Tiểu luận thị trường tài chính: Công ty chứng khoán và hoạt động của công ty chứng khóan trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chia sẻ: Dsgvfdcx Dsgvfdcx | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:19

0
99
lượt xem
23
download

Tiểu luận thị trường tài chính: Công ty chứng khoán và hoạt động của công ty chứng khóan trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận thị trường tài chính: Công ty chứng khoán và hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khóan Việt Nam trình bày những vấn đề chung về công ty chứng khoán, chức năng, nhiệm vụ và tình hình hoạt động của công ty chứng khoán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận thị trường tài chính: Công ty chứng khoán và hoạt động của công ty chứng khóan trên thị trường chứng khoán Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC  TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHÓAN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM GV: PGS. TS Nguyễn Đăng Dờn SVTH: 1. Huỳnh Phi Yến 2. Nguyễn Thị Thanh Tú 3. Phạm Thị Kim Tuyến 4. Nguyễn Thị Bích Thủy 5. Lâm Ngọc Thảo 6. Nguyễn Thị Mỹ Điểm Lớp: Cao học NH Đêm 2 – K16 Tháng 3/2008 MỞ ĐẦU
  2. Hầu hết mọi nơi trên thế giới, các hình thức đầu tư chứng khoán là một chủ đề được nhiều người quan tâm. Và cách tiếp cận thị trường chứng khoán dễ dàng nhất là thông qua các công ty chứng khoán. Đối với Việt Nam, nơi mà thông tin về thị trường chứng khoán được quan tâm theo dõi hàng ngày thì các công ty chứng khoán trở thành chủ thể có vai trò rất quan trọng trên thị trường chứng khoán. Với những diễn biến của thị trường kể từ năm 2006, nhiều người nhận định rằng chưa có nghề kinh doanh nào mà lãi nhanh và lãi to như nghề... mở công ty chứng khoán (CK). Với 69 công ty đang hiện diện trên thị trường và thêm vài chục hồ sơ đang đợi Ủy ban CK nhà nước cấp phép, các công ty CK đang chứng tỏ họ là “cỗ máy” kiếm tiền hiệu quả nhất trong ngành tài chính mới nổi tại VN... Vậy thực chất, thực trạng của các công ty chứng khoán tại Viêt Nam hoạt động như thế nào, với những nghiệp vụ gì, những thách thức gặp phải cũng như xu hướng phát triển của các công ty chứng khoán trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay? Họ làm gì để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế? Đó là nội dung của bài tiểu luận bộ môn thị trường tài chính: “Công ty chứng khoán (CTCK) và hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam” A : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHÓAN 1. Các công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Như vậy, Công ty chứng khóan là một định chế tài chính được Ủy ban chứng khóan Nhà nước ra quyết định thành lập và cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chứng khóan. 2. Hình thức tổ chức: Công ty chứng khoán được cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Chứng khoán và các quy định hiện hành khác của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dưới 2 hình thức sau: - Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH từ 2 thành viên trở lên hay TNHH 1 thành viên). - Công ty chứng khóan cổ phần. 3. Chức năng nhiệm vụ và nghĩa vụ của Công ty chứng khóan: * Chức năng: Một Công ty Chứng khóan tương tự như công ty sản xuất trong đó sản phẩm của nó chính là dịch vụ mà nó cung cấp cho khách hàng, do đó có các chức năng chính như sau: - Chức năng tiếp thị và bán hàng: Tiếp thị nhằm tìm hiểu công chúng đầu tư ưa thích loại chứng khoán nào để từ đó đưa ra được chiến lược cổ phiếu sản phẩm phục vụ khách hàng ( như cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ...). - Chức năng "sản xuất": “Sản xuất” ở đây được hiểu là quy trình tạo ra sản phẩm cuối cùng để công ty chứng khóan cung cấp cho khách hàng. Vì thế, khi nhà môi giới tiến hành một thương vụ thì quy trình thực hiện giao dịch được tiến hành. Và việc một giao dịch được xử lý như thế nào là
  3. hết sức quan trọng vì nó chứng minh cho khách hàng thấy tính chuyên nghiệp của Công ty chứng khóan. - Chức năng hành chính, hỗ trợ : Khu vực này trợ giúp, hỗ trợ, duy trì việc giao dịch hàng ngày của công ty chứng khóan. Ở các nước, thông thường để thực hiện một lệnh thì các bộ phận chức năng liên quan chủ yếu là: + Bộ phận thực hiện lệnh (Order room): có trách nhiệm xử lý các lệnh mua bán và ghi chép chính xác việc thực hiện các lệnh đó. + Bộ phận mua và bán (Purchase and Sale): xây dựng kế hoạch mua bán chứng khoán và định hướng, điều hòa khách hàng với môi giới. +Bộ phận ký quỹ (Margin): đảm bảo tài khoản của khách hàng luôn trong trạng thái phù hợp với các quy định, chính sách của công ty. + Bộ phận thủ quỹ (Cashiering): thực hiện công việc giao nhận, kho quỹ... + Bộ phận quản lý hồ sơ (Stock record): lập số hiệu và mã tài khoản, kiểm toán, luân chuyển chứng khoán. + Bộ phận kế toán (Accounting): thực hiện công việc hạch toán kế toán . + Bộ phận quản lý cổ tức, tiền lãi trái phiếu (Dividend) + Bộ phận ủy quyền (Proxy): bỏ phiếu cho khách hàng, thông tin cho khách hàng. + Bộ phận chứng khoán (Sale). + Bộ phận quản lý tài khoản mới (New accounts). * Nhiệm vụ: - Nhiệm vụ của các công ty chứng khoán là phải tự xử lý các thủ tục của dịch vụ giao dịch trực tuyến, không được uỷ quyền cho các tổ chức khác. Các công ty chứng khoán không được phép hợp tác với các công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật hoặc dịch vụ thông tin trong việc thực hiện dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến thông qua việc thanh toán chi phí dịch vụ. - Công ty chứng khoán có trách nhiệm bảo mật thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trực tuyến theo quy định của pháp luật; không được phép công bố ra bên ngoài trang kinh doanh hợp pháp các chương trình hoặc hệ thống liên quan đến tài khoản tiền, chứng khoán, thông tin nhận dạng và các dữ liệu khác của nhà đầu tư. - Đặc biệt, các công ty chứng khoán phải công bố những rủi ro có liên quan trên “Bản công bố rủi ro”, trên trang thông tin điện tử chính thức của công ty và trên phần mềm ứng dụng của khách hàng. * Nghĩa vụ của công ty chứng khóan: Một công ty chứng khoán phải có nghĩa vụ như sau (theo luật chứng khóan): - Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan. - Quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của công ty chứng khoán. - Ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng; cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho khách hàng. - Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty. - Thu thập, tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng; bảo đảm các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng phải phù hợp với khách hàng đó. - Tuân thủ các quy định bảo đảm vốn khả dụng theo quy định của Bộ Tài chính.
  4. - Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty hoặc trích lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư để bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư do sự cố kỹ thuật và sơ suất của nhân viên trong công ty. - Lưu giữ đầy đủ các chứng từ và tài khoản phản ánh chi tiết, chính xác các giao dịch của khách hàng và của công ty. - Thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính. - Tuân thủ các quy định của Bộ Tài chính về nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. - Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. - Thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Điều 104 của Luật chứng khóan và chế độ báo cáo theo quy định của Bộ Tài chính. B.TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN: Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán (CtyCK). Sự trưởng thành của các CtyCK Việt Nam không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể hiện rõ nét qua phương thức và chất lượng cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Tính đến cuối năm 2007, UBCKNN đã cấp phép hoạt động kinh doanh chứng khoán cho 69 công ty, với tổng số vốn điều lệ trên 6000 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 30/6/2007, ngoài 56 trụ sở chính, mạng lưới hoạt động của các công ty gồm 25 chi nhánh, 14 phòng giao dịch, 24 đại lý nhận lệnh. Mặc dù số lượng CtyCK đi vào hoạt động từ năm 2007 tăng gấp 3-4 lần so với năm 2006, nhưng kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2007 của nhiều CtyCK vẫn khá tốt, điển hình là các CtyCK đã có thời gian hoạt động lâu như CtyCK Sài Gòn (SSI) - lợi nhuận sau thuế đạt 668,5 tỷ đồng, CtyCK ACB (ACBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 141 tỷ đồng, CtyCK Bảo Việt (BVSC) - lợi nhuận sau thuế đạt 156,8 tỷ đồng... và một số CtyCK tuy mới triển khai hoạt động nhưng không chịu lép vế trước các CtyCK đàn anh như: CtyCK Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (SBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 125,2 tỷ đồng, CtyCK Đại Việt - lợi nhuận sau thuế đạt 39,4 tỷ đồng, CtyCK Quốc Tế Việt Nam - lợi nhuận sau thuế đạt 23,7 tỷ đồng. 1/ VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI Theo điều 6 luật chứng khoán năm 2006, Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Vốn pháp định cho nghiệp vụ môi giới của công ty chứng khoán, công ty CK có vốn đấu tư nước ngoài, chi nhánh công ty CK nước ngoài tại Việt Nam là 25 tỷ đồng Việt Nam. Đối với khách hàng: +Quyết định mua bán (khối lượng, giá cả, thời điểm). +Hưởng và chịu trách nhiệm về kết quả mua bán của mình (lỗ, lãi);
  5. + Thanh toán phí cho cộng ty CK. Đối với công ty chứng khoán: +Trung gian khớp các lệnh mua, bán của khách hàng. + Cung cấp các thông tin và tư vấn giúp khách hàng đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn. +Nhận phí môi giới từ khách hàng. Hiện nay, hoạt động môi giới được áp dụng trên cả thị trường tập trung và thị trường phi tập trung. a/ Quy trình giao dịch môi giới trên thị trường tập trung:  Đối với nhà đầu tư: Bước 1: Mở tài khoản giao dịch tại công ty CK: + Ký hợp đồng mở tài khoản +Nộp tiền ký quỹ (để mua CK) +Lưu ký CK (để bán CK) Bước 2: viết lệnh mua bán CK  Đối với công ty CK: Bước 1: Hướng dẫn nhà đầu tư cách giao dịch Bước 2: Nhận lệnh từ khách hàng Bước 3: Kiểm tra lệnh: Đối chiếu số dư tiền và chứng khoán trên tài khoản của khách hàng; Kiểm tra tính hợp lệ khác của lệnh. Bước 4: Truyền lệnh vào Trung tâm giao dịch. Bước 5: Đại diện giao dịch của CTCK tại Trung tâm giao dịch (TTGD) sẽ nhập lệnh vào hệ thống máy tính của TTGD. Sau đó, thông báo kết quả giao dịch về công ty chứng khoán. Bước 6: CTCK thông báo kết quả giao dịch cho khách hàng của mình.  Đối với trung tâm giao dịch: Bước 1: Thực hiện khớp lệnh. Bước 2: Thông báo kết quả giao dịch cho đại diện của CTCK. Sơ đồ giao dịch môi giới trên thị trường tập trung:
  6. Nhà đầu tư 6. Thông báo kết quả 1.Mở tài khoản, đặt Công ty chứng khoán 5. Kiểm tra kết quả 2. Kiểm tra lệnh, Đại diện tại sàn 4. Thông báo kết quả 3. Gõ lệnh vào hệ Trung tâm giao dịch chứng khốn b/ Môi giới CK trên thị trường phi tập trung (OTC): Nhà đầu tư có thể lựa chọn việc mua bán CK OTC qua môi giới cá nhân và qua công ty chứng khoán. Lợi ích khi lựa chọn công ty CK làm trung gian mua bán cổ phiếu OTC đó là: trước nhất là làm giảm thời gian giao dịch cho các bên tham gia, giảm chi phí chuyển nhượng; Giảm thiểu rủi ro về pháp luật: chuyển nhượng những CK chưa được phép chuyển nhượng. Đồng thời giảm rủi ro thanh toán, chứng khoán giả . . Trình tự môi giới cổ phiếu OTC: Đặt yêu cầu bán Đặt yêu cầu mua Người bán Công ty chứng khoán Người mua Xác nhận thủ tục Làm thủ tục chuyển Tổ chức phát hành Một trong những nguồn thu lớn nhất của các công ty CK đến từ mảng môi giới, hiện đang được tính ở mức 0,2-0,3% tổng giá trị giao dịch của các nhà đầu tư (cá biệt có công
  7. ty thu đến 0,5%). Nếu tính trung bình thị trường TP.HCM và Hà Nội đạt tổng giá trị giao dịch hơn 1.000 tỉ đồng/phiên thì cứ mỗi phiên 55 công CK “xơi” chừng 2-3 tỉ đồng Tính đến hết ngày 30/6/2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán tại các công ty CK đạt 255.185 tài khoản (tăng 169.001 tài khoản, tương đương 196% so với thời điểm ngày 31/12/2006). Trong đó, đối với những công ty CK đã có bề dày hoạt động, đều chiếm tỷ trọng cao về số lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch như: VCBS có 34.490 tài khoản, chiếm 16,52% tổng số tài khoản toàn thị trường; BVSC có 34.395 tài khoản, chiếm 13,48%; CtyCK Sài Gòn (SSI) có 26.746 tài khoản, chiếm 10,48%; công ty CK Ngân hàng Đầu tư (BSC) có 24.525 tài khoản, chiếm 9,61%. Bên cạnh đó, một số CtyCK tuy mới triển khai hoạt động nhưng đã thu hút được khá nhiều nhà đầu tư, như SBS đạt 7.720 tài khoản, chiếm 3,03% thị phần, ABS đạt 6.104 tài khoản, chiếm 2.39% thị phần, công ty CK Vndirect đạt 5.195 tài khoản, chiếm 2.04% thị phần... Tổng giá trị giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong tháng 6/2007 của các công ty CK đạt 25.196 tỷ đồng. Những công ty CK có doanh số môi giới giao dịch lớn đa số là những công ty đã có nhiều năm hoạt động, có nhiều nhà đầu tư mở tài khoản (xem bảng dưới đây). Công ty Doanh số giao dịch Thị phần giao chứng khoán tháng 6/2007 dịch tháng 6/2007 VCBS 6.362,5 25,25% ACBS 3.361 13,34% SSI 3.253 12,91% BVSC 2.182 8,66% BSC 1.313 5,21% Đơn vị: tỷ đồng Moâi giôùi CK laø nghieäp vuï khoâng theå thieáu trong baát kyø coâng ty CK naøo.Trong nghieäp vuï moâi giôùi CK, nhaân vieân moâi giôùi ñoùng vai troø quan troïng nhaát goùp phaàn quyeát ñònh taïo neân doanh thu cho caùc coâng ty naøy. Theo định nghĩa của tạp chí Value - line chuyên về chứng khoán thì môi giới CK (tiếng Anh gọi là broker là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng thông qua việc tư vấn, thực hiện hợp đồng mua bản. Khi người môi giới CK giỏi về nghiệp vụ và có kinh ghiệm, họ sẽ trở thành các nhà tư vấn đầu tư về chứng khoán. Khi đó, bằng kinh nghiệm và khả năng đánh giá tình hình tài chính trên thị trường, họ sẽ đưa ra những khuyến cáo giúp khách hàng nên mua, nên bán cổ phiếu hay trái phiếu cửa công ty nào). Môi giới chứng khoán (MGCK) là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, có thể là tổ chức, Cty hay cá nhân, thông qua việc tư vấn, thực hiện các giao dịch. Vì vậy, công việc của người MGCK bao gồm thu thập và thẩm định thông tin về thị trường cổ
  8. phiếu trong hoặc ngoài nước, chứng khoán và trái phiếu chính phủ; trên cơ sở đó đưa ra lời khuyên thích hợp cho khách hàng. Những người MGCK giúp bạn tiết kiệm rất nhiều trong giao dịch. Nếu không có sự giúp đỡ của họ, bạn có thể phải bỏ ra chi phí gấp mười lần để thương lượng thành công. Đây là một khoản chi phí hợp lý cho những giao dịch lớn Nhà MGCK thực hiện giao dịch cho những nhà đầu tư trên thị trường CK. Nhà MGCK thường tư vấn cho khách hàng của mình trong những giao dịch chứng khoán; phân tích và giải thích cho thân chủ về phương thức hoạt động của thị trường CK, thu thập thông tin để giúp họ có sự đầu tư tốt nhất. Khi được uỷ thác giao dịch, nhà MGCK liền liên lạc với sàn giao dịch thông qua mạng internet hay mạng điện thoại. Khi giao dịch được tiến hành, nhà môi giới thông báo tên người giao dịch và giá cả giao dịch. Người mua sẽ trả tiền cho cố phiếu họ đã mua và nhà môi giới tiến hành thông tin cho người mua về mã số của cổ phiếu. Sau đó hai bên kết thúc giao dịch. 2/ Về hoạt động tự doanh: Theo điều 6 luật chứng khoán : Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình .  Mục đích của hoạt động tự doanh : Mua bán CK cho chính mình  Yêu cầu của hoạt động tự doanh : Phải tách biệt giữa tự doanh với môi giới, quản lý danh mục đầu tư. Đồng thời công ty CK phải ưu tiên thực hiện lệnh cho khách hàng trước lệnh tự doanh  Vai trò của hoạt động tự doanh : Các công ty CK thực hiện hoạt động tự doanh với vai trò rất quan trọng. Họ là nhà tạo lập thị trường. Tổng giá trị chứng khoán tự doanh tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 9.667 tỷ đồng (tăng 4.671 tỷ đồng, tương đương 48,31% s o với thời điểm 01/01/2007). Đối với 14 CtyCK đã hoạt động lâu năm, giá trị chứng khoán tự doanh (2 công ty là SCBS và BSC không báo cáo số liệu này) tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 5.997 tỷ đồng (tăng 1.000 tỷ đồng, tương đương 16,69% so với giá trị ngày 01/1/2007). Một số công ty có giá trị tự doanh cuối kỳ tăng khá nhanh và đạt giá trị cao. Đối với khối công ty CK được cấp phép vào cuối năm 2006, tại thời điểm đầu kỳ, giá trị tự doanh không đáng kể vì công ty chưa triển khai hoạt động thì đến thời điểm 30/6/2007, giá trị chứng khoán tự doanh của khối công ty này đạt 3.345 tỷ đồng (chiếm 35,63% giá trị tự doanh của 59 CtyCK). Một số công ty đã đẩy nhanh nghiệp vụ tự doanh mặc dù hoạt động chưa lâu như: công ty CK Ngân hàng Sacombank (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 571 tỷ đồng), CtyCK Vndirect (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 587 tỷ đồng), CtyCK Ngân hàng Đông Nam Á (giá trị chứng khoán tự doanh doanh đạt 458 tỷ đồng). Tuy nhiên, một số công ty đang “phất” lên chủ yếu nhờ mảng tự doanh. Trong đó, SSI đang được xem là công ty CK có mảng tự doanh mạnh nhất trên thị trường. Năm 2006, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của công ty này lên đến 1.786 tỉ đồng, trong khi đầu
  9. tư tài chính dài hạn chỉ có 147,8 tỉ đồng. Giới đầu tư nói với nhau rằng chính nhờ loạt cổ phiếu mua được khi còn ở mức giá rất thấp, mỗi năm SSI chỉ việc “rung đùi” từ từ bán ra kiếm lời tiền tỉ. Vì sao các công ty CK thường thắng lớn trong việc tự doanh cũng là một câu hỏi giới đầu tư thường đặt ra. Một chuyên gia CK cho biết các công ty CK có lợi thế bởi thường xuyên được tiếp cận với các thông tin “nhạy cảm”, đại loại như quĩ đầu tư nước ngoài nào sắp vào, đem vào bao nhiêu tiền, “gu” đầu tư của họ ra sao... Đặc biệt, khi các quĩ này đặt lệnh mua bán thì chính các công ty CK là người đầu tiên được biết, và một số công ty cũng đặt lệnh theo cho mình. “Cầm tiền chạy trước quĩ (đầu tư)”, theo chuyên gia này, là một hành vi được xem là bất hợp pháp của các nhà môi giới mà hiện vẫn chưa được kiểm soát trên thị trường CK VN. 3/ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH, ĐẠI LÝ PHÁT HÀNH Theo Luật, Tổ chức phát hành muốn phát hành cần phải có Tổ chức bảo lãnh. Bảo lãnh phát hành chứng khốn là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khốn, nhận mua một phần hay tồn bộ chứng khốn của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khốn cịn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khốn ra cơng chúng. Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỉ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành. Hiện nay, trên thế giới cĩ một số hình thức bảo lãnh phát hành sau: *Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết sẽ mua tồn bộ số chứng khốn phát hành cho dù cĩ phân phối hết hay khơng. *Bảo lãnh cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đĩ tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành.Tổ chức bảo lãnh khơng cam kết bán tồn bộ số chứng khốn mà cam kết sẽ cố gắng tối đa. Số chứng khốn cịn lại nếu khơng phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành. Như vậy, kết quả của việc bán chứng khốn của tổ chức phát hành tuỳ thuộc vào khả năng, uy tín và sự lựa chọn nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh.
  10. *Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định phát hành, nếu không phân phối hết sẽ huỷ bỏ đợt phát hành.Theo phương thức này, không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên UBCKNN thường qui định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian cần bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành. Nếu đợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc. *Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu : là phương thức kết hợp giữa phương thức bảo lãnh cố gắng tối đa và phương thức bảo lãnh tất cả họăc không.Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỉ lệ chứng khoán nhất định. Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ được huỷ bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mau chứng khoán sẽ được trả laị cho nhà đầu tư. Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức phát hành vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh. Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hính thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ của nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các công ty chứng khoán trong việc triển khai nghiệp vụ này . a/ Mục đích: -Giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán. -Tổ chức phân phối chứng khoán. -Bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Để đảm bảo cho đợt phát hành thành công. b/ Quy trình bảo lãnh phát hành -Ký Hợp đồng bảo lãnh phát hành với Tổ chức phát hành, Hợp đồng đồng bảo lãnh (nếu có). -Thực hiện bảo lãnh phát hành: - Lập Hồ sơ xin phép phát hành: 1.Đơn xin phép phát hành chứng khoán. 2.Bản cáo bạch (nếu phát hành lần đầu). 3.Báo cáo tài chính có kiểm toán 2 năm gần nhất. 4.Phương án sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành. … - Gửi hồ sơ lên UBCKNN. - Chuẩn bị các mẫu phiếu đăng ký mua chứng khoán, mở tài khoản để nhận tiền đặt cọc. -Phân phối và kết thúc đợt bảo lãnh phát hành. - Nhận chấp thuận của UBCKNN cho phát hành. - Gửi UBCKNN tài liệu phục vụ việc phân phối: 1.Bản cáo bạch tóm tắt.
  11. 2.Nội dung thông cáo phát hành. 3.Tài liêụ khác (nếu có) + Công bố việc phát hành ra công chúng. + Nhận đăng ký và đặt cọc mua chứng khoán của nhà đầu tư. + Cùng tổ chức phát hành tổng hợp kết quả và thông báo cho nhà đầu tư. + Thực hiện phân phối chứng khoán. + Giúp Tổ chức phát hành báo cáo kết quả đợt phát hành lên UBCKNN. + Quyết toán và thanh lý các hợp đồng liên quan. Hoạt động bảo lãnh phát hành của các CtyCK 6 tháng đầu năm 2007 vẫn tập trung chủ yếu là bảo lãnh phát hành các loại trái phiếu như trái phiếu chính phủ cho Kho bạc Nhà nước, trái phiếu ngân hành, trái phiếu đô thị (xem bảng dưới đây). Công ty Khối Giá Vốn chủ Hình thức Số hợp Giá trị lượng bảo sở hữu của bảo lãnh đồng bảo lãnh bảo lãnh CtyCK (tỷ bảo (triệu lãnh (đồng) đồng) lãnh đồng) BVSC 5.314 33.500 150 Chắc chắn 1 178 ACBS 880.000 67.000 250 Chắc chắn 1 58.960 Cty CK 108.758 451.000 120 Chắc chắn 2 49.050 Thăng Long Như vậy, các CtyCK đã thực hiện 4 hợp đồng bảo lãnh phát hành với hình thức bảo lãnh cam kết chắc chắn. Các hợp đồng bảo lãnh nói trên đã thực hiện theo đúng quy định hiện hành do giá trị chứng khoán đã được bảo lãnh không vượt quá 50% vốn điều lệ của CtyCK. Tuy nhiên, s ố liệu trên cũng cho thấy, trong thời gian gần đây, có rất ít CtyCK thực hiện việc bảo lãnh phát hành và các công ty chưa chú trọng đầu tư tìm kiếm khách hàng, đào tạo nhân sự, xây dựng quy trình chuẩn để triển khai nghiệp vụ này. Hoạt động tư vấn: Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán. Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán : là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán; tư vấn tái cơ cấu tài chính; chia tách , sáp nhập; hợp nhất doanh nghiệp; tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán . Đây là nghiệp vụ mà vốn của nó chính là kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn của công ty chứng khoán. • Tư vấn tài chính (Tư vấn cho người phát hành ):
  12. Đây là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối cao cho công ty chứng khoán .Thực hiện tốt nghiệp vụ này sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những hàng hoá có chất lượng cao trên thị trường. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết . Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm : * Xác định giá trị doanh nghiệp : là việc định giá các tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghịêp trước khi chào bán chứng khoán .Đây là khâu quan trọng trước khi phát hành chứng khoán vì nó dùng để đánh giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi doanh nghịêp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu. * Tư vấn về loại chứng khoán phát hành : tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty …mà xác định loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu. * Tư vấn chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp…: khi một doanh nghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các công ty chứng khóan để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật ,phương pháp tiến hành sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí…. 4/ VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN: Là việc các chuyên viên tư vấn sử dụng kiến thức chuyên mơn của mình để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng khốn, loại chứng khốn mua bán, thời gian nắm giữ , tình hình diễn biến thị trường , xu hướng giá cả…Đây là hoạt động phổ biến trên thị trường thứ cấp, diễn ra hàng ngày, hàng giờ với nhiều hình thức khác nhau .Việc tư vấn cĩ thể bằng lời nĩi, hoặc cĩ thể thơng qua những bản tin, các báo cáo phân tích …khách hàng cĩ thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thơng qua các phương tiện truy ền thơng như điện thoại, fax… để nhờ tư vấn trực tiếp hoặc cĩ thể gián tiếp thơng qua các báo cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành. a/ Mục đích của hoạt động này: -Giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định mua bán. -Cung cấp thông tin. -Khuyến nghị đầu tư. + Phân tích vĩ mô. + Phân tích ngành. + Phân tích công ty. + Phân tích cổ phiếu. + Phân tích xu hướng của thị trường. Thường là nghiệp vụ gián thu: Hỗ trợ cho hoạt động môi giới và các hoạt động khác. Nhà tư vấn phải luôn là người thận trọng khi đưa ra những lời bình luận, những báo cáo phân tích của mình về giá trị các loại chứng khoán, vì những phát ngôn của các chuyên viên tư vấn có tác động rất lớn đến tâm lý của các nhà đầu tư thường dể có thể trở hành lời tiên đoán , định hướng cho toàm bộ thị trường . Bởi vì các nhà đầu tự tin rằng các nhà tư vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực này, họ có nhiều thông tin và kiến thức hơn
  13. những người khác và họ có thể đánh giá tình hình chính xác hơn . Điều đó có thể mang lại lợi nhuận cho người được tư vấn nhưng cũng có thể gây thiệt hại cho họ và làm ảnh hưởng đến TTCK. b/ Các hình thức tư vấn: • Tư vấn phát hành:Tư vấn lập phương án phát hành: + Giá phát hành/ lãi suất phát hành. + Thời điểm phát hành. + Đối tượng nhà đầu tư. -Cùng tổ chức phát hành lập bộ Hồ sơ xin phát hành chứng khoán. + Đơn xin phát hành chứng khoán ra công chúng. + Bản cáo bạch. + Báo cáo tài chính có kiểm toán của 02 năm gần nhất. + Phương án sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành. -Nộp Hồ sơ lên UBCKNN. -Tìm đại lý phát hành. -Bảo lãnh phát hành. + Cam kết mua toàn bộ. + Cam kết mua hết phần còn lại. • Tư vấn niêm yết: -Đưa chứng khoán của tổ chức phát hành lên giao dịch tại Sở GDCK/TTGDCK. -Tư vấn lập hồ sơ niêm yết và đáp ứng các điều kiện niêm yết. -Tư vấn mức giá khởi điểm. -Tư vấn công tác công bố thông tin và quan hệ với nhà đầu tư. • Tư vấn cổ Phần hóa -Xác định giá trị doanh nghiệp. -Tư vấn xây dựng điều lệ. -Trung gian tổ chức bán đấu giá cổ phần. -Tư vấn tổ chức đại hội cổ đông. -Tư vấn xử lý các vấn đề liên quan đến cổ phần hóa. -Tư vấn cơ cấu cổ đông: + Tỉ lệ cổ đông trong, ngoài tổ chức. + Tỉ lệ cổ phần nắm giữ tối đa với cổ đông chiến lược. + Tỉ lệ cổ phần bán ra ngoài. • Tư vấn tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp.
  14. Theo qui định tại Việt Nam, khi thực hiện tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng, các công ty chứng khoán và nhân viên kinh doanh phải : -Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp . - Bảo đảm tính trung thực,. khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn. - Không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả , giá trị và bản chất của bất kỳ loại chứng khoán nào . - Không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay mời gọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó . - Bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác . -Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tư vấn và bồi thường thiệt hại cho người sử dụng dịch vụ tư vấn khi vi phạm cam kết trong hợp đồng tư vấn . Tuy nhiên, các nhà tư vấn thường đánh giá tình huống theo kiến thức, kinh nghiệm và tư duy chủ quan của họ, do vậy việc đánh giá tình huống của mỗi nhà tư vấn là khác nhau .Tính khách quan và chính xác của các bản phân tích sẽ mang lại uy tín cho nhà tư vấn . • Tư vấn đầu tư chứng khoán: Mảng hoạt động này nhìn chung đã bắt đầu tiến triển với số hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán của các công ty đạt 55 hợp đồng (tại thời điểm 1/1/2007 chỉ có 6 hợp đồng tư vấn đầu tư). Điều này cho thấy trong sự phát triển, các CtyCK đang dần chuyển sang hướng quan tâm, chú trọng hơn đến hoạt động chăm sóc khách hàng. Tuy nhiên, so với khoảng 255.000 tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CtyCK hiện nay, s ố hợp đồng trên là không đáng kể và tiềm năng để các CtyCK phát triển mảng hoạt động này là không nhỏ. Tuy là CtyCK được cấp phép cuối năm 2006 và triển khai hoạt động chưa lâu, CtyCK An Bình hiện đang có số hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán lớn nhất (50 hợp đồng). Tổng số hợp đồng tư vấn niêm yết tại thời điểm hiện nay của các CtyCK là 100 hợp đồng, trong đó có 9 hợp đồng được ký trong tháng 6/2007 (so với 67 hợp đồng tại thời điểm 1/1/2007). Như vậy, hoạt động tư vấn niêm yết có những dấu hiệu khả quan hơn so với thời điểm đầu năm. Những CtyCK đang thực hiện nhiều hợp đồng tư vấn niêm yết là CtyCK Sài Gòn (30 hợp đồng), CtyCK Ngân hàng ACB (14 hợp đồng), CtyCK Ngân hàng Đông Nam Á. • Tư vấn khác:Tổng số hợp đồng tư vấn khác tại ngày 30/6/2007 là 305 hợp đồng, trong đó có 77 hợp đồng được ký, 42 hợp đồng được thanh lý trong tháng 6/2007. Các hợp đồng này chủ yếu là hợp đồng tư vấn cổ phần hóa và bán đấu giá cổ phần. Các công ty có nhiều hợp đồng tại thời điểm này là SSI (42 hợp đồng), ACBS (35 hợp đồng), IBS (32 hợp đồng). Nhìn chung, hoạt động tư vấn đã có những phát triển đáng kể so với thời gian đầu năm, các CtyCK đã chú trọng hơn đến nghiệp vụ tư vấn. Không chỉ những công ty đã hoạt động lâu năm mà những công ty được cấp phép trong năm 2006 cũng đã triển khai hoạt động này khá tốt. 5/ HOẠT ĐỘNG KHÁC: Ngoài ra, các công ty chứng khoán còn thực hiện một số các nghiệp vụ khác như:
  15. Repo là nghiệp vụ do các công ty chứng khoán đưa ra để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu chưa niêm yết, đối với các cổ phiếu đã niêm yết thì đã có dịch vụ cầm cố, các cổ phiếu chưa lên sàn thì chỉ có thể sử dụng nghiệp vụ repo nầy, cụ thể như sau: Nếu khách hàng có cổ phiếu chưa được niêm yết trên sàn và đang cần tiền thì có thể mang đến các công ty chứng khóan để repo, cổ phiếu mang đi repo phải có tên trong danh sách các cổ phiếu mà họ chấp nhận repo, nếu cổ phiếu đó được chấp nhận thì họ sẽ làm một hợp đồng có thời hạn 3 tháng, 6 tháng, hoặc 1 năm, đồng thời khách hàng phải làm giấy chuyển nhượng cổ phiếu này sang tên công ty chứng khóan theo đúng thời hạn ghi trên hợp đồng, điều này có nghĩa là khách hàng sẽ bán cổ phiếu cho CTCK trong thời hạn đó, khi hết hạn khách hàng mang tiền đến thanh lý hợp đồng, họ sẽ làm giấy chuyển nhượng sang tên lại. Khách hàng phải trả lại số tiền bằng giá họ mua ban đầu + lãi suất cho vay tùy theo thời hạn repo. Thông thường các CTCK s ẽ mua cổ phiếu khoản 1/2 giá thị trường, ngoài ra trong suốt thời gian hợp đồng nếu giá cổ phiếu trên thị trường giảm đến một mức giới hạn nào đó thì khách hàng phải nộp vào một số tiền bù lại, giá mua cổ phiếu và mức giới hạn nầy phụ thuộc vào từng CTCK. Nếu khách hàng không đóng tiền hoặc sau khi hết hợp đồng không nhận lại cổ phiếu thì họ sẽ tự động thanh lý số cổ phiếu của bạn. Các CTCK thực hiên nghiệp vụ repo như ACBS, HSC, AGRISECO... Lưu ký chứng khoán Mục đích:  Nhận lưu giữ an toàn cho chứng khoán.  Nhận cổ tức, lãi trái phiếu cho khách hàng.  Quản lý sổ cổ đông, thực hiện quyền cho khách hàng.  Thực hiện chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán cho khách hàng. Mở tài khoản, lưu Khách ký CK CTCK hàng G Tái Hạch toán Chuy lưu ử cho KH ển cổ ký i tức, CK lãi TTLKCK TP, C. NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ 1/ THÁCH THỨC: a. Khó khăn trong chiếm lĩnh thị phần: Theo thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trên cả nước hiện có 69 công ty chứng khoán đang hoạt động và hàng chục công ty đang và sẽ tiếp tục được thành lập. So với quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam (chỉ có khoảng 0,4% dân số tham gia)
  16. thì số lượng công ty chứng khoán như vậy là quá nhiều. Việc bùng nổ các công ty chứng khoán sẽ dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt về dịch vụ ngay trong năm 2008. Số lượng CtyCK gia tăng nhanh trong một khoảng thời gian khá ngắn dẫn đến một số Cty gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Việc ồ ạt ra đời CTCK trong thời gian qua bất ngờ vấp phải sự đổi chiều nhanh chóng của thị trường vào quý II năm 2007. Giấc mơ gặt hái “mùa vàng” đã không đến mà thay vào đó là nguy cơ mất vốn có thể xảy ra đối với các CTCK yếu thế, mới ra đời. Hiện nay hoạt động môi giới, kinh doanh của các CTCK không còn là những cỗ máy tạo ra lợi nhuận kết xù nữa mà thay vào đó là việc cạnh tranh thị phần ngày càng gay gắt. Chi phí quản lý của CTCK cũng gia tăng nhanh chóng do chi phí thuê mặt bằng tăng cao khi doanh nghiệp buộc phải thuê những nơi có diện tích sàn theo quy định của UBCKNN là từ 150 m2 trở lên. Không chỉ đối mặt với những khó khăn hiện tại, các CTCK còn nhiều vấn đề phải giải quyết theo lộ trình quy định của UBCKNN như quy mô vốn. Theo quy định mới, CTCK phải đạt mức vốn 300 tỷ đồng, lộ trình tăng vốn trên xem ra không phải là điều dễ dàng thực hiện . Một số doanh nghiệp đã bắt đầu trì hoãn kế hoạch thành lập CTCK để tránh thua lỗ. Trên thực tế, s ố lượng CtyCK được cấp phép và đi vào hoạt động như hiện nay phải chia nhau một thị trường quá nhỏ chỉ với trên dưới 250.000 khách hàng (là các nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân, trong khi đó các CtyCK lớn và hoạt động lâu năm như SSI, VCBS, ACBS, BCVS, SBS... đã thâu tóm khoảng 85% lượng khách hàng, những CtyCK mới và quy mô vốn nhỏ phải chật vật chia nhau 15% thị phần còn lại (chưa kể số CtyCK mới đang nộp hồ sơ chờ cấp phép tại UBCKNN). Nhiều CtyCK đã phải bỏ ra hàng chục tỷ đồng để mua sắm trang thiết bị, thuê mặt bằng... nhưng thực tế hoạt động trong thời gian gần đây số lượng khách hàng đến đầu tư không đáng kể, khiến nhiều CtyCK bị thâm hụt vốn sở hữu. Để đối phó lại với những khó khăn trong chiếm lĩnh thị phần, các CTCK đã sử dụng những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của thị trường, tạo tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư. Để hút khách trên thị trường, nhiều công ty đã mở rộng dịch vụ repo và hạ phí... Tuy nhiên, nóng bỏng hơn cả là cuộc đua hạ phí. Theo quy định, phí giao dịch thu từ các nhà đầu tư là 0,5% trên giá trị giao dịch. Nhưng hiện nay đã bị một số CtyCK hạ đến mức thấp nhất, thậm chí có CtyCK không thu phí trong 3 tháng đầu hoạt động. Đặc biệt, nhiều CtyCK mới thành lập đã sử dụng chiêu khuyến mại bằng cách tặng tiền cho khách hàng mở tài khoản giao dịch tại công ty và trừ dần vào phí giao dịch. Trên thực tế trong thời gian gần đây, thông tin về việc giảm, miễn phí giao dịch của các CtyCK liên tục được công bố trên thị trường. Trong đó, tất cả các CtyCK lớn nhỏ lần lượt vào cuộc, dù đây là nguồn thu đáng kể, nhất là với những thành viên mới hoạt động. Cuộc cạnh tranh phí giao dịch được giới chuyên môn nhận định là đang ở hồi căng thẳng. Đỉnh điểm của cuộc đua giảm phí giao dịch giữa các CtyCK tập trung từ đầu tháng 9 này, nhân dịp kỷ niệm ngày Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9. Mức giảm phổ biến từ 1/2 phí giao dịch hiện hành; một số miễn phí 100%. Với CtyCK, đây là một hình thức khuyến mãi, kéo nhà đầu tư đến sàn giao dịch... Nhưng với nhiều công ty nhỏ, mới tham gia thị trường, kinh doanh đang lỗ thì việc giảm phí sẽ là một gánh nặng lớn.
  17. b. Khó khăn về nguồn nhân lực: Ngoài việc khó khăn về chiếm lĩnh thị phần, sự thiếu hụt nguồn nhân lực cũng đặt các CtyCK vào những tình thế khó khăn. Tính đến thời điểm 30/6/2007, số nhân viên được UBCKNN cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán đạt khoảng 650 người. Tuy nhiên, do có nhiều CtyCK được cấp phép trong những tháng cuối năm 2006 và có khoảng trên 80 Hồ sơ đề nghị thành lập CtyCK đã được gửi UBCKNN nên số người hành nghề chứng khoán đã được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán tại các công ty lại càng thiếu hụt. Mặt khác, do Quy chế hành nghề chứng khoán chưa chính thức ban hành nên tại một số công ty, một số người hành nghề đã có Hồ sơ hợp lệ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề nhưng chưa được cấp. Bên cạnh đó, một số công ty có số người hành nghề tương đối ít so với yêu cầu tối thiểu theo quy định, giữa các CtyCK có xu hướng dịch chuyển, thu hút, lôi kéo nhân viên hành nghề.. Trong khi, không chỉ các công ty mới thành lập cần mà các công ty đã hoạt động cũng cần để mở rộng hoạt động của mình. Và cái khó không chỉ đối với các công ty đã hoạt động trong việc giữ người mà cả là đối với những công ty mới là làm sao tìm đủ người cho bộ khung một công ty có thể đi vào hoạt động. c. Khó khăn về vốn và nhân lực: Bên cạnh nỗi lo thiếu người làm việc thì các công ty chứng khoán hiện đang tốn khá nhiều công sức và tiền bạc để đầu tư cho công nghệ thông tin. Với yêu cầu hiện nay từ các nhà đầu tư và các trung tâm giao dịch nên công ty nào cũng phải lo đầu tư cho công nghệ thông tin của mình. Các dự án đầu tư công nghệ thông tin hiện được triển khai rất nhiều mặc dù vốn đầu tư không hề nhỏ. Một trong những yêu cầu đầu tiên để nâng cao chất lượng phục vụ chính là đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin. Những lỗi như chậm và sai sót khi nhập lệnh hay từ chối khách hàng vì quá đông... sẽ là điều không còn được chấp nhận trong một thị trường phát triển ổn định. Thực tế, khi Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh chuẩn bị khớp lệnh liên tục, rất nhiều công ty sẵn sàng đáp ứng nhưng chỉ vì một vài đơn vị không sẵn sàng, chuyện khớp lệnh trực tiếp buộc phải hoãn lại. Theo các chuyên gia, bên cạnh yêu cầu khớp lệnh liên tục, các công ty còn phải cạnh tranh nhau trong việc cung cấp các dịch vụ giao dịch trực tuyến... cũng khiến các công ty phải đầu tư mạnh mẽ cho CNTT và mỗi công ty phải chọn cho mình một mô hình phù hợp nhất. Để đầu tư cho CNTT, trở ngại về vốn khiến các công ty lại tiếp tục gặp khó khăn. Theo một chuyên gia trong ngành, để đầu tư một hệ thống giao dịch đạt chuẩn, một công ty phải đầu tư khoảng 2 triệu USD vào phần mềm, cộng với 1 triệu USD cho các khoản đầu tư đồng bộ khác để cho 100 nhân viên làm việc và chừng 500.000 USD cho vốn lưu động. Điều này có nghĩa một công ty CK phải có ít nhất trong tay hơn 3 triệu USD mới tính đến chuyện “làm ăn lớn”. Chỉ có đầu tư lớn vào hạ tầng thì mới mong tồn tại được trước đòi hỏi ngày càng cao của nhà đầu tư và yêu cầu phát triển của thị trường. 2/ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ - Mặc dù hiện tại hoạt động kinh doanh của các CtyCK khá khó khăn theo bối cảnh chung của thị trường, hướng cạnh tranh chính và lâu dài nhất là các công ty không nên quá chú trọng tới việc cạnh tranh bằng phí giao dịch, thay vào đó nên đầu tư công nghệ và
  18. tăng tiện ích. Các công ty chứng khoán cạnh tranh nhau về giảm phí chưa đủ lực để thu hút nhà đầu tư nên cuộc đua về đầu tư công nghệ sẽ là yếu tố quyết định Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008 sẽ phát triển mạnh mẽ với hàng loạt đợt IPO của những “đại gia” như: Agribank, Incombank, MobiPhone; đồng thời thị trường OTC cũng sẽ đi vào khuôn khổ, như vậy khối lượng giao dịch sẽ tăng mạnh, số lượng nhà đầu tư cũng tăng lên đáng kể. Khi đó, công ty chứng khoán nào có hạ tầng công nghệ hiện đại, an toàn, đem lại nhiều dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư thì sẽ thành công. Để chạy đua trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này, hàng loạt công ty chứng khoán đã và đang đầu tư với số tiền rất lớn cho công nghệ để khẳng định vị thế trên thị trường. Ngoài yếu tố công nghệ, nếu nhân sự của các công ty chứng khoán mới thành lập không theo kịp đà phát triển của thị trường, không cung cấp thông tin, tư vấn tốt thì sẽ không giữ được chân nhà đầu tư. - UBCKNN s ớm hoàn thiện đề án về chính sách phí, lệ phí đối với các đối tượng tham gia thị trường. Trong đó, mức phí sàn sẽ được xác định để tránh cạnh tranh không lành mạnh. Và trong bối cảnh thị trường chưa ổn định thì cũng cần đưa ra mức trần. Ngoài khả năng áp trần và sàn phí giao dịch đối với các CtyCK, dự kiến đề án cũng sẽ đề cập đến vấn đề phí đối với các quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán cũng có thể liên kết với ngân hàng thương mại để cung cấp dịch vụ tài chính cho nhà đầu tư. - Về vấn đề nhân lực, CQ quản lý thị trường nên ban hành Quy chế người hành nghề chứng khoán. CtyCK cần làm tốt công tác đào tạo. Quy chế người hành nghề chứng khoán cần được ban hành minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện để các CtyCK có số người hành nghề đảm bảo theo quy định pháp luật hiện hành. Với những quy định mới như đã nêu ở phần A, thị trường chứng khoán sẽ có một khung pháp lý tiến gần hơn với chuẩn mực quốc tế, hợp với yêu cầu phát triển của thị trường và tính chuyên nghiệp sẽ được nâng cao. Luật chứng khoán và các nghị định ban hành cụ thể hóa nội dung của Luật chứng khoán, theo hướng phát triển mạnh nhưng bền vững và minh bạch. Loại bỏ dần những thủ tục hành chính, giấy phép con không cần thiết trong cơ chế hoạt động của thị trường. Bên cạnh đó là mở rộng hoạt động của thị trường chính thức và thu hẹp dần phạm vi của thị trường tự do; đặc biệt, đối với các doanh nghiệp niêm yết, những quy định mới cũng chặt chẽ hơn theo hướng chất lượng hơn; với các Cty đại chúng là yêu cầu kiểm toán bắt buộc. Thị trường đang phát triển nhanh, ấn tượng nhưng cần có chất lượng cao, tính chuyên nghiệp cao để bền vững. * Xu hướng phát triển: Sẽ hình thành xu hướng sáp nhập : Năm 2008, sẽ có hơn 100 CtyCK hoạt động tại VN.Tuy nhiên, trên 50% thị phần môi giới và giao dịch hằng ngày hiện thuộc về 3 CtyCK hàng đầu(SSI, BVSC,ACBS) Những CtyCK mạnh về vốn, công nghệ, nhân lực, uy tín hiện nay ngày càng mở rộng hoạt động, chiếm lĩnh phần lớn mảng dịch vụ. Trong khi đó, mảng tự doanh chứng khoán không đem lại lợi nhận cao như trước đây vì thế những CtyCK mới thành lập khó có thể tồn tại.
  19. KẾT LUẬN Những thách thức ngày càng nhiều, nhất là với những diễn biến xấu của thị trường trong thời gian gần đây. Để tồn tại và phát triển, các công ty chứng khoán buộc phải lựa chọn con đường đúng đắn: đầu tư vào công nghệ, quan tâm phát triển đến chất lượng dịch vụ cho khách hàng… Sự hoạt động hiệu quả của chủ thể quan trọng này là nhân tố kích thích thị trường chứng khoán phát triển. Bên cạnh đó, một yếu tố rất quan trọng là động thái từ các chính sách vĩ mô của UBCKNN, của Chính phủ…để bình ổn những biến động xấu của thị trường, giải quyết những bất cập…nhằm hướng đến mục tiêu là sự phát triển bền vững của thị trường. Có được môi trường ổn định, các công ty chứng khoán sẽ có điều kiện phát triển dễ dàng hơn.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản