
1
Tiểu luận
Tổng quan chính sách thương
mại của Nhật Bản

2
MỞ ĐẦU
40 năm tăng trưởng như vũ bão sau chiến tranh đã đưa nền kinh tế Nhật
Bản lên ngang hàng với các cường quốc phát triển trên thế giới. Bên cạnh các
nguyên nhân như tận dụng thời gian cả thế giới đắm mình trong chiến tranh lạnh
để phát triển, sử dụng viện trợ phát triển sau Chiến tranh thế giới II từ Mỹ.... thì
một trong những nguyên nhân chính của sự phát triển vượt bậc này chính là chính
sách thương mại đúng đắn của Nhật Bản . Thương mại tự do là một trong những
động lực to lớn phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và đó đã là một trong những
nguyên nhân chính đưa lại sự phát triển "thần kỳ" cho nền kinh tế Nhật Bản từ
nhiều thập niên trước. Trong khuôn khổ bài tiểu luận hôm nay, nhóm chúng tôi sẽ
giới thiệu sơ lược về tổng quan chính sách thương mại của Nhật Bản trong thời kì
gần đây, đặc biệt là quan hệ thương mại Nhật Bản_Việt Nam.

3
NỘI DUNG
I. Khái quát về Nhật Bản :
Nhật Bản là quốc đảo thuộc Đông Bắc Á, nằm ở khu vực Tây Thái Bình
Dương (phía Đông và Đông Bắc giáp Thái Bình Dương, phía Tây và Tây Bắc giáp
biển Nhật Bản, phía Tây Nam giáp Biển Hoa Đông). Đường bờ biển dài
37.000km, có đá lớn và nhiều vịnh nhỏ nhưng rất tốt và đẹp. Vì là một đảo quốc,
nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển, Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hãy
lãnh thổ nào trên đất liền. Nhật Bản là quốc gia có nhiều thác nước, suối, sông và
hồ. Đặc biệt, ở Nhật Bản có rất nhiều suối nước nóng, là nơi hàng triệu người Nhật
thường tới để nghỉ ngơi và chữa bệnh.
Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái
Bình Dương và biển Philippines. Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do vài
đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm, xét về mặt địa
chất học, như vây là rất trẻ. Chính vì vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên
khiến cho nó nổi tiếng thế giới đó là nhiều núi lửa, lắm động đất. Địa hình núi
chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản. Giữa các núi có những bồn địa nhỏ,
các cao nguyên và cụm cao nguyên. Số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của
sông không lớn. Ở Nhật Bản giữa các vùng có sự chênh lệch lớn về khí hậu. Mặc
dù cả nước có khí hậu ôn hoà, nhưng miền bắc có mùa đông dài lạnh và có tuyết,
miền Nam có mùa hè nóng và mùa đông ôn hoà. Lượng mưa tương đối cao. Mùa
hè thường có mưa to và bão. Chính vì điều kiện tự nhiên không hề thuận lợi mà có
thể nói là rất nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, hầu hết phải nhập khẩu nguyên
nhiên liệu từ các nước khác nên việc đẩy mạnh chính sách thương mại quốc tế là
một công việc mang tính sống còn với đất nước Nhật Bản.
Nhật Bản là nước có số dân đông thứ 7 trên thế giới (128 triệu người), tuy
nhiên kết cấu dân số già. Người Nhật Bản có tính cách hết sức đặc biệt, thông
minh, cần cù, ham học hỏi, có ý thức tập thể trong công việc rất cao, có lẽ nhờ
những tính cách này, người Nhật đã biến đất nước nghèo tài nguyên, khí hậu khắc
nghiệt của mình thành một cường quốc trên thế giới. Chính vì thế, sẽ không quá
lời khi nói Nhật Bản là một cường quốc khoa học – kỹ thuật. Trình độ khoa học –
kỹ thuật của Nhật Bản, theo đánh giá tổng hợp của Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể
thao, Khoa học và Kỹ thuật Nhật Bản chỉ thua kém Mỹ nhưng vượt Đức, Anh,
Pháp. Sản phẩm công nghiệp dựa trên kỹ thuật cao của Nhật Bản có mặt trên khắp
thế giới. Số lượng bằng phát minh sáng chế của các công ty Nhật Bản không
ngừng tăng và không ít nhà khoa học Nhật Bản đã đoạt giải Nobel. Việc sở hữu rất
nhiều những thành tựu của khoa học kĩ thuật thế giới, cùng với một nguồn nhân
lực trình độ cao vô cùng dồi dào thì việc hợp tác, phát triển thương mại quốc tế ra
bên ngoài khỏi nước Nhất cũng đang là một xu thế tất yếu của chính sách phát
triển kinh tế của Nhật Bản.
Không những thế, Nhật Bản còn có một chế độ chính trị ổn định, kèm theo
là nền kinh tế hùng mạnh bậc nhất thế giới. Hiện nay Nhật Bản là một nước có nền
kinh tế lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người
là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng

4
đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện
trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Điều này cho thấy chính phủ Nhật rất
coi trọng chính sách thương mại quốc tế, coi nó như một phần quan trọng nhất
trong chiến lược thương mại hợp tác và phát triển.
Mặc dù với những khó khăn về điều kiện tự nhiên, nhưng lợi thế về mặt
nhân tố con người, tuy nhiên kể từ sau chiến tranh thế giới đến nay kinh tế Nhật
Bản đã nhanh chóng phục hồi và phát triển cao độ khiến cho thế giới hết sức kinh
ngạc. Điều này phải kể tới chính sách thương mại quốc tế đúng đắn của Nhật Bản.
II. Nội dung chính sách thương mại của Nhật Bản:
Chính sách thương mại của Nhật Bản đóng vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế Nhật Bản.
1.Chính sách xuất khẩu
Sự thành công to lớn của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh có thể nói là
sự kết hợp của nhiều yếu tố tạo nên. Trong các yếu tố đó, phải nói đến một nhân tố
nổi bật đóng vai trò quan trọng là chính sách thương mại, trong đó chủ yếu tập
trung vào chiến lược hướng về xuất khẩu. Nền kinh tế Nhật Bản lúc đầu cũng chỉ
là một nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào việc sản xuất các mặt hàng có hàm lượng
lao động cao. Nhật Bản đã phát huy sức mạnh truyền thống là một nước chuyên
chế biến xuất khẩu các sản phẩm bằng nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài, đã
được hình thành từ trước chiến tranh nhằm nhanh chóng mở rộng sản xuất và tăng
cường xuất khẩu. Với hướng đi đó, Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành nước đứng
đầu thế giới về sản xuất sợi tổng hợp, cao su, gang, xe ôtô khách và là nước đứng
thứ ba trên thế giới về sản xuất bột giấy, phân đạm, xi măng đồng và nhôm. Trong
sản xuất công nghiệp, Nhật Bản đã áp dụng chính sách tăng về khối lượng nhưng
pahỉ tăng về số lượng sản phẩm mới như cao su tổng hợp, hàng điện tử, hoá
dầu...Với hướng đi đó, vào những năm đầu thập kỷ 70 Nhật Bản đã trở thành một
trong những nền công nghiệp tiên tiến nhất thế giới. Những đối tác xuất khẩu
chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9%, Trung Quốc 13.4%, Hàn Quốc 7.8%, Đài Loan
7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005). Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là
thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất.
Năm 2002, tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản đã đạt 0,2%, tăng mạnh so với
mức tăng của nền kinh tế sau khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997 (0,3%). Mặc
dù có một số ảnh hưởng không tốt của sự giao đọng trong chính sách, một vài tập
đoàn bị phá sản (trong đó có tập đoàn SOGO-kinh doanh tổng hợp), nhưng tương
lai của nền kinh tế Nhật Bản vẫn rất sáng sủa. Từ năm 2003, đầu tư ở Nhật Bản
bắt đầu chuyển sang xu hướng tích cực, tỷ lệ thất nghiệp giảm, lòng tin của người
tiêu dùng đã phục hồi.
Về xuất khẩu, cho dù giá trị đồng Yên tăng lên nhưng tác động tích cực của sự

5
phục hồi nền kinh tế các nước Đông Nam A, và kinh tế Hoa kỳ tiếp tục mạnh lên
đã thúc đẩy xuất khẩu của Nhật Bản tăng nhanh kể từ năm 2001 đến nay. Đóng
góp của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế nói chung của đất nước đạt 0,2% và
0,3% trong các năm tài khoá 1999-2000 và 2000-2001. Có thể nói nhân tố chủ yếu
quyết định tăng trưởng GDP của Nhật Bản trong năm 2000-2003 là các biện pháp
về chính sách tài chính và khuyến khích xuất khẩu. Nhật Bản tăng cường viện trợ
kinh tế cho Đông Nam A và là nước viện trợ chính cho Indonesia, Malaysia,
Philippines và Thái Lan vượt xa cả Mỹ. Viện trợ của Nhật Bản đã tạo thuận lợi
cho việc bán các mặt hàng chế tạo của Nhật Bản và thúc đaỷ mạnh việc buôn bán
của Nhật Bản với khu vực này.
Trong thương mại, Nhật bản bị kêu ca vì thực hiện các chính sách thuế quan nhằm
hạn chế và bảo hộ trong nước làm giảm sức mua của người Nhật Bản, giảm hàng
nhập khẩu và tăng hàng xuất khẩu. Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu được hàng hoá của
mình, Nhật Bản đã áp dụng biện pháp khuyến khích và ưu đãi cho các nhà xuất
khẩu như: miễn giảm thế cho các công ty xuất nhập khẩu; thông qua các ngân
hàng phát triển của Nhật Bản và ngân hàng xuất nhập khẩu, cấp vốn với lãi suất
thấp, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. đặc biệt, chính phủ đã thành lập các
tổ chức hỗ trợ xuất khẩu trong lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm các thị trường bên
ngoài. Tiêu biểu nhất phải kể đến là tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO),
thành lập năm 1958 với các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu như: điều tra, theo dõi
những thay đổi về chính sách thuế quan, thị hiếu tiêu dùng và tình hình cạnh tranh
của các nước trên thị trường sở tại báo cáo về nước để phục vụ cho công tác hoạch
định chính sách song phương và các doanh nghiệp có nhu cầu tìm hiểu. Hai là, tổ
chức xây dựng các phòng giới thiệu sản phẩm, triển lãm hàng của Nhật Bản ở
nước ngoài ...Ba là, Thăm dò và tìm kiến những bạn hàng tương lai của Nhật Bản
để giới thiệu với các đối tác trong nưóc. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn thành
lập ngân hàng xuất khẩu, nay là ngân hàng xuất nhập khẩu (EXIMBANK) để hỗ
trợ tín dụng cho cho những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như sản xuất, chế
tạo tầu biển, thiết bị, thép...Hàng năm, hội nghị tham vấn cấp cao bàn về xuất khẩu
(gồm đại diện của chính phủ và giới kinh doanh, giới học giả...) được tổ chức bàn
về mục tiêu xuất khẩu cho năm tới và thảo luận các biện pháp hỗ trợ cụ thể.
Nhật Bản còn áp dụng biện pháp khuyến khích xuất khẩu bằng cách đưa ra các
tiêu chuẩn công nhận các doanh nghiệp có nhiều cống hiến cho xuất khẩu. Hàng
năm kiểm điểm, đánh giá kết quả xuất khẩu để biểu dương, tặng thưởng bằng biện
pháp cấp tín dụng với lãi suất thấp và miễn giảm thuế đặc biệt cho các doanh
nghiệp này.
Nhật Bản có một chính sách kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu rất khắt khe
nhằm không cho hàng kém phẩm chất lọt ra thị trường bên ngoài để giữ uy tín.
Chính việc kiểm tra chặt chẽ chất lượng hàng xuất khaủa của Nhật Bản đã làm cho
những nhà nhập khẩu tin tưởng vào hàng của Nhật và góp phần thúc đẩy việc tăng
xuất khẩu của nước này.

