intTypePromotion=1

Tiểu luận: Tác động thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Chia sẻ: Gnfvgh Gnfvgh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

0
216
lượt xem
54
download

Tiểu luận: Tác động thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Tác động thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm trình bày tổng quan về thuế thu nhập cá nhân, thực trạng thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Tác động thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC Môn học Phân tích chính sách thuế Đề tài: TÁC ĐỘNG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH GVHD: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÙNG HVTH: NGUYỄN ANH KHOA Lớp : NGÂN HÀNG – ĐÊM 6 – K20 TP.HCM, tháng 08 năm 2012
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................................................01 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ...............................................02 1. Khái niệm và nguồn gốc ra đời Thuế thu nhập cá nhân ..................................................................02 2. Đặc điểm cơ bản của Thuế thu nhập cá nhân ..................................................................................02 3. Vai trò của Thuế thu nhập cá nhân ................................................................................................. 03 4. Tác động của Thuế thu nhập cá nhân lên hoạt động sản xuất kinh doanh .......................................03 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM ......................07 1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về Thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam ............07 1.1 Quá trình hình thành và phát triển .................................................................................................07 1.2 Nhận định về quá trình hình thành và phát triển ............................................................................09 2. Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hiện nay .................10 2.1 Nội dung và phạm vi tác động .......................................................................................................10 2.1.1 Khái niệm chung .........................................................................................................................10 2.1.2 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú ......................................................................................12 2.1.3 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú ...........................................................................14 2.2 Kết quả đạt được ............................................................................................................................15 2.3 Các điểm hạn chế ..........................................................................................................................17 CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ...........................................................................................................................................19 1. Kiến nghị của cơ quan nhà nước trong dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân ......19 1.1 Về sửa đổi mức giảm trừ gia cảnh .................................................................................................19 1.2 Về sửa đổi biểu thuế luỹ tiến từng phần ........................................................................................22 1.3 Về sửa đổi, bổ sung phạm vi, đối tượng chịu thuế ........................................................................23 2. Đánh giá về những kiến nghị sửa đổi, bổ sung ................................................................................23 2.1 Nên hay không nên quy định mức tuyệt đối về giảm trừ gia cảnh trong Luật? .............................24 2.2 Nên điều chỉnh rộng hơn khoảng cách giữa các bậc thuế? ............................................................25 2.3 Thời điểm có hiệu lực của Luật sửa đổi, bổ sung ..........................................................................25 KẾT LUẬN .........................................................................................................................................27 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................................28
  3. Lời mở đầu a. Lý do chọn đề tài Thuế thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế quan trọng nhất của Nhà nước. Một mặt, thuế thu nhập cá nhân góp phần điều tiết thu nhập của người giàu, làm giảm khoảng cách giàu nghèo đang ngày một nới rộng trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu ngân sách quan trọng, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Do đó, việc xem xét, nghiên cứu chính sách thuế thu nhập cá nhân, đánh giá những mặt ưu điểm và mặt nhược điểm của nó, từ đó rút ra những bài học để xây dựng một chính sách phù hợp nhất, vừa thực hiện được các mục tiêu của quốc gia vừa không tạo gánh nặng lên người dân là rất cần thiết. b. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài hướng vào phân tích, đánh giá các thành tựu và các điểm còn hạn chế của chính sách thuế thu nhập cá nhân trong thời gian qua trong việc tác động đến thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó, đề tài góp phần xây dựng những kiến nghị, giải pháp phù hợp để hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân trong thời gian tới. c. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu và tiếp cận đề tài, phương pháp luận được sử dụng gồm: Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp logic,… d. Phạm vi nghiên cứu: Nội dung đề tài gồm 3 chương: - Chương I – Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân: Phân tích một số khái niệm cơ bản về thuế thu nhập cá nhân; - Chương II - Thực trạng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam: Tập trung đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam; phân tích những kết quả đạt được và các điểm còn hạn chế của những quy định liên quan đến lĩnh vực thuế này. - Chương III - Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân: Đưa ra các quan điểm về đề xuất bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện lĩnh vực này trong thời gian tới. 1   
  4. Chương I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN. 1. Khái niệm và nguồn gốc ra đời Thuế thu nhập cá nhân: Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới và đã có lịch sử hàng trăm năm. Thời kỳ mới ban hành, các nước thường đánh thuế vào đối tượng dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hoá... Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Vương quốc Anh vào năm 1799, Đức áp dụng năm 1808. Hoa Kỳ áp dụng loại thuế này muộn hơn nhưng cũng từ năm 1864. Các nước châu Âu còn lại và úc, Newzealand, Nhật Bản cũng áp dụng thuế TNCN vào nửa cuối thế kỷ 19. Các nước châu Á như: Thái Lan áp dụng năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984; Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992... cho đến nay đã có 180 nước áp dụng thuế TNCN. Sự ra đời của thuế TNCN bắt nguồn từ hai yêu cầu cơ bản đó là để thực hiện chứ năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và nhu cầu chi tiêu của nhà nước. 2. Đặc điểm cơ bản của Thuế thu nhập cá nhân: Là một chính sách trong hệ thống thuế, thuế TNCN mang đầy đủ tính chất cơ bản của thuế nói chung. Đó là: tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao, được xá lập trên nền tảng các vấn đề kinh tế, xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế và tính không hoàn trả tực tiếp. Ngoài những đăc điểm chung đó, thuế TNCN còn có một số đặc điểm riêng sau: - Do là thuế trực thu, thuế TNCN đối với cá nhân hành nghề tự do thì nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế, người ta không thể chuyển giao gánh nặng cho người khác. - Thuế TNCN có phạm vi thu rất rộng (toàn quốc). Đối tượng chịu thuế là tất cả các cá nhân có thu nhập (bao gồm công dân trong nước và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên có phát sinh thu nhập tại Việt Nam) và hầu như tất cả các khoản thu nhập của cá nhân đều chịu thuế không kể nguồn phát sinh trong nước hay ngoài nước. Do vậy, khả năng tao ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước rất cao. - Thuế TNCN là loại thuế gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Mặc dù cũng có quan điểm về hoàn thiện chính sách thuế TNCN là cần phải xây dựng một chính sách có tính trung lập không nhằm vào mục tiêu khác nhau, nhưng trên thực tế chưa quốc gia nào 2   
  5. tách rời hẳn thuế TNCN với một chính sách xã hội khác như phúc lợi công cộng chăm sóc sức khoẻ….. - Xét về mặt kỹ thuật, thuế TNCN là loại thuế phức tạp vì diện thu rất rộng, khi tính thuế phải xét đến hoàn cảnh của mỗi cá nhân và luôn kết hợp với chính sách xã hội. - Xét về gốc độ kinh tế, thuế TNCN không ảnh hưởng nhiều đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế, tính trung lập của thuế TNCN cao hơn so với chính sách thuế khác. Việc tăng, giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo sự thay đổi về cơ cấu kinh tế. 3. Vai trò của Thuế thu nhập cá nhân: Luật Thuế TNCN là một trong những sắc thuế quan trọng nhằm tiến tới công bằng xã hội khi nó đảm bảo cho mọi người bình đẳng về nghĩa vụ đối với đất nước và tạo điều kiện cho mọi người tự giác đóng thuế để tăng ngân sách nhà nước, củng cố an ninh - quốc phòng, tăng cường an sinh xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế... Luật thuế TNCN có những vai trò và mục tiêu sau: - Đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. - Đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng. - Đảm bảo huy động nguồn lực để Nhà nước giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội. - Tăng tỷ lệ đóng góp của thuế TNCN trong tổng thu ngân sách. - Tái phân phối của cải vật chất; điều tiết thu nhập tạo sự cân bằng tương đối giữa người giàu người nghèo. - Thực hiện công bằng về giữa người có thu nhập chính thức và người có thu nhập không chính thức. Việc thu được từ mảng thu nhập phi chính thức này vừa đạt được mục tiêu tăng ngân sách, vừa đạt được sự công bằng cho những công dân có mức thu nhập chính thức - vốn là đối tượng chính của luật thuế thu nhập hiện tại. - Hạn chế những hoạt động mà Nhà nước không muốn phát triển, chẳng hạn như đầu cơ vào thị trường bất động sản. - Thúc đẩy sự phát triển của một số hoạt động có đóng góp dài lâu cho sự tăng trưởng về giá trị kinh tế của quốc gia. 4. Tác động của Thuế thu nhập cá nhân lên hoạt động sản xuất kinh doanh: 3   
