intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tiểu luận: Tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình tổng hợp thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh

Chia sẻ: Ngô Thủy Xuân | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:17

1
1.117
lượt xem
370
download

Tiểu luận: Tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình tổng hợp thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình tổng hợp thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh nhằm giúp bạn nắm bắt các kiến thức về kế toán. Cùng tham khảo nhé.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình tổng hợp thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh

  1. Tiểu Luận Tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình tổng hợp thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh
  2. M Mục Lục Lời mở đầu .......................................................................................................................... 2 1.Tài khoản kế toán. ............................................................................................................ 3 1.1. Khái niệm tài khoản kế toán: ....................................................................................... 3 1.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản kế toán .................................................................. 3 1.3. Phân loại tài khoản kế toán: ......................................................................................... 4 1.3.1. Phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế: ................................................................ 4 1.3.2. Phân loại tài khoản kế toán theo công dụng và kết cấu: ........................................... 5 1.3.3. Các tiêu thức phân loại tài khoản kế toán khác: ....................................................... 6 1.4. Hệ thống tài khoản kế toán: ......................................................................................... 6 2. Bảng cân đối kế toán: ...................................................................................................... 8 2.1.Khái niệm: ..................................................................................................................... 8 2.2.Mục đích của bảng cân đối kế toán:.............................................................................. 8 2. 3. Nội dung ghi trên bảng cân đối kế toán: .................................................................... 9 2.3.1 Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần: ............................................................. 9 2.3.2 Bảng cân đối kế toán có hai kiểu kết cấu: ............................................................... 10 2.3.3 Nguyên tắc sắp xếp các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán: ................................... 10 2. 4.Ưu điểm và hạn chế. .................................................................................................. 10 2. 5. Ý nghĩa của bảng cân đối kế toán. ............................................................................ 10 3.Mối quan hệ giữa tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán. ....................................... 11 3.1 Cơ sở mối quan hệ: ..................................................................................................... 11 3.2 Mối quan hệ giữa tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán: .................................... 11 4.Liên hệ thực tế mối quan hệ tài khoản kế toán với bảng cân đối kế toán. ..................... 12 Lời mở đầu Trong công tác quản lý, các thông tin kinh tế đặc biệt là những thông tin từ tài liệu kế toán của các đơn vị là đặc biệt quan trọng.Với chức năng của mình hệ thống thông tin kế toán đã thu thập thông tin từ quá trình kinh tế của đơn vị thông qua chứng từ kế toán. Tuy nhiên thông tin từ chứng từ kế toán là những thông tin đơn lẻ và độc lập về từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh , từng tài sản, từng nguồn vốn.Vì vậy để các thông tin trên trở nên hữu ích
