thành phố (23.3%). Số liệu ở biểu đồ trên ch ỉ ra nguyên nhân không có đất ở (18.2%) được xếp sau 2 nguyên nhân trên. Kết hợp các lý do kể trên cho th ấy nguyên nhân nghèo đói (thiếu thốn về mặt thu nhập, kinh tê, việc làm) giải thích cho việc di cư, do đó cần được xem như là mục đích chính hay động lực chính củ a việc di cư. Xếp thứ hai ngay sau lý do kinh tế là giáo dục, với 13,3% tổng số người di cư ra thành phố để học tập. Rõ ràng giáo dục k hông chỉ là một yếu tố của chọn lọ c di cư như đ ã n êu ở trên mà còn là nguyên nhân trự c tiếp của di cư. Thực tế thì nhiều người d i cư sau khi họ c xong đã qu yết định ở lại để sống và làm việc ở thành phố chứ không trở lại quê hương, khi khoảng cách về cơ hội và điều k iện số ng giữa các khu vực thành th ị và nông thôn n gày càng gia tăng. Các lý do di cư khác chiếm t ỷ lệ không đ áng kể, bao gồ m các vấn đề gia đình (hôn n hân, đoàn tụ gia đ ình, sống với người thân) chiếm 3 ,5%. Một số ít người (gần 3 %) di cư do bị thu hút bởi lối sống đô thị. Do đó, di cư là sự lựa chọ n duy lý của cá nhân hay đòi hỏi của cuộc số ng? Trong nghiên cứu của tác giả Đặng Nguyên Anh về Di Dân và quản lý di dân (1999) đã cho rằng: “Cái gốc sâu xa của di dân là đói nghèo. Hiện tại cả nước có hơn 7
  8. 8000 xã thì 1700 xã thuộc diện rất nghèo, 600 xã chưa có đường ra thị tứ và hàng nghìn thôn bản vẫn chưa biết ánh sáng điện. Thu nhập tính trên đầu người ở nông thôn vẫn chỉ bằng 1/5 thành phố. Chi li ra, người nông dân nghèo hàng năm chỉ cầm trong tay hai triệu đồng. Học hành, ăn ở, đau ốm đã hết sạch nói gì đến tích lũy, mua sắm. Cứ nghĩ năm qua cả nước được mùa lương thực, 33.8 triệu tấn. Làm một phép tính đơn giản, bớt ra 4 triệu xuất bán ra nước ngoài và lấy số thóc đó chia cho 77 triệu người, chắc ai cũng no ấm, còn gì mà phải lo lắng? Song thực tế được mùa mà vẫn phải lo lắng. Nông dân chỉ b iết kêu trời, ngoài hạt thóc biết trông vào đâu? Một gánh ra có ngọn, không mua đủ tập sách cho con đi họ c. Hai sọt cà chua không mua nổi cho con cái áo ấm…Liệu ngư ời dân ở nông thôn có còn đủ kiên nhẫn và yên tâm ở lại miền quê khi mà thiên tai, đói nghèo luôn là khó khăn treo lơ lửng trong cuộ c sống hàng ngày. Liệu di cư có ph ải là sự lự a chọn hay là con đường b ắt buộ c đ ể m ưu sinh?” Bênh cạnh những yếu tố về mặt kinh tế và nhân khẩu học của di cư, môi trường tự nhiên cũng dần được coi là tác nhân đã và đang tác động trực tiếp cũng như gián tiếp tới xu thế di cư trong nước, ngoài nước. Các nhà nghiên cứu về di cư trong và ngoài nước đánh giá rằng tác động lớn của sự thay đổi khí hậu đối với con người chính là việc khiến họ phải di chuyển. Trên phạm vi toàn cầu, những điều kiện khí hậu ven biển, xói mòn, hiện tượng lụt lột, mực nước biển gia tăng và mùa màng thất bát là nguyên nhân khiến hàng triệu người đã phải rời khỏi nơi cư trú của mình. Các số liệu khoa học về sự biến đổi khí hậu toàn cầu cho thấy Việt Nam sẽ là một trong những nước chịu thiệt hại nặng nhất của sự thay đổi khí hậu. Chính vì thế mà một số nhóm người thuộc một số vùng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, phụ nữ nông thôn, người già và trẻ em sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Di cư sẽ trở thành một trong những phương thức giúp người dân đương đầu và thích nghi với những thay đổi này bằng cách di chuyển tạm thời hoặc di chuyển lâu dài tới địa điểm khác nhằm đảm bảo sự an toàn và ổn định cuộc sống. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy người dân buộc phải di cư trong nước do những điều kiện thay đổi về môi trường, khí hậu khiến cuộc sống họ nghèo đói. Chẳng hạn nghiên cứu ở khu ven biển miền Trung phía Bắc Việt Nam cho thấy cuộc sống và thu nhập của người dân bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về đất đai, điều kiện khí hậu, nguồn nước, nhiều người dân đã buộc phải di cư trong nước và coi đây là một phương thức thay thế cho việc mất thu nhập. Ngoài ra phân tích trong điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 và 2006 cho thấy có một mối quan hệ giữa thiên tai, đói nghèo, những thay đổi đột biến trong sản xuất 8
  9. (các cú sốc trong sản xuất) với các xu thế di cư mùa vụ, di dân tự do trong nước. Vì vậ y, mặc dù xã hội luôn thay đổi và trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nhưng nguyên nhân kinh tế vẫn là nguyên nhân cốt lõi thúc đẩy người dân đi di cư. 2.3. Tác động của di dân trong xóa đói giảm nghèo ở nơi đi Tác động của di cư có thể được xem xét ở các cấp độ khác nhau, từ cấp độ bản thân người di cư, gia đình họ, b ạn bè cùng trang lứa, cộng đồng nơi đi/nơi đến cho đến các cấp độ cao hơn như quốc gia hay quốc tế. Trong giới hạn ph ạm vi củ a chủ đ ề, chúng tôi ch ỉ tập trung xem xét tác động của di cư tới khu vực nông thôn – đô thị, đặc biệt trong mối liên hệ giữ a di cư và đói nghèo. a. Tiền gửi về: Tiền gửi là mộ t phần thu nh ập củ a người di cư kiếm được tại nơi đ ến, gửi về nhà, hầu hết là các khu vực nông thôn và nghèo hơn. Vì th ế tiền gửi là một trong những tác động trự c tiếp tích cực của sự dịch chuyển lao động trong nước. Do thường xuyên cần tiền mặt để trả cho những dịch vụ kinh tế và xã hội khác nhau của gia đình, tiền gửi về nhà (từ người di cư) tạo nên một nguồn tài chính quan trọng để trang trải những chi phí đó. Ước tính số tiền gửi từ n gười di cư trong nước và kiều bào n ước ngoài (di dân quốc tế) ở Việt Nam năm 2007 là 5,5 tỷ USD với lượng tiền gửi củ a n gười di cư trong nước chiếm tỷ trọng ngày càng tăng. Hơn một nửa số người di cư trong cuộ c đ iều tra di cư n ăm 2004 cho biết có gửi tiền về gia đình m ình tại nơi đi. Mộ t nghiên cứu về sự khác biệt về giới chỉ ra rằng nhìn chung n am giới gửi n hiều tiền về gia đình hơn phụ nữ d i cư. Tuy n hiên, nhìn chung số tiền gửi chiếm 10% thu nh ập củ a nam giới trong khi đó t ỷ lệ này là 17% đố i với nữ giới. Hơn nữ a phụ nữ thường có xu hướng gửi tiền cho nhiều thế hệ trong khi nam giới thướng có xu hướng chăm sóc n gười trong cùng thế hệ. Có khoảng 6,6 triệu lao động di cư trong nước đ ã gử i về quê cho ngư ời thân khoảng 40.000 tỉ đ ồng/năm, tương đương 2 tỉ USD, lượng tiền gửi về quê của người lao động di cư chủ yếu ở m ức 5-20 triệu đồng/năm và tỉ lệ nhóm gửi dưới 5 triệu đồng và trên 20 triệu đồng đều ở mứ c 14%. Về ngư ời nh ận tiền gử i, cu ộc đ iều tra mức sống hộ gia đ ình Việt Nam năm 2004 cho thấy trong n ăm 2004, 88,7% các hộ gia đình Việt Nam có nhận một vài lo ại hình tiền gửi. Các nghiên cứu khác về d i cư tại Việt Nam cũng đưa ra các kết qu ả 9
  10. tương tự về tỷ lệ cao nh ận được tiền gửi củ a các hộ gia đ ình có ngư ời di cư. Ví dụ, qua những số liệu có tính đại diện toàn quốc củ a các cuộc Điều tra Mức sống Dân cư Việt Nam (VLSS) năm 2002 và 2004, Nguyễn (2008) cũng tìm thấy t ỷ lệ các hộ gia đình di cư nhận được tiền gửi về từ người nhà của họ cao như vậy (78,2% trong VLSS 2002 và 86,3% trong VLSS 2004). Điều n ày cho thấy tác độ ng to lớn của di cư trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam . b. Vai trò của tiền gửi về Tiền gửi về của người di cư trong nước cho gia đ ình họ có vai trò quan trọng. Một nửa số tiền được gử i về quê đ ể lo cho con cái h ọc hành và được coi như sự đầu tư lâu dài cho tương lai của người lao động di cư. Mộ t ph ần tiền chuyển về đ ể m ua sắm tài sản cho gia đ ình như xe máy, tủ lạnh, tivi...cho người thân trong gia đình đầu tư vào sản xuất đ ể tăng thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống. Việc gửi tiền phổ biến và việc sử dụng tiền gử i là một số chỉ báo về đóng góp củ a người di cư trong nước vào sự giàu có của các địa phương có người di cư trong quá trình phát triển gần đây củ a Việt Nam. Những dòng thu nh ập như vậy đư ợc chuyển từ nh ững nơi có nhiều cơ hộ i việc làm tới các vùng nông thôn với ít cơ hội việc làm. Nó góp ph ần vào việc phân chia lại của cải trên phạm vi cả nước và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo cho những khu vực kém phát triển hơn ở Việt Nam. 10
  11. Bảng 1-Tỷ lệ đóng góp của tiền gửi về vào tổng thu nhập của các loạ i hộ gia đình Loại hộ Bất kể tỉ Ít nhất Ít nhất Ít nh ất Ít nhất 100% lệ n ào 10% 25% 50% 75% Nghèo 20.4 33.0 39.8 51.6 69.8 86.1 TB 20.2 20.4 20.1 18.1 5.1 7.5 TB – khá 19.8 16.4 12.4 10.0 9.7 6.3 Khá 20.3 16.9 15.5 11.5 7.4 0.0 Giàu 19.3 13.2 12.2 8 .9 7.9 0.0 Tổng số 100 100 100 100 100 100 Nguồn: Di cư lao động và phát triển ở Việt Nam 2006 (ILO) Tiền gửi về có ảnh hưởng lớn đ ến thu nhập của hộ gia đình và rất cần thiết trong việc trang trải nợ n ần, chi phí họ c hành cho con cái, sức khỏ e và các khoản chi khác. Dựa vào kết quả nghiên cứu của viện nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) về tác động kinh tế - xã hội của di cư nông thôn – thành th ị ở Việt Nam đ ã th ống kê đư ợc mục đích sử dụng tiền gửi về nhà của người đi di cư như sau: Hình 2. Mục đích sử dụng tiền gửi của các hộ g ia đình có người di cư ở nông thôn Nguồn:(Lê Bạch Dương- Nguyễn Thanh Liêm, Từ nông thôn ra thành phố) 11
  12. Hầu hết hộ gia đình nhận được tiền gửi (80%) d ùng tiền đó đ ể trang trải chi phí hàng ngày. Ưu tiên thứ hai là để dùng cho chăm sóc sức khỏe (khoảng 1 7%), trong khi giáo dục của con cái nhận được ít sự đ ầu tư hơn. Mục đích thứ ba của việc sử dụng tiền gửi là để đầu tư vào sản xuất. Mộ t tỷ lệ nhỏ hơn cho b iết họ dùng tiền đó vào những việc khác như sử a chữa/xây mới nhà cử a, m ua sắm các đồ dùng có giá trị..., nhằm làm tăng địa vị của gia đình họ trong cộng đồng vì tiền nh ận đ ược hàng năm là không đủ để nhiều hộ có thể làm như vậy. Ngoài ra, rất ít hộ gia đình sử dụng tiền cho các mục đích xã hộ i, như đóng góp vào các hoạt động cộng đồng h ay giúp đỡ người thân/họ hàng. Sự chuyển d ịch lao độ ng thông qua di cư là một tiềm năng quan trọng góp phần làm giảm sức ép lao động – việc làm ở nông thôn, tạo nguồn thu nhập, góp ph ần ổn định xã hội. Theo số liệu điều tra Mức sống dân cư Việt Nam năm 1998, trên 23% hộ gia đình nhận được tiền gử i về, số tiền này chiếm 38% chi tiêu của hộ gia đ ình. Một nghiên cứu Viện Xã Hội Học (IOS, 1998) tiền gửi về của người di cư chiếm khoảng 60-70% tổng thu nh ập bằng tiền của các nông hộ. Nh ững khoản chi thường xuyên nhất là tiêu pha hàng ngày, trả nợ, học hành, chăm sóc sức khỏ e và kiến thiết nhà cửa. Bả ng: C hi tiêu trung bình theo đầu người của các nhóm hộ gia đình ĐVT: Nghìn đồng Hộ nhậ n tiền gửi Hộ k hông nhậ n Tính theo bình quân đầu tiề n gử i người Chi tiêu cho lương thực 264.012 258.879 Chi tiêu cho giáo dục 72.991 89.564 Chi tiêu cho chăm sóc sức 224.179 149.613 k hỏe Chi tiêu cho sản xuất 344.067 308.483 Chi tiêu cho điện/nước 20.576 21.690 Chi tiêu cho giải trí/lễ hội/ 18.656 17.670 du lịch 12
  13. Nguồn: Tác động kinh tế - xã hộ i của di cư ở Việt Nam, 2008, ISDS So sánh chi tiêu trung bình theo đầu người giữa các nhóm hộ gia đình. Như ta thấy, trong ngân sách chi tiêu hàng tháng của hộ gia đình, hộ nhận được tiền gử i về thường tiêu nhiều hơn hộ không nhận trong h ầu hết tất cả các loại chi tiêu. Dòng tiền gửi của người dân di cư trong nước cho thấy quyết định di cư không ch ỉ dựa vào các mục đích và các nhu cầu chưa được đáp ứng của cá nhân người di cư mà các quyết định này có thể bị tác động bởi các chiến lược của hộ gia đình muốn nâng cao tối đa thu nhập hoặc giảm thiểu rủi ro bằng cách phân tán các nguồn thu nhập. Như vậy, các số liệu trên cho thấy tiền gửi về chủ yếu được dùng cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày (lương th ực), phát triển vốn con người (giáo dục và chăm sóc sức khỏe), và các hoạt động sản xuất. Một số tài liệu cho rằng hộ có thành viên di cư có xu hướng chi tiêu nhiều hơn hộ không có thành viên di cư; và trong số những hộ có thành viên di cư, hộ nh ận được tiền gử i về thường chi tiêu nhiều hơn hộ không nhận đư ợc tiền gử i. Đúng vậy, so với thu nh ập từ nông nghiệp khoản tiền người di cư dành dụm được hành tháng là không nhỏ. Ở mỗi gia đình, khi các thành viên khi ra đô th ị kiếm việc làm, kinh tế của các gia đình đó ở nông thôn được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó họ không ra định cư lâu dài ở thành phố mà vẫn giữ đất đai canh tác ở quê và tham gia các hoạt động nông nghiệp, nhưng vẫn có th ể ra thành ph ố tìm việc làm tạm thời trong các d ịp nông nhàn. Điều đó cho th ấy rằng tiền của ngư ời di cư gửi cho người ở lại phần nào giải quyết đư ợc khó khăn trước mắt, cải thiện cuộc sống. Di dân nông thôn - đô thị còn có những tác động quan trọng góp ph ần thay đ ổi cuộc sống gia đình ở nông thôn. Người nông dân vốn gắn bó với đồng ruộng, ít ra khỏ i quê, họ thiếu cơ hội tiếp cận với cuộc sống văn minh đô thị. Trong khi đó, những người di cư hàng ngày tiếp xúc với cuộc sống mà ở đó có mức sống cao, điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần đầy đủ , trình độ dân trí cao, con người hiểu biết... Do đó, lố i sống đô thị ít nhiều ảnh hưởng tới ngư ời di dân và chính h ọ sẽ là nh ững người truyền tải những nét văn hoá: trong giao tiếp, trong sinh ho ạt hàng ngày củ a người đô thị về nông thôn. Xét ở m ột khía cạnh nào đó, người di cư thông qua quá trình di chuyển đ ã và đang gián tiếp 13
  14. chuyển về n ông thôn lối sống đô thị có chiều hướng tích cự c, làm thay đổi diện mạo cuộc sống ở các vùng quê. Rõ ràng tác động của di cư thường rất đa dạng và phức tạp. Đặc biệt cũng rất khó để lượng hóa được các tác động này do quá trình phát triển nhanh, dù sự phát triển không đồng đều đang diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam. Di cư nông thôn – thành th ị được coi là một chiến lược tồn tại và phát triển. Qu ả vậy, so với thu nhập mộ t nắng hai sương, mùa màng thất thu cùng với giá nông sản rẻ nơi quê nhà thì khoản tiền kiếm được từ các công việc làm thuê trên thành phố cũng là khoản tiền không nh ỏ. Hơn nữa nó đóng góp phần đáng kể vào cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, tạo vốn kiến thiết cho kinh tế hộ gia đ ình nông thôn hiện nay. Bên cạnh những lợi ích về m ặt kinh tế, người lao động nông thôn từ thành phố trở về còn mang theo những tri thức và nhận thức m ới gắn liền với nh ịp sống văn minh củ a thành phố. Khách quan mà nói di cư đ ã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Di cư mùa vụ đến các thành phố lớn thực sự là việc cung cấp một nguồn lao động dồi dào trái lại là biện pháp tăng thu nhập và nâng cao mức sống, tạo sự khởi sắc cho khu vực nông thôn, góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Chính vì th ế khi nghiên cứu tác động d i cư tới khu vự c nông thôn thì cần đặc biệt lưu ý tới nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng để chỉ ra tính 2 mặt củ a vấn đ ề này. 2.4. Tác động của di dân tới đói nghèo ở nơi đến Cùng với sự biến đổ i nhanh chóng củ a xã hội, người ta thấy mố i liên hệ nông thôn – đô th ị đã trở nên thường xuyên hơn và đ ặc biệt dòng chảy của những người di dân tự do từ khu vực nông thôn vào đô thị tìm kiếm việc làm đã tăng lên nhanh chóng. Không chỉ vậy, di cư lao động nông thôn – đô thị dưới nhiều hình thức khác nhau giờ đây đ ã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược sinh tồn của nhiều h ộ gia đ ình nông dân. Di dân làm cho thành phố tập trung nhiều người nghèo hơn, nhưng nó cũng là nơi biểu hiện niềm hy vọng của ngư ời dân muốn thoát khỏi đói ngh èo. Ảnh h ưởng tích cực của di dân đó là một phần trong số những người di cư lên thành thị sẽ có cơ hội tốt hơn nơi thành thị, do thu nhập cao hơn, nhiều việc làm hơn, phục vụ tốt h ơn, nhiều cơ hội giáo dục. Tất nhiên, di dân cũng đặt ra những thách thứclớn. Người dân quê đến thành phố thư ờng có cuộc sống nghèo nàn. Họ ở những n ơi ô nhiễm và nguy hiểm. Dù rằng đa số ngư ời nghèo ở nư ớc ta là nông dân, ngư ời ngh èo thành thị chỉ chiếm khoảng 15%, nhưng nghèo khổ đô thị đang trở th ành một hiện tượng đặc biệt phức tạp. 14
  15. Hơn 60% dân di cư ở độ tuổi 15 - 29 thiếu việc làm đang đổ về thành phố, khu công nghiệp. Họ không nh à ở, hộ khẩu… Nh ìn chung, dân di cư gặp khó khăn chủ yếu về nhà ở, tìm việc làm. Dù biết trước là sẽ gặp khó khăn, song hầu hết dân di cư đều quyết tâm tìm cuộc sống mới ở n ơi di chuyển đến. Vấn đề sẽ bức thiết hơn khi quá trình đô th ị hoá đư ợc đẩy mạnh với mức gia tăng dân số cao trong vòng 20 năm tới: dân nghèo di cư không hộ khẩu sẽ tràn vào thành phố và một bộ phận đông đảo người dân ven đô không thích ứng kịp sự biến đổi sẽ trở thành người ngh èo ngay trên quê hương m ình.Các thành phố lớn, trung tâm đô thị thu hút một lượng đáng kể lao động nông thôn vào các thành phố. Nhưng bên cạnh những con đường và khu phố mới đang mọc lên, người ta cũng thấy ngày càng nhiều “khu ổ chuột” và “xóm liều” có chiều hướng gia tăng như một đáp ứng tự nhiên với trào lưu di dân tự do và quá trình phân tầng xã hội của cư dân đô th ị. Dòng di dân vào thành phố tìm việc làm đang tăng lên đã trở th ành nỗi lo ngại chung của cơ quan chức trách cũng như người dân vì một mặt, thành phố cần phải đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng ngu ồn nhân lực cho quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa, nhưng m ặt khác, quy mô và cơ sở hạ tầng của th ành phố quá nhỏ bé, khó có thể đáp ứng số lượng di dân quá đông. Sẽ không khó để tìm được những ngư ời di cư tạm thời vì đ a phần họ ở trong những khu trọ tồi tàn ở các phường, dãy phố mới hình thành dọc theo đê sông Hồng hoặc các làng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa. Mặc d ù công việc họ làm rất đa dạng nhưng nói chung đó là những công việc nặng nhọc, thu nhập bấp bênh và không ổn định. Trong một nghiên cứu cho thấy có tới 52% số lao động làm ngh ề vận chuyển hàng hóa ở các chợ trung tâm, xe ôm, giúp việc...còn lại là làm nghề bán rong, bưng bê....Đặc điểm công việc và thu nhập bấp bênh buộc người lao động phải tiết kiệm tới mức tối đa chi dùng hàng ngày đ ể có tiền gửi về nhà. Do đó giải pháp tối ưu đối với họ là tìm kiếm những nơi ở với giá rẻ nhất và khoảng cách di chuyển tới nơi làm việc gần nhất. Chính vì th ế họ đ ã tìm đ ến những khu ổ chuột và xóm liều trong thành phố vì ch ỉ có ở đây họ mới có thể tìm th ấy chỗ và các d ịch vụ khác với giá rẻ mạt nhất. Đồng thời cần thiết phải phân biệt hai dòng di dân vào đô thị: Một là dòng di chuyển vào thành phố lâu d ài và dòng di dân mùa vụ tạm thời để tìm kiếm việc làm. Dòng di cư thứ nhất không chịu quá nhiều sức ép của những khó khăn kinh tế. Một bộ phận nhỏ trong số họ thường là nh ững ngư ời được tuyển dụng chính thức vào làm việc trong các công sở, một bộ phận khác di cư vào thành phố vì những lý do phi kinh tế (đo àn tụ gia đình, hôn nhân, học tập...) và một bộ phận di chuyển do sức hút của đô thị. Đại bộ phận những người lao động di chuyển 15
  16. mùa vụ đã ngay từ đầu đứng bên lề của đời sống đô thị với thu nhập thấp và đời sống bấp bênh. Họ rất dễ bị tổn th ương do không có khả năng tìm được việc làm tốt hơn, không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ đảm bảo đời sống như giáo dục cho con em, chăm sóc y tế và an ninh trật tự của chính quyền nơi cư trú. Như vậy nh ìn từ khía cạnh này, ta th ấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa di dân tự do và đói nghèo ở đô thị. Mặt khác, sự gia tăng nhanh chóng của những người nhập cư gây thêm áp lực đối với các cơ sở hạ tầng của đô thị. Nh ững năm trở lại đây, Hà Nội tuy đ ã đ ược Nhà nước chú ý đ ầu tư về cơ sở hạ tầng, về điều kiện nhà ở nhưng vẫn thiếu và không đồng bộ. Thực tế qu ỹ nhà ở, công trình công cộng mới xây d ựng mặc dù tăng nhanh nhưng không đáp ứng được nhu cầu đô thị hóa (trường họ c, chăm sóc sức khỏe, cấp thoát nước, điện sinh hoạt và vệ sinh môi trường đô thị). Các vấn đề n ày càng trở nên trầm trọng hơn khi thêm vào đó khố i lượng lớn người di cư ngo ại tỉnh tới Hà Nộ i. Hình 4. Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nộ i qua các năm (Nguồn: Số liệu thống kê dân số Hà Nộ i qua các năm.) Từ bảng số liệu ta có thể thấy, quy mô và tốc độ của lượng người di dân vào Hà Nộ i qua các năm ngày càng tăng, chẳng hạn năm 2001 tỷ lệ ngư ời di cư vào Hà Nội là người là 0.59% thì đến năm 2007 là 1.36% và con số đó đã là 1.55% vào n ăm 2010. Như vậy, xu thế chung trong những năm tới là số lượng người lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng. Hiện tượng này, n ếu không có sự qu ản lý, 16
  17. điều tiết sẽ gây ra những vấn đề phứ c tạp trong đời sống kinh tế xã hội cho thủ đô trong những năm tới. Nổi bật ở một số khía cạnh như nhà ở và môi trường ở, n ước sinh hoạt và hệ thống cấp thoát nước trong khu vực nội th ành. Theo báo cáo thực trạng tình hình dân cư và những biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý dân cư trên đ ịa b àn Thành phố Hà Nội ngày 17/12/2009 của UBND th ành phố, số người các tỉnh về lao động tự do ở Hà Nội là 79.639 người (không kể số sinh viên tạm trú thu ê nhà trọ, người sống lang thang tại địa b àn công cộng). Điều tra cho thấy, 51,5% số người di cư tạm thời đang phải thu ê nhà để ở, số còn lại cũng phải cư trú dưới các hình thức tạm bợ tại nơi làm việc hay cư trú b ất hợp pháp tại n ơi công cộng hay trong các xóm liều. Thu ật ngữ “xóm liều” xuất hiện gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng thường được dùng đ ể chỉ những khu vực do ngư ời di cư và những thị dân ngh èo lấn chiếm những khu vực bỏ hoang trong thành phố để làm nơi cư trú và làm việc. Những ngư ời sống ở đây thường bất chấp các quy định của pháp luật, sống trong ngôi nhà tồi tàn và tạm bợ, bản thân họ cũng ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội so với khu dân cư khác. Đặc điểm cư trú tập trung của người nhập cư trong thành phố ảnh hưởng tới tình trạng xuống cấp cục bộ của hạ tầng khu vực. Lấy ví dụ như cấp bách về nhà ở cho người mới nhập cư vào Hà Nội hoặc những người lao động tạm thời khiến trên địa bàn thành phố đã hình thành dịch vụ cho thuê nhà ở. Do thu nhập thấp nên đa phần người di cư tạm thời phải ở trong những khu nhà rẻ tiền, chất lượng thấp, công trình vệ sinh thiếu thốn. Hình thức cư trú qu ần tụ và tập trung đông ở một số khu vực của những người di cư nghèo trong những nhà trọ rẻ tiền, điều kiện vệ sinh thấp kém là nguy cơ gây ra những ổ dịch bệnh. Thêm vào đó, vì lợi ích kinh tế, số đông các chủ trọ cho thuê nhà không h ạn định về số lượng người thu ê, d ẫn tới tình trạng xuống cấp cục bộ của hạ tầng khu vực, khó khăn cho việc cấp thoát nước. Điển hình là một số khu nh à trọ tạm thời, xây cất ngay b ên bờ kênh thoát nước của các phường Phúc Xá, Phúc Tân (Hoàn Kiếm), Hoàng Cầu (Đống Đa). Hình th ức cư trú của người di cư cũng gây những vấn đề khó khăn trong việc quản lý xã hội. Theo số liệu thốn g kê về hiện trạng người cư trú ở quận Thanh Xuân, năm 2008 số người di cư cư trú ở nơi công cộng là 156 ngư ời (3,1%), tới năm 2009 tăng lên 188 người (3,4%). Một số ít những người di cư ngo ại tỉnh mang theo cả gia đình tới sống cư trú bất hợp pháp ở một số địa b àn trong thành phố, h ình thành nên những xóm liều. Theo báo cáo số 426/PC13 về tình hình quản lý người lao động tự do ngoại tỉnh thì tính đến hết năm 2009 đã có 769 trường hợp người lao động tự do đưa cả 17
  18. gia đình, vợ chồng, con cái ra Hà Nội. Năm 2009, Hà Nội có 14 xóm liều với 4907 người tập trung chủ yếu ở các phường ven đê qu ận Hoàn Kiếm và 2 phường thuộc quận Thanh Xuân trong đó người di cư ngoại tỉnh là 742 ngư ời, chiếm 13,4%. Đặc biệt, hai xóm liều ở khu vực Thanh Xuân Bắc số lượng dân ngoại tỉnh là 399 người, chiếm tới 19,2%. Những xóm liều, xóm nhảy dù này là những tụ điểm phức tạp về an ninh trật tự rất nhức nhối ở thủ đô mà chúng ta đ ã và đang nỗ lực giải quyết. Ví dụ như gầm cầu Long Biên, bãi rác Thành Công, bến xe Gia Lâm và các nhà trọ dưới mức tồi tàn rải rác ở khắp các thành phố là nơi người lao động phổ thông thường thuê trọ như mộ t thế giới riêng của những người lao động ngoại tỉnh và dân nghèo đô th ị (Giá trọ một ngày từ ba đến năm nghìn đồng). Không kể tình trạng ô nhiễm nặng từ rác thải và nước tù đọng, không có h ệ thống cung cấp nư ớc sạch, dịch bệnh lây nhiễm tràn lan . Đây cũng là nơi trú ngụ của nhiều băng nhóm tộ i phạm có hoạt động liên quan đến tệ n ạn xã hộ i, mại dâm… Mấy năm gần đây, số lượng các nh à hàng, khách sạn, các tụ điểm mát xa, vũ trường… ngày càng tăng lên địa b àn thành phố, thu hút một số lượng lớn người di cư các tỉnh khác tới làm việc. Hiện nay, Hà Nội có 5496 tiếp viên phục vụ trong các nhà hàng nhưng có tới 3809 người là lao đ ộng di cư (61,1%), trong đó, 84,1% số tiếp viên bắt đầu đến th ành phố từ năm 2004. Nhiều tiếp viên ngoại tỉnh (27,5%) sống ngay tại các cơ sở làm việc, gây khó khăn cho vấn đề quản lý các tệ nạn xã hội. Hiện tượng tiếp viên nhà hàng kèm theo các hoạt động mãi dâm là phổ biến trên đ ịa b àn thành ph ố. Có 16,2% tiếp viên làm trong các nhà hàng đ ã có biểu hiện mãi dâm. Số gái mại dâm hầu hết chỉ học cấp II trở xuống, có hoàn cảnh gia đ ình khó khăn, muốn ra thành phố để thay đổi cuộc sống. Đây cũng là vấn đề đặt ra cho các cấp quản lý trật tự xã hội trong thành phố. Với đặc diểm th ành phần dân cư và loại hình nghề nghiệp phức tạp cho nên khó khăn lớn nhất đối với thành phố là qu ản lý người nhập cư. Nhất là những đối tượng sống tự do, không khai báo hộ khẩu thư ờng trú. Một số đối tượng phạm pháp ở các tỉnh, lợi dụng cơ hội n ày, đến trà trộn vào những người lao động, tăng thêm sự phức tạp của an ninh trật tự trong thành phố. Có một số ít những người di cư lao động đến qua tiếp xúc với lối sống đô thị cũng mắc vào các tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp,… làm tăng tính chất phức tạp cho việc quản lý dân cư trên địa b àn thành phố. Nh ững diễn biến phức tạp của tình hình an ninh trật tự nói chung có ảnh hư ởng trực tiếp tới công tác quản lý người lao động tự do ngoại tỉnh. Bên cạnh đó những người sống ở đây kh ông được hưởng những lợi ích về m ặt phúc lợi xã hội: không mua bảo hiểm y tế, không được đến những trung tâm khám 18
  19. chữa b ệnh định kỳ, tiêm chủng phòng ngừ a bệnh… Trẻ em không có trường học và lớp mẫu giáo, không được tiếp cận với các hoạt động vui chơi, giải trí, phát triển trí tu ệ do trái tuyến, cha m ẹ không có đủ khả năng chi phí cho giáo dục và thường b ị phân biệt đố i xử, tách biệt so với trẻ em thành phố. Một nghiên cứu mới đây năm 2008 của Viện Nghiên Cứu Phát Triển cũng ch ỉ ra rằng phần lớn những người di dân tạm thời chưa nhận đư ợc sự quan tâm, hỗ trợ từ phía chính quyền nơi ở. Theo dõi biểu đồ so sánh tỷ lệ người được nh ận hỗ trợ từ phía chính quyền đ ịa phương giữa di cư lâu dài và tạm thời sẽ thấy rõ điều này: Hình 3 - Tỷ lệ người được nhận hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương Nguồn: Nghiên cứu tác động di cư nông thôn – thành th ị 2008 của ISDS Hơn nữa, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở Hà Nội thực tế đ ã tồn tại nay lại được bổ sung thêm do tình trạng di dân ngoại thành vào thành phố, điều đó làm cho số người có nhu cầu giải quyết việc làm mỗi năm tăng nhanh, gây nên sức ép về việc làm tại thành phố n gày càng tăng. Đồng th ời đây cũng là nguyên nhân dẫn tới những mặt tiêu cực khác phát sinh, tạo ra gánh n ặng về m ặt kinh tế xã hộ i cho thành phố . Với những bất cập trên ta có thể thấy mục tiêu lớn nhất trong việc giải quyết vấn đề di dân tự do là ph ải bằng mọi biện pháp chủ động hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực đối với các vấn đề kinh tế –xã hội và an ninh trật tự tại địa bàn. 19
  20. III. K ẾT LUẬN Trên thực tế di cư nông thôn – đô thị là một chiến lược tồn tại và phát triển của hộ gia đình nông dân. Tình trạng nghèo đói ở khu vực nông thôn là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng lượng người nhập cư từ nông thôn ra thành th ị hiện nay. Những miền quê sống chủ yếu bằng nghề nông đang là xu ất phát điểm của các dòng di cư ra thành phố. Công việc nặng nhọc những vẫn có khoản tiền để gửi về cho gia đình. Nguồn tiền mà họ gửi về cho gia đ ình được sử dụng cho các mục đích khác nhau, từ việc chăm lo sức khỏe cho người thân, học hành của con cái, đến kiến thiết nhà cửa, đầu tư cho sản xuất, hoặc thậm chí để cho trả những khoản nợ của người thân. Điều cần nói là, mặc dù chưa có một con số thống kê nào về lượng tiền và lưu lượng hàng luân chuyển do cư dân thành phố gửi về nông thôn, di cư nông thôn – đô thị đang góp phần đáng kể vào việc cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, tạo vốn kiến thiết cho việc phát triển kinh tế hộ gia đ ình nông thôn hiện nay đóng góp vào công tác xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn. Đồng thời, việc di chuyển tới đô thị làm việc để tạo nguồn vốn đầu tư cho sản xuất, để học hỏi và tiếp nhận những kiến thức cần thiết nhằm tạo ra sự phát triển to àn diện cho bản thân và con, em mình ở nông thôn, d i dân nông thôn - đô thị trong tương lai vẫn tiếp tục diễn ra và có xu hướng gia tăng. Khu vực đô thị với nhu cầu lao động đa d ạng và phong phú, vô hình chung đ ã tạo việc làm và thu hút đư ợc sứ c lao động từ nông thôn, qua đó làm tăng thu nhập, cải thiện cuộ c sống. Di cư nông thôn – đô th ị đang góp ph ần tích cự c vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn hiện nay. Di cư nông thôn – đô thị không d ẫn đến nông thôn hóa thành thị, càng không h ẳn là sự dịch chuyển nghèo đói ra thành phố. Mặc dù lao động nhập cư có mức sống thấp hơn so với người dân thành phố, gặp nhiều khó khăn về vấn đ ề nhà ở, họ chưa đư ợc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, sức khỏ e, giải trí… Đối với các trung tâm đô th ị, di dân tự d o gây trở ngại cho công tác quản lý hành chính, tăng thêm sức ép đố i với hệ thống cơ sở hạ tầng vốn xuống cấp. Vì vậ y, bằng những chính sách ổn định, cụ thể cần tạo điều kiện đ ể người lao động nhập cư ổn định cuộc sống, bình đẳng và được hưởng đầy đủ quyền lợi và ngh ĩa vụ của người công dân, khuyến khích m ặt tích cực của lao động nhập cư đồng thời có những giải pháp ngăn ch ặn những ảnh hưởng tiêu cự c của di cư có thể tạo ra tại đ ịa bàn đô thị vốn đang phải đương đầu với nhiều vấn đ ề bứ c xúc về các tệ n ạn xã hội, 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2