  6. a. Tác động lên quyết định đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp: Thuế TNCN tác động trực tiếp và gián tiếp lên hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi thuế TNCN tăng cao, các cá nhân sẽ phản ứng lại bằng cách giảm giờ làm, di chuyển đến vùng/miền có mức thuế suất thấp hoặc tìm những biện pháp khác nhằm làm giảm gánh nặng thuế. Trong những trường hợp này, doanh nghiệp phải bù đắp cho nhân viên của họ bằng cách tăng mức lương trước thuế và như thế, thuế TNCN có thể được di chuyển một phần hay toàn bộ qua doanh nghiệp. Sự di chuyển gánh nặng thuế này sẽ ảnh hưởng đến mức sinh lợi trên vốn đầu tư của doanh nghiệp. Vùng miền nào có thuế suất thấp thì mức sinh lợi trên vốn đầu tư của doanh nghiệp sẽ cao hơn và do đó sẽ có ưu thế hơn về thu hút doanh nhiệp đầu tư kinh doanh tại đó. Trong nghiên cứu của mình vào năm 1991, Papke đã đưa ra các bằng chứng về tầm quan trọng của mức lương trả cho người lao động đóng vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư sản xuất. Vì thuế TNCN có tác động nhất định đến mức lương trước thuế trả cho người lao động nên chênh lệch về thuế TNCN giữa các vùng/miền của Hoa Kỳ cũng đóng vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh. Trong một nghiên cứu khác của Coughlin, Terza và Arromdee năm 1991, các tác giả thấy rằng vùng/miền có mức lương trước thuế cao thì sẽ gây trở ngại cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment- FDI). Theo ước tính của các tác giả, thuế TNCN cao có tác động ngược chiều đáng kể đến khả năng của vùng/miền trong việc thu hút đầu tư FDI bởi vì thuế TNCN cao hơn sẽ dẫn đến mức lương trước thuế cao hơn. b. Tác động đến nguồn cung lao động: Thuế TNCN có tác động đáng kể đến nguồn cung lao động. Chúng ta có thể xem xét vấn đề này thông qua phân tích sau: Trong thị trường lao động, ta có đường cầu lao động (D1) và đường cung lao động (S1). Thị trường cân bằng ban đầu khi không có thuế với W1 tại điểm A. Bây giờ chính phủ đánh thuế tiền lương t VND/giờ (thuế TNCN). Thuế làm giảm thu nhập của người lao động t VND/giờ. Kết quả là cứ mỗi giờ lao động, chi phí lương sẽ tăng lên t VND, khi đó đường cung (S1) sẽ di chuyển đến (S2). Với đường cầu ở vị trí gốc, sự dịch chuyển này dẫn đến tiền lương cân bằng ở vị trí cao hơn W2 tại điểm B. Phạm vi ảnh hưởng của thuế được chia sẻ bởi người lao động và công ty phù hợp với độ co giãn của đường cung và đường cầu (đường nào co giãn hơn thì sẽ chịu gánh nặng thuế hơn). Tại vị trí cân bằng mới B, mức lương cân bằng mới là W2 và số giờ lao động lao động cung ứng là H2
  7. TNCN phải nộp cho nhà nước. Như vậy gánh nặng thuế TNCN do người lao động chịu là W1WL và gánh nặng thuế TNCN do doanh nghiệp chịu là W1W2. Tiền lương ( W)  (S2) (S1) (t) B  W2 A  W1 WL C  (D1) H2 H1 Giờ lao động (H) Như vậy ta thấy rằng, gia tăng thuế TNCN có thể sẽ gây ra giảm nguồn cung lao động và tăng gánh nặng chi phí đối với cả người lao động và doanh nghiệp. c. Tạo ra sự dịch chuyển các loại hình sản xuất kinh doanh: Sự dịch chuyển này bao gồm 2 điểm sau: - Các lĩnh vực có thuế TNCN thấp thì mức sinh lời tương đối trên cơ sở cùng mức rủi ro sẽ trở nên hấp dẫn hơn, thu hút nguồn vốn từ các cá nhân di chuyển đến. Nhà nước có thể dựa trên yếu tố này đề đưa ra chính sách khuyến khích, hạn chế hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh theo những chủ trương của mình. Chẳng hạn như để khuyến khích người dân tiết kiệm nhằm tạo nguồn vốn phục vụ cho đầu tư, Nhà nước có thể không đánh thuế TNCN hoặc áp dụng với một mức thuế suất thấp, hấp dẫn hơn đối với hình thức tiển gửi tiết kiệm so với các loại hình đầu tư khác như chuyển nhượng bất động sản, đầu tư chứng khoán. Hoặc khi lĩnh vực chứng khoán, bất động sản đang bị trì trệ, Nhà nước có thể giảm thuế TNCN cho các thu nhập từ các lĩnh vực này nhằm kích thích nguồn vốn trong dân chúng di chuyển vào các lĩnh vực này. - Các loại thuế khác nhau có thể tạo nên sự chuyển dịch giữa các loại hình hoạt động kinh doanh nhằm giảm nặng gánh nặng thuế. Chẳng hạn như khi người dân phải chịu thuế TNCN cao hơn nhiều so với thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) do quy định thuế suất, các mức giảm trừ, các ưu đãi chưa hợp lý, người dân có thể thành lập doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,…), tận dụng lợi thế các loại hình doanh 5   
  8. nghiệp trên về thuế suất, các mức giảm trừ và các ưu đãi khác so với hình thức kinh doanh cá nhân, hộ gia đình nhằm mục tiêu giảm gánh nặng về thuế. 6   
  9. Chương II: THỰC TRẠNG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM. 1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về Thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam: 1.1 Quá trình hình thành và phát triển: Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, hệ thống chính sách thuế đã được hình thành từ năm 1991 và từng bước hoàn thiện qua các lần cải cách sau: - Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 50-LCT/HĐNN8 ngày 07/01/1991 về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Nghị định số 119/HĐBT ngày 17/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư số 22/TC-TCT ngày 22/4/1991 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Nghị quyết số 32/NQ-UBTVQH9 ngày 10/3/1993 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Nghị định số 23/CP ngày 23/3/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành nghị quyết số 32/NQ-UBTVQH9 ngày 10/3/1993 của Uỷ ban thường vụ quốc hội về việc bổ sung pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư số 29/TC-TCT ngày 01/4/1993 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ về việc bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Pháp lệnh không số ngày 19/5/1994 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Nghị định số 05/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư số 27/TC-TCT ngày 30/3/1995 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 05/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; 7   
  10. - Nghị định số 30/CP ngày 05/4/1997 của Chính phủ Sửa đổi một số điều của Nghị định số 05/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư số 39/TC-TCT ngày 26/6/1997 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành Nghị định số 5/CP ngày 20/01/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Pháp lệnh không số ngày 06/02/1997 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Pháp lệnh số 14/1999/PL-UBTVQH10 ngày 30/6/1999 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư số 15/2000/TT-BTC ngày 23/02/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung và sửa đổi một số điểm trong Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26 tháng 6 năm 1997của BộTài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 05/CP ngày 20 tháng 1 năm 1995 và Nghị định số 30/CP ngày 5 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 35/2001/PL-UBTVQH10 ngày 19/5/2001 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10; - Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Nghị định số 147/2004/NĐ-CP, ngày 23/7/2004 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; - Thông tư 12/2005/TT-BTC ngày 04/02/2005 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính. - Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH do Quốc hội ban hành ngày 21/07/2007 - Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật thuế TNCN - Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng dẫn thi hành nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN. 8   
  11. - Thông tư 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009 của Bộ Tài Chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung thông tư số 84/2008/TT-BTC. 1.2 Nhận định về quá trình hình thành và phát triển: Luật Thuế TNCN 2007 ra đời là một bước ngoặt lớn đầy ý nghĩa thể hiện tư duy đổi mới trong việc quản lý pháp luật về lĩnh vực thuế này. So với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật Thuế TNCN 2007 có những điểm mới sau: - Về đối tượng nộp thuế: Cá nhân kinh doanh đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và một số thu nhập theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành sẽ được điều chỉnh bởi Luật thuế TNCN. - Ngoài ra, có bổ sung thêm đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế, quà tặng. - Thu nhập chịu thuế được mở rộng đối với các khoản như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản trong đó có chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất ở; chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước. Một số khoảng thu nhập từ thừa kế, quà tặng; thu nhập từ trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino. - Thay việc áp dụng mức khởi điểm chịu thuế bằng quy định về giảm trừ gia cảnh và mở rộng áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh. Về giảm trừ gia cảnh, ngoài việc giảm trừ cho cá nhân người tạo ra thu nhập như quy định hiện hành, luật còn quy định mức giảm trừ cho những người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng. Đây là nội dung cơ bản nhất của Luật, thể hiện được tính công bằng, hợp lý trong điều tiết TNCN, khắc phục được nhược điểm bình quân cào bằng qua mức khởi điểm của thuế thu nhập cao. - Người nộp thuế được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học, khoản đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không có nơi nương tựa. - Xác định cụ thể về thu nhập tính thuế để đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu, đặc biệt là khi xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của các cá nhân cư trú: Ngoài khoản giảm trừ gia cảnh, thu nhập này còn được trừ thêm các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo 9   
  12. hiểm bắt buộc, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo để áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phân. - Quy định riêng về thu nhập tính thuế, biểu thuế giữa các cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Thống nhất nghĩa vụ thuế giữa người Việt Nam và người nước ngoài. Về biểu thuế, có ba điểm mới là: • Áp dụng thống nhất biểu thuế lũy tiến từng phần, xóa bỏ được sự phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài (người Việt Nam đang nộp thuế cao hơn); • Thuế suất lũy tiến từng phần áp dụng đối với cá nhân có thu nhập về tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh là những thu nhập chính với mức thuế thấp hơn trước bảo đảm được tính thống nhất và bình đẳng trong động viên; • Thuế suất cao nhất từ 40% xuống còn 35%, thuế suất thấp nhất 10% giảm xuống còn 5%, vừa nhằm thực hiện chủ trương khoan sức dân, vừa tạo sự hợp lý để khuyến khích người nộp thuế tự nguyện chấp hành. 2. Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hiện nay: 2.1 Nội dung và phạm vi tác động: Theo luật thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn dưới luật (nghị định của Chính Phủ và thông tư của Bộ Tài Chính), nội dung và phạm vi tác động bao gồm: 2.1.1 Khái niệm chung: a. Thu nhập chịu thuế: - Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. - Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm: • Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; • Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật 10   
  13. lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội; • Tiền thù lao dưới các hình thức; • Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; • Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; • Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm: Tiền lãi cho vay; Lợi tức cổ phần; Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ. - Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế; Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác. - Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản. - Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm: Trúng thưởng xổ số; Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại; Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác. - Thu nhập từ bản quyền, bao gồm: Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; Thu nhập từ chuyển giao công nghệ. - Thu nhập từ nhượng quyền thương mại. - Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. - Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. b. Thu nhập được miễn thuế 11   
  14. - Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau. - Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất. - Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất. - Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau. - Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường. - Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất. - Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. - Thu nhập từ kiều hối. - Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật. - Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả. - Thu nhập từ học bổng, bao gồm: Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước; Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó. - Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật. - Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận. - Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt 2.1.2 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú: 12   
  15. a. Thu nhập tính thuế: - Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế trừ các khoản sau: • đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc; • Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo bao gồm: (i) Khoản đóng góp vào tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa; (ii) Khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học. • Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau: (i)Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm); (ii)Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng. - Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng là thu nhập chịu thuế của các hoạt động này. b. Biểu thuế suất: - Đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công: biểu thuế áp dụng là biểu thuế luỹ tiến từng phần Bậc Phần thu nhập tính thuế/năm Phần thu nhập tính thuế/tháng Thuế suất thuế (triệu đồng) (triệu đồng) (%) 1 Đến 60 Đến 5 5 2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10 3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15 4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20 5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25 6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30 7 Trên 960 Trên 80 35 - Đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng: biểu thuế áp dụng là biểu thuế toàn phần 13   
  16. Thu nhập tính thuế Thuế suất (%) a) Thu nhập từ đầu tư vốn 5 b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5 c) Thu nhập từ trúng thưởng 10 d) Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10 đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn 20 Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán nộp theo từng lần giao dịch 0,1 e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản có xác định được chi phí 25 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản không xác định được chi phí 2 2.1.3 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú: a. Đối với thu nhập từ kinh doanh: - Thuế đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân không cư trú được xác định bằng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nhân với thuế suất quy định sau đây: • Doanh thu là toàn bộ số tiền phát sinh từ việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả chi phí do bên mua hàng hoá, dịch vụ trả thay cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả. Trường hợp thoả thuận hợp đồng không bao gồm thuế TNCN thì doanh thu tính thuế phải quy đổi là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được dưới bất kỳ hình thức nào từ việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành các hoạt động kinh doanh. • Thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh quy định đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh như sau: (i) 1% đối với hoạt động kinh doanh hàng hoá; (ii) 5% đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ; (iii) 2 % đối với hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải và hoạt động kinh doanh khác. b. Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công: - Thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công quy định tại luật này nhân với thuế suất 20%. - Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là tổng số tiền lương, tiền công mà cá nhân không cư trú nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập. c. Thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn: 14   
  17. - Thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc đầu tư vốn vào tổ chức, cá nhân tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%. d. Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn: - Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc chuyển nhượng phần vốn tại tổ chức, cá nhân Việt Nam nhân với thuế suất 0,1%, không phân biệt việc chuyển nhượng được thực hiện tại Việt Nam hay tại nước ngoài. e. Đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản : - Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam của cá nhân không cư trú được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản nhân với thuế suất 2%. f. Đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại: - Thuế đối với thu nhập từ bản quyền của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%. - Thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%. g. Đối với thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng: - Thuế đối với thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều này nhân với thuế suất 10%. - Thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng của cá nhân không cư trú là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng theo từng lần trúng thưởng tại Việt Nam; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là phần giá trị tài sản thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng theo từng lần phát sinh thu nhập mà cá nhân không cư trú nhận được tại Việt Nam. 2.2 Kết quả đạt được: Qua hơn ba năm thực hiện, pháp luật về thuế TNCN đã đạt được những mục tiêu đề ra khi ban hành. Cụ thể: - Một là, bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế. • Về đối tượng chịu thuế: Ngoài việc kế thừa có chọn lọc các chính sách điều tiết thu nhập trước đây (thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh 15   
  18. nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất), Luật thuế TNCN đã bổ sung điều tiết đối với các khoản thu nhập mới phát sinh, như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng. Bảng 2.1: Tiền thuế thu được do bổ sung điều tiết đối với các khoản thu (tỷ đồng) Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 1. Thu từ đầu tư vốn 4,8 642,0 1.300,0 2. Thu từ chuyển nhượng vốn, chứng khoán 3,7 188,7 210,0 3. Thu từ thừa kế, quà tặng (trừ bất động sản) 15,0 30,5 30,0 Tổng cộng 23,7 861,2 1.540,0 Nguồn: Bộ Tài Chính • Về số người nộp thuế: đã tăng lên qua các năm: Năm 2009 có trên 747.000 cá nhân nộp thuế từ tiền lương, tiền công; dự kiến năm 2011 có 1.300.000 cá nhân nộp thuế. Số người nộp thuế thu nhập từ kinh doanh: Năm 2009 có khoảng 149.700 hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nộp thuế TNCN; đến năm 2011 có gần 194.000 hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nộp thuế. Đối với chuyển nhượng, thừa kế bất động sản: Năm 2009 có gần 850.000 lượt chuyển nhượng, thừa kế; Năm 2011 có trên 1 triệu lượt. - Hai là, động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội; thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với cá nhân có thu nhập, không phân biệt cá nhân người nước ngoài với người Việt Nam. Luật Thuế TNCN có quy định giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú (mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế 4 triệu đồng/tháng; cho mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng) và được áp dụng thống nhất không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài. Quy định này đã thể hiện nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế của người có thu nhập. Bên cạnh đó, đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý thu, tính đến hết năm 2011 đã có trên 15 triệu cá nhân được cấp mã số thuế (12,6 triệu cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ thu nhập khác; 3,2 triệu cá nhân có thu nhập từ kinh doanh). Trong đó chỉ có khoảng 1,3 triệu cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công (chiếm 10,2%); 194 nghìn hộ, cá nhân kinh doanh (chiếm 6%) phải nộp thuế. 16   
  19. - Ba là, góp phần đảm bảo nguồn thu NSNN: Qua 3 năm thực hiện Luật, số thu thuế TNCN có sự tăng trưởng khá: số thu năm 2009 đạt 110% so với năm 2008, đạt 3,4% tổng số thu NSNN (năm 2009 Quốc hội cho miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, miễn thuế cả năm đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn). Số thu 2010 bằng 183,6% so với thực hiện 2009, đạt 6,1% tổng thu nội địa (khoảng 4,7% tổng thu NSNN). Năm 2011 số thu ước bằng 141,38% so với số thu 2010, đạt khoảng 7,1% số thu nội địa (khoảng 5,5% tổng thu NSNN). - Bốn là, góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư: Tính đến hết năm 2011, ngành Thuế đã hoàn thành việc cấp mã số thuế cho 15.894.719 cá nhân. Thông qua cá nhân, cơ quan chi trả được cấp mã số thuế, ngành thuế nắm được số người nộp thuế, số người chưa phải nộp thuế đối với thu nhập từ tiền lương tiền công và từ thu nhập khác, số thuế thu được từ các loại thu nhập của cá nhân theo phương thức khấu trừ tại nguồn và theo phương thức kê khai, nộp thuế. 2.3 Các điểm hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật Thuế TNCN đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, một số quy định còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó khăn cho công tác quản lý thuế. Cụ thể: - Thứ nhất, mức thuế thu nhập chịu thuế không hợp lý, chưa tính đúng, tính đủ chi phí tối thiểu cho người lao động và để tái tạo sức lao động cũng như trang trải các chi phí xã hội cần thiết và trách nhiệm nâng cao chất lượng cuộc sống. Thực tế từ năm 2009 đến nay, do giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng cao làm ảnh hưởng đến đời sống của người nộp thuế. Vì vậy, cần thiết phải điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định trong Luật đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh. - Thứ hai, mức thu quá cao gồm 7 mức thuế từ 5% đến 35% và khoảng cách giữa các bậc thu nhập để tính thuế chưa hợp lý. Điều này đã làm giảm đi năng lực kinh doanh, không động viên sự phát triển của doanh nghiệp và người lao động, chưa khuyến khích, thu hút chuyên gia, lao động giỏi có thu nhập cao vào Việt Nam làm việc. Doanh nghiệp thì cố gắng cải thiện quỹ lương mấu chốt để làm sao có thu nhập cho người lao động cao hơn thì ngược lại phải đóng thuế cho người lao động nhiều hơn và thực tế phần cải thiện lương cho người lao động rất ít. Do đó đóng bảo hiểm xã hội và đóng thuế cả là một vấn đề hết sức nặng đối với doanh nghiệp. 17   
  20. Ngoài ra, khi xem xét kinh nghiệm của vài nước qui đổi theo ngang giá sức mua PPP thì mức khởi điểm để tính thuế TNCN của Việt Nam cao. Ví dụ năm 2012, mức khởi điểm tính thuế của Thái Lan là 8,19 triệu, Trung Quốc là 7,6 triệu, trong khi Việt Nam thu nhập tính thuế là 5 triệu. - Thứ ba, mức giảm trừ gia cảnh quá thấp: 1,6 triệu, một người, một tháng, lại qui định cố định không tính đến yếu tố trượt giá, nhu cầu an sinh xã hội và mức sống của người dân để xác định mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp. - Thứ tư, một số quy định về phạm vi, đối tượng đánh thuế chưa phù hợp với thực tế, cụ thể như: Quy định về các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính trong thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công chưa bao quát các trường hợp mới phát sinh theo quy định của pháp luật liên quan mới sửa đổi, bổ sung; quy định về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản chưa bao quát được các trường hợp uỷ quyền chuyển nhượng nhà, đất mà người uỷ quyền có đầy đủ các quyền về nhà, đất, trường hợp đổi nhà, đổi đất có phát sinh thu nhập nên thiếu cơ sở để thu thuế. - Thứ năm, một số quy định về kê khai, quyết toán thuế quy định tại Luật thuế TNCN còn chưa phù hợp với thực tế, nhất là đối với hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp thuế khoán. 18   
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2