  3. cho người sử dụng chúng đã được chuyển vào xử lý trên các tài khoản kế toán. Do yêu cầu quản lý các đơn vị cần phải có số liệu tổng hợp trong kỳ kinh doanh của tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vì thế cần thiết phải có một phương pháp tổng hợp tất cả các số liệu trong kỳ kinh doanh – đó là phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán. Trong đó việc quan trọng sau mỗi kỳ kinh doanh đó là lập bảng cân đối kế toán sao cho phù hợp với tài khoản kế toán đã được định khoản từ trước. Sau đây nhóm 11 sẽ nghiên cứu về tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình tổng hợp thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp sau mối kỳ kinh doanh” 1.Tài khoản kế toán. 1.1. Khái niệm tài khoản kế toán: Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán phân loại để phản ánh và kiểm tra một cách thường xuyên liên tục, có hệ thống tình hình và sự vận động của từng đối tượng kế toán. 1.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản kế toán Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán được sử dụng để phản ánh, kiểm tra, giám sát từng đối tượng kế toán cụ thể trong đơn vị. Tài khoản kế toán phản ánh, kiểm tra và giám sát tình hình hiện có và sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể. Sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể là sự vận động của hai mặt đối lập. Để phản ánh cả hai mặt vận động của đôi tượng kế toán, tài khoản kế toán phải được xây dựng theo hình thức hai bên. Theo quy ước chung thì tài khoản kế toán hình chữ T. bên trái gọi là bên Nợ còn bên phải gọi là bên Có. Sơ đồ kết cấu chung của tài khoản kế toán dưới dạng chữ T như sau: Tài khoản... Nợ ( Ghi tên gọi của TK) Có
  4. Tài khoản kế toán phản ánh các đối tượng kế toán theo 3 chỉ tiêu: Số dư đầu kỳ Số phát sinh tăng trong kỳ Số dư cuối kỳ 1.3. Phân loại tài khoản kế toán: Phân loại tài khoản kế toán là việc sắp xếp các tài khoản kế toán thành từng loại tài khoản, từng nhóm tài khoản có những đặc trưng giống nhau dựa trên cơ sở tiêu thức phân loại nhất định. 1.3.1. Phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế: * Loại tài khoản tài sản: Bao gồm các tài khoản phản ánh các đối tượng là tài sản của đơn vị. căn cứ vào nội dung cụ thể, loại tài khoản tài sản được chia thành các nhóm tài khoản sau: - Nhóm tài khoản phản ánh tài sản tiền và các khoản tương đương tiền. - Nhóm tài khoản phản ánh đầu tư tài chính ngắn hạn. - Nhóm tài khoản phản ánh tài sản nợ phải thu. - Nhóm tài khoản phản ánh hàng tồn kho. - Nhóm tài khoản phản ánh tài sản cố định và bất động sản đầu tư. - Nhóm tài khoản phản ánh đầu tư tài chính dài han. * Loại tài khoản phản ánh nguồn vốn: - Nhóm tài khoản phản ánh nợ phải trả. - Nhóm tài khoản phản ánh nguồn vốn của chủ sở hữu. * Loại tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh: - Nhóm tài khoản phản ánh quá trình mua hàng. - Nhóm tài khoản phản ánh quá trình sản xuất. - Nhóm tài khoản phản ánh quá trình bán hàng. - Nhóm tài khoản phản ánh quá trình xác định kết quả.
  5. 1.3.2. Phân loại tài khoản kế toán theo công dụng và kết cấu: * Loại tài khoản chủ yếu: Nhóm tài khoản chủ yếu phân loại tài sản: Bao gồm các tài khoản được sử dụng phản ánh và cung cấp các thông tin về số hiện có, tình hình biến động của từng loại tài sản, kiểm tra, giám sát tình hình quản lý và sử dụng tài sản. Nhóm tài khoản chủ yếu phản ánh nguồn vốn: Bao gồm các tài khoản được sử dụng phản ánh và cung cấp thông tin số hiện có và tình hình biến động của từng nguồn vốn, qua đó kiểm tra, giám sát được tình hình sử dụng hợp lý và có hiệu quả của từng nguồn vốn, kiểm tra được tình hình huy động vốn của đơn vị. Nhóm tài khoản chủ yếu vừa phản ánh tài sản, vừa phản ánh nguồn vốn ( Nhóm tài khoản hỗn hợp) : công dụng của những tài khoản thuộc nhóm này giúp cho doanh nghiệp nắm được tình hình thanh toán công nợ trong quan hệ thanh toán với các tổ chức và cá nhân trong nội bộ doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp. Qua đó giúp cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kỷ luật thanh toán nhằm hạn chế tình hình chiếm dụng vốn hoặc bị chiếm dụng một cách không hợp lý. Loại tài khoản điều chỉnh: Nhóm tài khoản điều chỉnh tăng: bao gồm các tài khoản được sử dụng để phản ánh và cung cấp số liệu nhằm xác định đúng giá trị thực tế của các loại tài sản của đơn vị bằng cách cộng thêm số liệu phản ánh trên những tài khoản này vào số liệu trên tài khoản chủ yếu được điều chỉnh. Nhóm tài khoản điều chỉnh giảm: bao gồm các tài khoản được sử dụng để phản ánh và cung cấp số liệu nhằm xác định đúng giá trị thực tế của các loại tài sản của đơn vị bằng cách trừ bớt số số liệu phản ánh trên những tài khoản này vào số liệu trên tài khoản chủ yếu được điều chỉnh. Nhóm tài khoản tập hợp- phân phối: thuộc nhóm này gồm các tài khoản dùng để tập hợp các loại chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, sử dụng kinh phí và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí; giúp cho đơn vị kiểm tra việc thực hiện các dự toán chi phí, kế hoạch chi phí. Nhóm tài khoản phân phối dự toán: bao gồm các tài khoản được sử dụng để phản ánh, cung cấp thông tin nhằm kiểm tra, giám sát các khoản chi phí mà thời kỳ phát sinh và thời kỳ phát huy tác dụng không phù hợp với nhau về thời gian. Công dụng của những tài khoản thuộc nhóm này
  6. là để phân bổ chi phí hù hợp giữa các kỳ kinh doanh nhằm làm cho chi phí sản xuất kinh doanh được ổn định giữa các kỳ. Nhóm tài khoản tính giá thành: bao gồm các tài khoản dùng để tập hợp chi phí cầu thành giá và tính giá các đối tượng cần tính giá. Công dụng của các tài khoản thuộc nhóm này giúp kế toán tập hợp chi phí cấu thành giá và tính giá của các đối tượng cần tính giá, kiểm tra được tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh. Nhóm tài khoản doanh thu: là những tài khoản dùng để phản ánh doanh thu hoặc thu nhập của các hoạt động: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác… Công dụng của các tài khoản thuộc nhóm này giúp cho doanh nghiệp xác định doanh thu thực hiện trong kỳ của cac hoạt động. Nhóm tài khoản xác định kết quả: bao gồm các tài khoản dùng để phản ánh thu nhập và xác định kết quả hoạt động của đơn vị. công dụng của các tài khoản thuộc nhóm này giúp doanh nghiệp phản ánh được toàn bộ thu nhập, chi phí trong từng kỳ kinh doanh và xác định được kết quả lãi lỗ và hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra được tình hình thực hiện kế hoạch thu nhập, kế hoạch lợi nhuận. 1.3.3. Các tiêu thức phân loại tài khoản kế toán khác: * Phân loại tài khoản kế toán theo mức độ phản ánh: Tài khoản kế toán tổng hợp: là những tài khoản phản ánh chỉ tiêu kinh tế, tài chính tổng hợp để cung cấp số liệu lập các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính. Tài khoản kế toán chi tiết: là những tài khoản dùng để phản ánh cụ thể, chi tiết hơn số liệu kế toán đã ghi ở tài khoản tổng hợp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài chính của nhà quản lý của ngành. *phân loại tài khoản kế toán theo mối quan hệ với báo cáo tài chính: Tài khoản trong bảng cân đối kế toán: là những tài khoản kế toán có liên quan đến việc cung cấp số liệu để lập các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán và các báo cáo tài chính. Tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán: là những tài khoản dùng để phản ánh tài sản của các doanh nghiệp khác mà đơn vị có quyền quản lý sử dụng theo hợp đồng kinh tế, pháp luật nhưng không có quyền sở hữu những tài sản này. 1.4. Hệ thống tài khoản kế toán: *Nguyên tắc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán: Hệ thống tài khoản kế toán là danh mục hệ thống hóa các tài khoản kế toán sử dụng để phản ánh các loại tài sản nguồn vốn, các quá trình
  7. sản xuất kinh doanh và sử dụng nguồn kinh phí nhằm thu thập thông tin phục vụ công tác quản lý. Hệ thống tài khoản kế toan xây dựng có số lượng các tài khoản phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán không được trùng lặp hoặc bỏ sót các đối tượng kế toán. Đối tượng kế toán bao gồm các loại tài sản, nguồn vốn tồn tại dưới hình thái khác nhau, có sự vận động và yêu cầu quản lý khác nhau, để thu thập thông tin đầy đủ phục vụ quản lý các tài khoản được mở cho từng đối tượng, đảm bảo tính rõ ràng, dễ hiểu. Hệ thống tài khoản kế toán xây dựng phải phù hợp với cơ chế, chính sách quản lý kinh tế tài chính hiện hành, đồng thời phải xét đến sự phát triển trong tương lai về chính sách quản lý kinh tế tài chính . Hệ thống tài khoản kế toán phải đươc sắp xếp logic khoa học theo mối quan hệ giữa các tài khoản và đáp ứng yêu cầu thông tinh phục vụ công tác quản lý. *Phương pháp xây dựng hệ thống tài khoản kế toán: Mỗi tài khoản kế toán có tên gọi riêng, được xác định dựa vào nội dung kinh tế của đối tượng tài khoản phản ánh. Để giúp cho việc ghi chép trên sổ được nhanh chóng, gọn nhẹ, tăng hiệu suất công tác kế toán và thực hiện cơ giới hóa công tác kế toán, mỗi tài khoản được đặt một ký hiệu bằng con số gọi là số hiệu tài khoản. Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp bao gồm 86 tài khoản kế toán trong bảng được chia thành 9 loại được đánh số hiệu từ 111 đến 911, và 6 tài khoản kế toán ngoài bảng được đánh số hiệu từ 001 đến 008. những tài khoản này dùng để phản ánh phát sinh những tài sản hiện có ở doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp không có quyền sở hữu. và một số chỉ tiêu đã được phản ánh ở các tài khoản trong bảng nhưng cần phải theo dõi chi tiết hơn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý. Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp quy định mỗi tài khoản cấp 1 được đánh số hiệu bằng 3 con số; trong đó số đầu chỉ loại tài khoản, số thứ 2 chỉ nhóm tài khoản, còn số thứ 3 chỉ số thứ tự của tài khoản trong loại và nhóm đó. Tài khoản cấp 2 gồm 4 số: trong đó ba số đầu chỉ tài khoản cấp 1 còn số thứ tư chỉ số thứ tự của tài khoản cấp 2 trong tài khoản cấp 1. Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp có phần giải thích nội dung ghi chép của từng tài khoản, tức là quy định nội dung đối tượng kế toán phản ánh, quy định những quan hệ đối ứng tài khoản chủ yếu và phương hướng vận dụng vào từng ngành cụ thể để đảm bảo tính thống nhất.
  8. 2. Bảng cân đối kế toán: 2.1.Khái niệm: Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng thể, là bảng tổng hợp - cân đối tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn vốn hiện có của đơn vị ở một thời điểm nhất định. Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của một kỳ báo cáo. Thực chất của bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp cuối kỳ hạch toán. Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản , nguồn vốn, và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, ta có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đó là khái niệm về Bảng cân đối kế toán của Việt nam, và không nằm ngoài những chuẩn mực kế toán quốc tế. 2.2.Mục đích của bảng cân đối kế toán: Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế IASC đã đưa ra "những quy định chung về việc lập và trình bày các báo cáo tài chính"năm 1998. ví dụ như: Đưa ra các khái niệm làm cơ sở cho việc lập và trình bày các báo cáo tài chính cho các đối tượng sử dụng bên ngoài; hoặc hướng dẫn việc lập tiêu chuẩn kế toán cho quá trình xây dựng các chuẩn mực và trợ giúp những người lập báo cáo… Việc áp dụng những chuẩn mực kế toán được quốc tế chấp nhận như là một biện pháp cần thiết tạo tính minh bạch và giải thích đúng đắn các báo cáo tài chính. Bảng cân đối kế toán không nằm ngoài những chuẩn mực quốc tế, nên nó cũng thể hiện tính minh bạch trong các báo cáo tài chính. Đây chính là mục đích của các báo cáo tài chính nói chung của các doanh nghiệp hay là mục đích của Bảng cân đối kế toán nói riêng. Tính minh bạch của Bảng cân đối kế toán được đảm bảo thông qua việc công bố đầy đủ và có thuyết minh rõ ràng về những thông tin hữu ích, cần thiết cho việc ra quyết định kinh tế của nhiều đối tượng sử dụng.
  9. 2. 3. Nội dung ghi trên bảng cân đối kế toán: 2.3.1 Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần: +Phần tài sản:bao gồm một hệ thống chỉ tiêu kinh tế được chia thành từng loại,mục,khoản phản tình trạng tài sản và cơ cấu tài sản Về mặt kinh tế số liệu của hệ thống chỉ tiêu kinh tế bên tài sản phản ánh tổng quát năng lực sản xuất kinh doanh của đơn vị. Về mặt pháp lý số liệu của hệ thốn chỉ tiêu kinh tế này phản ánh giá trị tài san mà doanh nghiệp dang chiếm hữu và sử dụng cho các hoatij động kinh doanh. +Phần nguồn vốn:bao gồm một hệ thống chỉ tiêu kinh tế được chia thành từng loại,mục,khoản phản tình trạng nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn Về mặt kinh tế số liệu của hệ thống chỉ tiêu kinh tế bên nguồn vốn phản ánh tổng quát tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý số liệu của hệ thống chỉ tiêu kinh tế này phản ánh trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước chủ đầu tư và chủ nợ về các nguồn vốn ma doanh nghiệp huy động cho hoạt động kinh doanh của mình * Hệ thống chỉ tiêu trình bày trong bảng cân đối kế toán phải gồm những khoản mục sau đây: - Tiền và các khoản tương đương tiền - Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn - Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác - Hàng tồn kho - Tài sản nghắn hạn khác - Tài sản cố định hữu hình - Tài sản cố định vô hình - Các khoản đầu tư tài chính dài hạn - Chi phí xây dựng cơ bản dở dang - Tài sản dài hạn khác - Vay ngắn hạn - Các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn khác - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước - Các khoản vay dài hạn và nợ phải trả dài hạn khác - Các khoản dự phòng - Phần sơ hữu của cổ đông thiểu số - Vốn góp
  10. - Các khoản dự trự - Lợi nhuận chưa phân phối *Ngoài ra trên bảng cân đối kế toán có các chỉ tiêu ngoài bảng: - Tài sản thuê ngoài - Hàng hóa nhận bán hộ,nhận ký gửi - Vật tư hàng hóa nhận giư hộ ,nhận gia công - Nợ khó đòi đã sử lý - Ngọai tệ các lọai - Hạn mức kinh phí còn lại - Nguồn vốn khấu hao cơ bản hiện có 2.3.2 Bảng cân đối kế toán có hai kiểu kết cấu: - Kết cấu kiểu hai bên - Kết cấu kiểu một bên 2.3.3 Nguyên tắc sắp xếp các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán: - Mối quan hệ tài trợ giữa tài sản và nguồn vốn - Các chỉ tiêu bên tài sản được sắp xếp theo tính chất lưu động giảm dần của tài sản - Các chỉ tiêu bên nguồn vốn được sắp xếp theo tính thanh khoản của nguồn vốn giảm dần 2. 4.Ưu điểm và hạn chế. Với bảng cân đối có kết cấu một bên thì ta sẽ dễ dàng so sánh số liệu của cuối kỳ và đầu kỳ, nhưng lại gặp khó khăn trong việc mở khoản mới. Với bảng có kết cấu ngang ta có thể thấy được rõ mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhưng lại gặp khó khăn trong việc so sánh sự biến động của từng tài khoản cấp 1. 2. 5. Ý nghĩa của bảng cân đối kế toán. Thông qua bảng cân đối kế toán, ta có thể xem xét quan hệ cân đối từng bộ phận vốn và nguồn vốn, cũng như các mối quan hệ khác. Và thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đó giúp cho người quản lý thấy rõ tình hình huy động nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vay nợ để mua sắm từng loại tài sản, hoặc quan hệ giữa công nợ khả năng thanh toán, kiểm tra các quá trình hoạt động , kiểm tra tình hình chấp hành kế hoạch…Từ đó phát hiện
  11. được tình trạng mất cân đối, và có phương hướng và biện pháp kịp thời đảm bảo các mối quan hệ cân đối vốn cho hoạt động tài chính thực sự trở nên có hiệu quả, tiết kiệm và có lợi cho doanh nghiệp. 3.Mối quan hệ giữa tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán. 3.1 Cơ sở mối quan hệ: Trong hệ thống thông tin của kế toán,phương pháp tài khoản kế toán được coi là bộ xử lý thông tin trung tâm của hệ thống kế toán.Thông tin đơn lẻ,cá thể về từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh từ kế toán được xử lý qua phương pháp tài khoản kế toán sẽ trở thành thông tin tổng hợp về tình hình và sự vận động của từng đối tượng kế toán.Để thông tin này trở nên thông dụng và hữu ích với người sử dụng thì chúng phải được trình bày trên các bảng báo cáo theo những yêu cầu và nguyên tắc nhất định.Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán là quá trình tiếp theo của hệ thống thông tin kế toán,chúng được coi là quá trình cung cấp thông tin “đầu ra” của kế toán.Trong chu trình thông tin của kế toán nếu tài khoản là nơi xử lý thông tin thì tổng hợp-cân đối kế toán là nơi truyền tải thông tin đến cho người sử dụng.Tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán đều phản ánh tình trạng đối tượng kế toán xong ở phạm vi mức độ khác nhau.Bảng cân đối kế toán phản ánh đối tượng kế toán ở trạng thái tĩnh và trạng thái vận động,là thông tin của cả quá trình.Do đó giữa tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một chu trình thông tin thông suốt của kế toán. 3.2 Mối quan hệ giữa tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán: Mối quan hệ giữa tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán là quan hệ về số liệu,biểu hiện: -Mỗi chỉ tiêu kinh tế trên bảng cân đối kế toán đều được mở một tài khoản hoặc một số tài khoản để phản ánh tình hình và sự vận dụng của đối tượng kế toán trong kỳ,tên gọi của các chỉ tiêu kinh tế trên bảng cân đối kế toán đều tương ứng và phù hợp với nội dung kinh tế của các đối tượng kế toán mà chúng phản ánh trên tài khoản.
  12. -Đầu niên độ kinh doanh khi mở các tài khoản kế toán để theo dõi tình hình và sự vận động của đối tượng kế toán trong kỳ,số dư đầu ký của các tài khoản kế toán có thể căn cứ vào số cuối kỳ ở bảng cân đối kế toán kết thúc niên độ kinh doanh trước đề ghi hoặc để kiểm tra. -Cuối kỳ kinh doanh căn cứ vào số dư cuối kỳ của các tài khoản kế toán để lập bảng cân đối kế toán ở cuối kỳ theo nguyên tắc số dư cuối kỳ các tài khoản tài sản được xếp vào các chỉ tiêu bên tài sản của bảng cân đối,số dư cuối kỳ các tài khoản nguồn vốn được xếp vào các chỉ tiêu bên nguồn vốn của bảng cân đối kế toán. 4.Liên hệ thực tế mối quan hệ tài khoản kế toán với bảng cân đối kế toán. Nhóm 11 chọn phân tích tình hình tài chính năm 20009 công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà.HAIHACO dẫn đầu phân khúc thị trường các sản phẩm bánh kẹo.Là doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất Việt Nam (chiếm khoảng 14% thị trường kẹo).Ít chịu sự cạnh tranh của các công ty bánh kẹo đầu ngành khác do khác nhhau về sản phẩm và đối tượng khách hang.Doanh nghiệp đang có những bước phát triển mạnh mẽ để vươn lên là một trong những doanh nghiệp mạnh tại Việt Nam. Để tìm hiểu cụ thể hơn về mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán, ta đi phân tích bảng cân đối kế toán năm 2009 của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà:
  13. - Mỗi chỉ tiêu kinh tế trên bảng cân đối kế toán đều được mở một hoặc một số tài khoản. Cụ thể, trong bảng trên ở chỉ tiêu tiền (tiền và các khoản tương đương tiền) phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của công ty, gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng: Bảng 1: chi tiết về chỉ tiêu tiền Để phản ánh được chỉ tiêu này thì cần lập hai tài khoản (TK): TK111 và TK 112 để theo dõi trong kỳ kế toán. Hay trong hàng tồn kho gồm:
  14. Bảng 2: Hàng tồn kho Chỉ tiêu hàng tồn kho gồm có hàng mua đi đường, nguyên vật liệu, công cụ…khi lập bảng cân đối kế toán thì phải tổng hợp kết quả từ tất cả các khoản này. Mà mỗi khoản này được phản ánh trong một tài khoản cụ thể: TK151, TK152, TK153, TK154, TK155, TK156.Vì vậy, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thì cần phải mở những tài khoản này để phản ánh những nghiệp vụ kinh tế liên quan đến hàng tồn kho phát sinh. Hoặc trong chỉ tiêu tài sản ngắn hạn khác gồm: Bảng 3: tài sản ngắn hạn khác Để tổng hợp chỉ tiêu này thì phải lấy kết quả từ hai tài khoản: TK141, K144 ở các chi nhánh của công ty. Trong thuế và các khoản phải nộp nhà nước, thì cần lập các TK333,cụ thể ở công ty Hải hà ta cần lập các tài khoản như TK3331,
  15. TK3333, TK3334, TK3335, TK3339….. Cuối kỳ, khi lập bảng cân đối kế toán thì số liệu của chỉ tiêu thuế và các khoản phải nộp nhà nước sẽ được tổng hợp từ các số dư cuối kỳ của các tài khoản này. Bảng 4: Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước - Trong bảng cân đối kế toán trên, thì số liệu của các chỉ tiêu ngày 1/1/2009 và ngày 31/12/2009 chính là các số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ của các tài khoản được lập trong kỳ. Như ở chỉ tiêu thuế GTGT được khấu trừ (TK133): SDĐK là 543.177.099 VND, SDCK là 552.538.173 VND. Hay chỉ tiêu quỹ khen thưởng, phúc lợi (TK431): SDĐK là 5.441.335.181VND, SDCK là 6.803.633.888 VND. - Đầu niên độ kinh doanh khi mở các tài khoản kế toán, số dư đầu kỳ của các tài khoản cố thể được căn cứ vào số dư cuối kỳ ở bảng cân đối kế toán của niên độ kinh doanh trước để ghi và kiểm tra. Trong bảng cân đối kế toán của Hải hà , các số dư tại 1/1/2009 chính là các số dư tại 31/12/2008 của các tài khoản, chỉ tiêu mà bảng cân đối kế toán phản ánh. Còn số dư tại 31/12/2009 của các tài khoản, chỉ tiêu sẽ được sử dụng làm số dư tại 1/1/2010 của bảng cân đối kế toán năm 2010. Khi tiến hành kiểm tra kế toán hoặc các báo cáo tài chính , nếu đối chiếu số dư cuối niên độ kinh doanh không bằng số dư đầu niên độ kinh doanh tiếp theo thì đã có sai phạm trong quá trình ghi, lập các tài khoản kế toán hoặc quá trình hoạt động của doanh nghiệp. - Ta có thể căn cứ vào số dư cuối kỳ của các tài khoản để lập bảng cân đối kế toán ở cuối kỳ, theo nguyên tắc số dư cuối kỳ của tài khoản tài sản được xếp vào các chỉ tiêu phần tài sản trong bảng, số dư cuối kỳ của tài khoản nguồn vốn được xếp vào các chỉ tiêu nguồn vốn trong bảng.
  16. Trừ một số trường hợp: Số dư cuối kỳ của TK214 (hao mòn tài sản cố định) được sử dụng để lập chỉ tiêu giá trị hao mòn lũy kế trong phần tài sản cố định ở bảng cân đối, bằng phương pháp ghi số âm. +, Giá trị hao mòn lũy kế của tài sản cố định hữu hình tương ứng với TK 2141. Số dư tại 31/12/2009 của TK2141 là 126.647.795.782 VND +, Giă trị hao mòn lũy kế của tài sản cố định vô hình tương ứng với TK 2143. Số dư tại 31/12/2009 của TK 2143 là 118.497.216 VND Số dư cuối kỳ của TK131 : +, Số dư cuối kỳ của TK131dư nợ được xếp ở chỉ tiêu phải thu của khách hàng phần tài sản của bảng cân đối. Số dư tại 31/12/2009 của TK 131 dư nợ là 17.730.904.644 VND. +, Số dư cuối kỳ của TK131 dư có được xếp ở chỉ tiêu người mua trả tiền trước phần nguồn vốn trong bảng cân đối. Số dư tại 31/12/2009 của TK131 dư có là 4.858.633.782 VND. Số dư cuối kỳ của TK 331: +, Số dư cuối kỳ của TK331 dư có được xếp ở chỉ tiêu phải trả cho người bán phần nguồn vốn trong bảng. Số dư tại 31/12/2009 của TK331 dư có là 27.264.347.817 VND. +, Số dư cuối kỳ của TK331 dư nợ được xếp ở chỉ tiêu trả trước cho người bán phần tài sản của bảng. Số dư tại 31/12/2009 của TK 331 dư nợ là:10.095.980.497 VND - Chỉ tiêu tiền được lập = tổng số dư cuối kỳ của tài khoản tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Dựa vào bảng 1, ta có thể xác định số dư tại 31/12/2009 của TK 111 là: 249.284.691 VND (10.371.791 + 236.771.706 + 2.141.194 = 249.284.691) Số dư tại 31/12/2009 của TK112 là: 19.448.834.252 VND (18.719.998.137 + 553.391.775 + 175.444.340 = 19.448.834.252) - Chỉ tiêu hàng tồn kho = tổng số dư cuối kỳ của các TK15 (TK151, TK152, TK153, TK154, TK155, TK156). Bảng 2. - Chỉ tiêu thuế và các khoản phải nộp nhà nước = tổng số dư cuối kỳ của các TK333. Bảng 4. - Chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán: ngoại tệ các loại – Đô la Mỹ Trong kỳ, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ được chuyển đổi sang VND theo tỷ giá thực tế tại ngày phát sinh. Tại ngày kết thúc năm tài chính ( tức là ngày 31/12/2009), các tài sản dưới dạng tiền và công nợ bằng ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại ngày của Bảng cân đối kế toán. Đối với các khoản có gốc ngoại tệ,
  17. công ty đồng thời theo dõi nguyên tệ trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản và TK007 “ngoại tệ các loại”. TK007 có SDĐK là 0USD, SDCK là 62.930 USD. IV, Kết luận : Bảng cân đối kế toán và các tài khoản kế toán có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một chu trình thông tin thông suốt của kế toán . Mối quan hệ này là quan hệ về số liệu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản