intTypePromotion=1

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân: Nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
6
lượt xem
1
download

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân: Nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu định tính lần 1 với mục đích của nghiên cứu là thăm dò và tìm hiểu về bản chất khái niệm tinh thần doanh nhân và các khía cạnh của tinh thần doanh nhân. Sau khi xác định được các khía cạnh của tinh thần doanh nhân trong bối cảnh các DNNVV Việt Nam, nghiên cứu định tính lần 2 được thực hiện với mục đích là tìm hiểu và thăm dò về các yếu tố thể chế chính thống và không chính thống ảnh hưởng tới tinh thần doanh nhân của các DNNVV.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân: Nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

1<br /> <br /> 2<br /> <br /> CHƯƠNG 1<br /> <br /> DNNVV trong quá trình phát triển và hội nhập toàn cầu. Bởi các lý do trên, đề tài “<br /> Ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân: Nghiên cứu tại các doanh<br /> nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” được lựa chọn để thực hiện cho nghiên cứu này.<br /> <br /> GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU<br /> 1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu<br /> <br /> 1.2 Mục tiêu nghiên cứu<br /> <br /> Vai trò quan trọng của thể chế trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đã<br /> được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây trên toàn thế giới và ở Việt Nam. Ở cấp<br /> độ tổ chức, lý thuyết thể chế cho thấy các yếu tố thể chế ảnh hưởng đến các chiến lược<br /> và quy trình của các tổ chức (Scott, 1995). Thể chế như là một phần của môi trường<br /> kinh doanh ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp bao gồm các DNNVV<br /> đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả. Tuy nhiên, các tài liệu hiện<br /> có về thể chế chủ yếu tập trung vào thể chế chính thống, trong khi các tác động của thể<br /> chế không chính thống ít được quan tâm (Roxas và Chadee, 2012).<br /> <br /> Mục đích của nghiên cứu này là thăm dò và tìm hiểu ảnh hưởng của thể chế<br /> chính thống và không chính thống tới từng khía cạnh tinh thần doanh nhân của các<br /> DNNVV. Bên cạnh đó, tinh thần doanh nhân của các DNNVV trong bối cảnh của các<br /> quốc gia đang phát triển cũng được quan tâm nghiên cứu. Qua đó, kết quả thu được<br /> có thể đưa ra một số gợi ý để hoàn thiện thể chế, thúc đẩy tinh thần doanh nhân của<br /> các DNNVV Việt Nam nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập.<br /> <br /> Trong những năm gần đây, tinh thần doanh nhân (Entrepreneurial Orientation)<br /> đã trở thành một chủ đề phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu kinh doanh nói chung và<br /> lĩnh vực tinh thần doanh nhân nói riêng. Vij và Bedi (2012) lập luận rằng tinh thần<br /> doanh nhân là yếu tố quyết định chính cho sự thành công của một doanh nghiệp.<br /> Nhiều nghiên cứu trước đây đã tìm hiểu về tinh thần doanh nhân trong bối cảnh các<br /> DNNVV (ví dụ, Keh và cộng sự, 2007; Wang và cộng sự, 2015). Trong bối cảnh các<br /> nước đang phát triển như Việt Nam, tinh thần doanh nhân và một số tiền đề của nó<br /> cũng đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, nhưng ở mức độ còn khiêm<br /> tốn (Nguyen, 2009, 2011; Swierczek và Thai, 2003).<br /> <br /> 1.3.1 Phạm vi nghiên cứu:<br /> <br /> Thể chế có những ảnh hưởng đối với mong muốn, nhận thức rủi ro và lợi nhuận<br /> của các hoạt động kinh doanh (Avnimelech và cộng sự, 2014; Shane, 2003), và năng<br /> lực đổi mới của các doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013). Tuy nhiên, dường như<br /> thiếu các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế, đặc biệt là các nhóm thể chế không<br /> chính thống và tinh thần doanh nhân ở cấp độ công ty. Cần lưu ý rằng, những ảnh<br /> hưởng của thể chế không chính thống đối với xu hướng chấp nhận rủi ro, sự đổi mới<br /> sáng tạo và sự chủ động tiên phong đi trước đối thủ của công ty là vẫn chưa rõ ràng<br /> (Roxas và Chadee, 2012). Điều này đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để tìm<br /> hiểu về mối quan hệ giữa thể chế không chính thống và các hình thái của tinh thần<br /> doanh nhân.<br /> Các DNNVV có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Tính<br /> đến hết tháng 12 năm 2015 thì cả nước có khoảng trên 500.000 DNNVV, chiếm<br /> 97,6% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp trên 40% GDP và thu hút trên<br /> 50% lực lượng lao động của cả nước (Tổng cục thống kê, 2018). Tuy nhiên, kể từ<br /> cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, số lượng doanh nghiệp giải thể và đóng cửa tiếp<br /> tục tăng. Đặc trưng cơ bản của các DNNVV là quy mô nhỏ, lao động phổ thông, công<br /> nghệ lạc hậu, vốn ít…, năng suất lao động thấp, đây là những rào cản đối với các<br /> <br /> 1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu<br /> <br /> Khách thể nghiên cứu: Các DNNVV Việt Nam theo định nghĩa chính thức trong<br /> Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ. Không gian<br /> nghiên cứu: Luận án thực hiện việc thu thập dữ liệu tại ba thành phố lớn gồm: Hà<br /> Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu được<br /> thu thập sử dụng phân tích trong luận án là dữ liệu của 5 năm, từ năm 2012 đến 2017.<br /> 1.3.2 Đối tượng nghiên cứu<br /> Luận án nghiên cứu về tinh thần doanh nhân; ảnh hưởng của thể chế chính<br /> thống tới tinh thần doanh nhân; ảnh hưởng của thể chế không chính thống tới tinh<br /> thần doanh nhân của các DNNVV Việt Nam.<br /> 1.4 Những đóng góp mới của luận án<br /> Đóng góp về phương diện lý luận<br /> Ảnh hưởng của thể chế chính thống (formal institution) và thể chế không chính<br /> thống (informal institution) đến tinh thần doanh nhân (entrepreneurial orientation) ở<br /> cấp độ công ty được ít các học giả quan tâm nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết sử dụng cho<br /> các nghiên cứu là chưa rõ ràng và chưa nhất quán. Thể chế không chính thống chỉ<br /> được xem xét là các yếu tố văn hóa quốc gia mà bỏ qua vai trò quan trọng của các<br /> yếu tố thể chế không chính thống theo định nghĩa của Helmke và Levitsky (2004).<br /> Luận án này đã xem xét ảnh hưởng của thể chế đến từng khía cạnh của tinh thần<br /> doanh nhân (đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro và chủ động tiên phong đi trước đối<br /> thủ) của các DNNVV. Một số đóng góp cụ thể của nghiên cứu như sau:<br /> 1/ Để đo lường chất lượng thể chế chính thống về sự không phù hợp của hệ thống<br /> chính sách, quy định của Nhà nước, các nghiên cứu cần bổ sung thêm hai chỉ báo đo<br /> lường. Thứ nhất là sự chồng chéo và thiếu rõ ràng, thứ hai là sự thiếu ổn định và<br /> thiếu nhất quán.<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2/ Để đo lường thể chế không chính thống về lòng tin thể chế của các DNNVV, các<br /> nghiên cứu cần bổ sung thêm một chỉ báo đo lường phản ánh sự cảm nhận chung về<br /> các thay đổi tích cực của các quy định và chính sách của Nhà nước.<br /> <br /> CHƯƠNG 2<br /> <br /> 3/ Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy, sự không phù hợp của hệ thống chính<br /> sách/quy định của Nhà nước, lòng tin thể chế và tham nhũng đều có mối quan hệ với<br /> từng khía cạnh của tinh thần doanh nhân (đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro và chủ<br /> động tiên phong) trong bối cảnh các DNNVV ở các quốc gia đang phát triển tương tự<br /> như Việt Nam.<br /> 4/ Mối quan hệ giữa chất lượng điều hành và tinh thần doanh nhân của các DNNVV<br /> có thể thay đổi theo chiều ngược lại phụ thuộc vào bối cảnh.<br /> <br /> Đóng góp về phương diện thực tiễn<br /> Mặc dù các rào cản thể chế chính thống và tham nhũng vẫn ở mức độ cao,<br /> ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần doanh nhân, tuy nhiên lòng tin thể chế của nhiều<br /> DNNVV dường như không bị ảnh hưởng tiêu cực. Bởi vậy, vai trò tích cực của lòng<br /> tin thể chế đối với tinh thần doanh nhân là một phát hiện có nhiều ý nghĩa thực tiễn<br /> trong bối cảnh Việt Nam. Ngoài các giải pháp nhằm xóa bỏ các rào cản thể chế<br /> chính thống và hạn chế tham nhũng thì các giải pháp nhằm tăng cường lòng tin thể<br /> chế sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tinh thần doanh nhân của các DNNVV Việt<br /> Nam phát triển.<br /> 1.5 Kết cấu của luận án<br /> Luận án “Ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân: Nghiên cứu tại<br /> các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” bao gồm 159 trang: danh mục bảng biểu,<br /> danh mục hình vẽ, mục lục, nội dung năm chương, kết luận, danh mục các công trình<br /> nghiên cứu khoa học, tài liệu tham khảo và phụ lục. Năm chương bao gồm các nội<br /> dung: Chương 1/Giới thiệu chung về nghiên cứu (8 trang); Chương 2/Tổng quan<br /> nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân của<br /> các doanh nghiệp (33 trang); Chương 3/Phương pháp nghiên cứu (35 trang); Chương<br /> 4/Kết quả nghiên cứu (9 trang); Chương 5/Đánh giá kết quả nghiên cứu và một số<br /> kiến nghị đề xuất (11 trang); Tổng số bảng biểu là 20; Tổng số hình vẽ là 05.<br /> <br /> TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT<br /> 2.1 Tổng quan về mối quan hệ giữa thể chế và tinh thần doanh nhân của các<br /> DNNVV.<br /> 2.1.1 Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu<br /> Mặc dù lĩnh vực tinh thần doanh nhân đã được các học giả nghiên cứu về thể<br /> chế quan tâm và xem xét, nhưng các yếu tố thể chế không chính thống chủ yếu được<br /> xem xét là văn hóa quốc gia hoặc các học giả chỉ chủ yếu quan tâm tới thể chế chính<br /> thống. Tuy nhiên, thể chế không chính thống không nhất thiết phải là các yếu tố văn<br /> hóa theo quan điểm của Helmke và Levitsky (2004). Một số nghiên cứu đã khẳng<br /> định ảnh hưởng của thể chế không chính thống đến sự lựa chọn chiến lược của các<br /> doanh nghiệp là độc lập (Peng, 2002). Trong khi đó, các yếu tố thể chế không chính<br /> thống mang tính đặc trưng trong bối cảnh của các nền kinh tế chuyển đổi và đang<br /> phát triển như tham nhũng và lòng tin dường như ít được quan tâm nghiên cứu. Mặc<br /> dù các nghiên cứu cũng đã nỗ lực để đánh giá tác động của thể chế đến tinh thần<br /> doanh nhân ở cấp độ quốc gia, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu về mối quan hệ<br /> giữa thể chế, đặc biệt là thể chế không chính thống với tinh thần doanh nhân ở cấp độ<br /> công ty. Quan trọng hơn nữa, là những ảnh hưởng của thể chế tới chấp nhận rủi ro,<br /> đổi mới sáng tạo và chủ động tiên phong là chưa rõ ràng (Roxas và Chadee, 2012).<br /> Điều này đòi hỏi cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để khám phá mối quan hệ giữa thể<br /> chế chính thống và không chính thống với các hình thái của tinh thần doanh nhân.<br /> Ảnh hưởng của thể chế không chính thống, cụ thể là tham nhũng, lòng tin thể chế ở<br /> cấp độ doanh nghiệp trong bối cảnh các DNNVV sẽ là một khoảng trống nghiên cứu<br /> thú vị. Luận giải được các mối quan hệ này sẽ đóng góp vào việc làm sáng tỏ hơn vai<br /> trò của thể chế không chinh thống đối với tinh thần doanh nhân ở cấp độ công ty,<br /> trong bối cảnh một nước chuyển đổi và đang phát triển.<br /> Qua kết quả tổng quan, các nghiên cứu về tinh thần doanh nhân trong bối cảnh<br /> Việt Nam chỉ mới được một số rất ít học giả thực hiện, và vẫn còn nhiều ý kiến khác<br /> nhau về tinh thần doanh nhân (Hoàng Văn Hoa, 2010). Bên cạnh đó, các nghiên cứu<br /> chủ yếu mới dừng lại ở việc xem xét mối quan hệ giữa tinh thần doanh nhân và kết quả<br /> kinh doanh của các DNNVV Việt Nam (ví dụ như, nguyen, 2009; Swierczek & Thai,<br /> 2003). Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế và tinh thần doanh nhân thì gần<br /> như chưa được quan tâm nghiên cứu.<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 2.1.2 Cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế và<br /> tinh thần doanh nhân của các DNNVV<br /> <br /> Chủ động tiên phong đi trước đối thủ phản ánh sự sẵn sàng của doanh nghiệp trong<br /> việc táo bạo tiên phong đi trước đối thủ cạnh tranh. Chủ động có thể bao gồm các<br /> hành động: nhận biết và đánh giá các cơ hội mới, xác định và theo dõi các xu hướng<br /> thị trường và hình thành các nhóm kinh doanh mới.<br /> <br /> 2.1.2.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu<br /> Bảng 2.2: Các khái niệm sử dụng cho nghiên cứu<br /> Các yếu tố<br /> Thể chế<br /> <br /> Thể chế<br /> chính thống<br /> <br /> Thể chế<br /> không chính thống<br /> <br /> Tinh thần doanh nhân<br /> <br /> Nội dung khái niệm<br /> <br /> Nguồn<br /> <br /> “Luật chơi” trong một xã hội.<br /> <br /> North (1990)<br /> <br /> Thể chế chính thống là nói tới hệ thống pháp<br /> luật, quy định, chính sách, hợp đồng và hiệu<br /> lực thực thi. Cùng với toàn bộ văn bản luật<br /> pháp và chính sách là cơ chế thực thi, sự<br /> điều tiết, giám sát của các cơ quan liên quan<br /> giúp cho việc thực hiện chính sách.<br /> <br /> North (1992)<br /> <br /> Thể chế không chính thống đề cập đến các<br /> Helmke và<br /> giá trị chia sẻ trong xã hội, thông thường là<br /> các quy định không thể hiện bằng văn bản, Levitsky (2004,<br /> 2006)<br /> được truyền đạt và thực thi bên ngoài các<br /> kênh được thừa nhận chính thức.<br /> Khái niệm này nói tới “những quá trình,<br /> những hoạt động thực tiễn và những hoạt<br /> động ra quyết định dẫn tới sự ra đời của<br /> những cái mới trong doanh nghiệp”. Tinh<br /> thần doanh nhân gồm có ba yếu tố cấu<br /> thành: chấp nhận rủi ro, hành động một<br /> cách chủ động tiên phong đi trước đối thủ<br /> và đổi mới sáng tạo.<br /> <br /> Miller (1983);<br /> Lumpkin và<br /> Dess, (1996)<br /> <br /> Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tổng quan<br /> Khái niệm về các khía cạnh của tinh thần doanh nhân:<br /> <br /> Đổi mới sáng tạo nói tới việc doanh nghiệp sẵn sàng hỗ trợ sự sáng tạo và thử<br /> nghiệm, tham gia vào các quá trình sáng tạo, thử nghiệm các ý tưởng như áp dụng<br /> các phương pháp sản xuất mới, công nghệ mới hay phát triển các sản phẩm và dịch<br /> vụ mới cho các thị trường hiện tại hoặc thị trường mới.<br /> Chấp nhận rủi ro nói tới việc doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư một nguồn lực đáng kể<br /> để khai thác các cơ hội kinh doanh và thực hiện những chiến lược kinh doanh có độ<br /> rủi ro cao. Tinh thần dám chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp không có nghĩa là ‘làm<br /> liều’ không tính toán tới hậu quả, mà điều này phản ánh sự mạnh dạn, dám làm, dám<br /> nắm bắt những cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.<br /> <br /> 2.1.2.2 Cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế<br /> chính thống và tinh thần doanh nhân<br /> Chất lượng điều hành của các cơ quan quan quản lý Nhà nước được định nghĩa<br /> là các rào cản đối với hoạt động của các doanh nghiệp như mức thuế, quản lý thuế,<br /> các hoạt động thanh tra kiểm tra bởi sự áp đặt của Nhà nước (Chadee và Roxas,<br /> 2013). Các rào cản thể chế này cũng bao gồm thiếu hụt sự hỗ trợ của Nhà nước cho<br /> phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp như tài chính và các dịch vụ hỗ trợ<br /> (Hashi và Krasniqi, 2011; Zhu và các cộng sự, 2012). Chất lượng điều hành đề cập<br /> tới sự cứng nhắc và quan liêu mà các doanh nghiệp gặp phải khi giải quyết các công<br /> việc với các cơ quan đại diện của Nhà nước, ví dụ khi đi đăng ký kinh doanh hoặc<br /> cấp giấy phép kinh doanh để tiến hành một hoạt động kinh doanh cụ thể (Norton,<br /> 1998). Nội dung này cũng đề cập đến các quy tắc, các thủ tục, quy trình, mức độ phù<br /> hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, điều này dẫn đến gánh nặng chi phí bất<br /> hợp lý cho các doanh nghiệp. Điều này làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp khi<br /> phải thực hiện các giao dịch với các cơ quan chức năng của Nhà nước. Các chi phí<br /> này có thể là chi phí tài chính, thời gian và công sức để hoàn thành các thủ tục (Fogel<br /> và các cộng sự, 2006). Các rào cản này cũng làm tăng chi phí giao dịch và mức độ<br /> không chắc chắn, qua đó cản trở việc tiếp cận nguồn lực để hỗ trợ cho các hoạt động<br /> đổi mới (Chadee và Roxas, 2013). Hầu hết các nghiên cứu trong bối cảnh của các nền<br /> kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, thì chất lượng điều hành ảnh hưởng tiêu cực<br /> đến khả năng đổi mới của doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013; Xheneti và Bartlett,<br /> 2012). Zhu và các cộng sự (2012) đã chỉ ra hoạt động đổi mới sáng tạo của DNNVV<br /> bị cản trở bởi các chi phí liên quan đến đổi mới như gánh nặng thuế, chi phí tài<br /> chính…, việc tuân thủ sự quan liêu và cứng nhắc của các cơ quan Nhà nước. Rào cản<br /> này dẫn đến sự leo thang mức độ không chắc chắn và chi phí, ngăn cản khả năng tiếp<br /> cận của doanh nghiệp với các nguồn lực để hỗ trợ hoặc kích thích sự đổi mới. Bên<br /> cạnh đó, sự nhận thức về cơ hội và rủi ro của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự đổi mới<br /> sáng tạo và chủ động tiên phong của các doanh nghiệp (Haro và các công sự, 2011).<br /> Khi mà mức độ không chắc chắn và chi phí tăng cao thì khả năng quản trị rủi ro của<br /> doanh nghiệp bị hạn chế, đặc biệt là các DNNVV. Điều này sẽ làm cho các doanh<br /> nghiệp suy giảm mức độ chấp nhận rủi ro để có thể hướng tới các cơ hội kinh doanh.<br /> Sự tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục và các dịch vụ hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước<br /> cho các DNNVV khi thác các cơ hội kinh doanh mới sẽ ảnh hưởng tích cực đến mức<br /> độ chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp (Haro và các công sự, 2011). Do đó, việc<br /> gia tăng chi phí tiền bạc và chi phí thời gian, cũng như các doanh nghiệp còn phải đối<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> mặt với sự phiền hà khi thực hiện các thủ tục kinh doanh sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến<br /> mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Như vậy, chất lượng điều hành sẽ có thể<br /> ảnh hưởng tiêu cực đến cả ba khía cạnh của tinh thần doanh nhân. Các rào cản của<br /> chất lượng điều hành đối với hoạt động của các DNNVV cũng đã được các nghiên<br /> cứu trong nước đề cập tới (CIEM và các cộng sự, 2016; VCCI, 2016). Việc thanh tra,<br /> kiểm tra và quá nhiều các loại chi phí đã làm nản lòng các doanh nghiệp sản xuất và<br /> kinh doanh, ngại ngần đầu tư, giảm động lực đổi mới sáng tạo (Nguyễn Thị Luyến,<br /> 2018; Lê Du Phong và Lê Huỳnh Mai, 2018). Căn cứ vào kết quả tổng quan, luận án<br /> đề xuất các giả thuyết nghiên cứu sau:<br /> <br /> tế trong tương lai để hình thành các mối quan hệ hợp đồng. Điều này có thể ngăn cản<br /> các DNNVV chấp nhận rủi ro để đầu tư (Lajqi và Krasniqi, 2017). Bên cạnh đó, sự<br /> phức tạp và hay thay đổi của các quy định và chính sách của Nhà nước sẽ làm cho<br /> các doanh nghiệp khó dự đoán cũng như làm thế nào để phù hợp với các quy định khi<br /> muốn tiên phong trên thị trường. Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tính chủ<br /> động tiên phong của các doanh nghiệp. Căn cứ vào kết quả tổng quan, luận án đề xuất<br /> các giả thuyết nghiên cứu sau:<br /> <br /> H1a: Chất lượng điều hành có mối quan hệ ngược chiều với mức độ đổi mới sáng tạo.<br /> <br /> H2b: Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước có mối quan<br /> hệ ngược chiều với mức độ chấp nhận rủi ro.<br /> <br /> H1b: Chất lượng điều hành có mối quan hệ ngược chiều với mức độ chấp nhận rủi ro.<br /> H1c: Chất lượng điều hành có mối quan hệ ngược chiều với mức độ chủ động tiên phong.<br /> Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định được định nghĩa là tính<br /> phức tạp/sự chồng chéo, thiếu rõ ràng và tính biến động/thiếu ổn định và thiếu nhất<br /> quán của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước. Các rào cản này được đề cập<br /> đến bởi Lajqi và Krasniqi (2017). Đây cũng là hai đặc trưng điển hình của thể chế<br /> chính thống tại Việt Nam. Các chính sách của Nhà nước đề cập đến việc ban hành và<br /> thực thi luật pháp, pháp lệnh, qui định với bất cứ hình thức pháp chế nào và/hoặc các<br /> quyết định của chính phủ, đặc biệt là những văn bản ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh<br /> doanh (Forgel, 2001). Chính sách nhà nước có thể được xem như một ống dẫn qua đó<br /> các DNNVV có thể tham gia các hoạt động kinh doanh phù hợp với các qui tắc và<br /> qui định bên ngoài, vì thế, làm giảm mức độ không chắc chắn trong hoạt động kinh<br /> doanh (Roxas và các cộng sự, 2008). Các tài liệu về thể chế, cả lý thuyết và thực<br /> nghiệm đã chỉ ra rằng các quy định và chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng trực<br /> tiếp đến tinh thần doanh nhân (Dickson và Weaver, 2008; Roxas và các cộng sự,<br /> 2008; Alvarez và Urbano, 2012). Phần lớn các nghiên cứu đều thừa nhận, các quy<br /> định pháp luật theo hướng hoàn thiện và phát triển, đảm bảo tuân thủ đúng theo cơ<br /> chế thị trường thì có mối quan hệ tích cực với sự phát triển của các doanh nghiệp<br /> thông qua khả năng đổi mới và quyết định chiến lược (Roxas và các cộng sự, 2008).<br /> Mối quan hệ sẽ theo chiều ngược lại nếu các quy định pháp luật trở thành rào cản cho<br /> hoạt động của các doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013; Liu, 2011; Zhu và các cộng<br /> sự, 2012). Các quy định và chính sách của Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc cản trở các<br /> cơ hội để để DNNVV theo đuổi các dự án sáng tạo nhiều rủi ro hơn nhưng đầy hứa<br /> hẹn (Zhu và các cộng sự, 2012). Sự thiếu ổn định và phức tạp của hệ thống quy định<br /> chính sách gây ra rủi ro chính sách, rủi ro kinh doanh, mất động lực đổi mới sáng tạo<br /> và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển của các doanh nghiệp (Nguyễn Thị<br /> Luyến, 2018). Bởi vì các chính sách không phù hợp nên môi trường trở nên đối<br /> nghịch với tăng trưởng kinh doanh và các doanh nhân khó dự đoán triển vọng về kinh<br /> <br /> H2a: Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước có mối quan<br /> hệ ngược chiều với mức độ đổi mới sáng tạo.<br /> <br /> H2c: Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước có mối quan<br /> hệ ngược chiều với mức độ chủ động tiên phong.<br /> 2.1.2.3 Cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế<br /> không chính thống và tinh thần doanh nhân<br /> Mặc dù còn có các ý kiến khác nhau trong việc xác định các yếu tố thể chế<br /> không chính thống (Helke và Levisky, 2006; Sayoum, 2011), nhưng nói chung thể<br /> chế không chính thống có thể được xác định theo ba nhóm các yếu tố chủ yếu: nhóm<br /> thứ nhất bao gồm các yếu tố văn hóa quốc gia, các chuẩn mực trong xã hội (Busenitz<br /> và các cộng sự, 2000); nhóm thứ hai là các yếu tố xã hội như lòng tin, danh tiếng<br /> (Wicks và Berman, 2004; Seyoum, 2011); nhóm thứ ba là các yếu tố được sinh ra do<br /> kết quả của sự thiếu hụt và yếu kém của thể chế chính thống như mạng lưới quan hệ<br /> (Aslanion, 2006), tham nhũng và kết nối chính trị (Li, 2009). Tất cả ba nhóm yếu tố<br /> này của thể chế không chính thống đều hướng tới việc đạt được “sự chấp nhận” khi<br /> phải tuân thủ “luật chơi” trong một xã hội. Covin và Miller (2014) và Miller (2011),<br /> các học giả chuyên nghiên cứu về lĩnh vực tinh thần doanh nhân đã đưa ra gợi ý rằng:<br /> tinh thần doanh nhân có thể được định hình bởi sức mạnh xã hội, các bên liên quan<br /> hoặc áp lực của chính phủ để bắt chước hoặc nổi bật so với đối thủ cạnh tranh hoặc<br /> thúc đẩy tổ chức của nó được chấp nhận. Trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi<br /> và đang phát triển, các nghiên cứu đã đưa ra một số yếu tố thể chế không chính<br /> thống, điển hình như tham nhũng (Li, 2009, Zhghenti, 2017), lòng tin (Nguyen và các<br /> cộng sự, 2005; Seyoum, 2011), và mạng lưới quan hệ (Aslanion, 2006; Steer và Sen,<br /> 2010). Tuy nhiên, các nghiên cứu đều có sự thống nhất cao về vai trò điều tiết của<br /> mạng lưới quan hệ với mối quan hệ giữa tinh thần doanh nhân và kết quả kinh doanh<br /> của các doanh nghiệp (Chin và các cộng sự, 2016; Zhang và Zhang, 2012; Walter và<br /> các cộng sự, 2006). Bởi vậy, luận án này chỉ nghiên cứu mối quan hệ giữa thể chế<br /> không chính thống và tinh thần doanh nhân thông qua tìm hiểu ảnh hưởng của hai<br /> yếu tố thể chế không chính thống là tham nhũng và lòng tin thể chế.<br /> <br /> 9<br /> <br /> Tham nhũng là lạm dụng quyền hạn được giao phó cho lợi ích cá nhân<br /> (Bardhan, 1997, Transparency International, 2010). Tham nhũng được định nghĩa là<br /> các cách tự làm giàu, tự thưởng tiền của các quan chức Nhà nước từ cao nhất xuống<br /> thấp nhất, để lấy được tiền và quà cho cá nhân từ mọi giao dịch của Nhà nước bất cứ<br /> khi nào có thể. Khái niệm tham nhũng này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu<br /> trước đó, bao gồm cả những nghiên cứu trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi và<br /> đang phát triển (Avnimelech và cộng sự, 2014, Chadee và Roxas, 2013) và cũng<br /> được sử dụng trong nghiên cứu này. Trong thực tế, tham nhũng tồn tại ở tất cả các<br /> nước. Tuy nhiên, ở các nền kinh tế chuyển đổi, nó đã được coi là một hiện tượng phổ<br /> biến và mức độ của nó là cao hơn đáng kể so với ở các nền kinh tế phát triển<br /> (Tonoyan và cộng sự, 2010). Mặc dù nỗ lực chống tham nhũng của chính phủ và các<br /> chiến dịch chống tham nhũng khác nhau ở các nước đang phát triển, nhưng tham<br /> nhũng vẫn là một thách thức lớn đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp<br /> và nó đã được gợi ý như một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi của các<br /> doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013; Le, 2017).<br /> Liên quan đến những ảnh hưởng của tham nhũng đối với các hành vi của công<br /> ty, các tài liệu đã cho thấy tham nhũng có ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực<br /> ngay lập tức hoặc trong tương lai (Macrae, 1982) và có thể có một số tác động tích<br /> cực trong ngắn hạn nhưng nó sẽ cản trở sự đổi mới và phát triển bền vững của các<br /> doanh nghiệp (Avnimelech và cộng sự, 2014; Nguyen và các cộng sự, 2016). Ở cấp<br /> quốc gia, tác động tiêu cực của tham nhũng đã được ghi nhận rộng rãi trong các<br /> nghiên cứu trước đây như tạo ra những động lực tiêu cực cho các doanh nhân tham<br /> gia vào các cơ hội tạo ra giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh và do đó dẫn đến<br /> giảm các hoạt động của tinh thần doanh nhân (Avnimelech và các cộng sự, 2014). Ở<br /> cấp độ công ty, một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy tác động tiêu cực của tham<br /> nhũng đối với sự đổi mới của công ty (Chadee và Roxas, 2013, Nguyen và các cộng<br /> sự, 2016). Tham nhũng đã góp phần vào việc định hình hành vi tinh thần doanh nhân<br /> của các doanh nghiệp nhỏ trong bối cảnh của các nền kinh tế chuyển đổi (Tonoyan và<br /> các cộng sự, 2010). Tham nhũng được xác là một trở ngại rất lớn đối với hoạt động<br /> của các DNNVV (Aidis, 2005; Hashi & Krasniqi, 2011). Khi tham nhũng ở mức độ<br /> cao, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng kinh doanh ngắn hạn, ít đầu tư và chộp giật<br /> (Nguyễn Văn Thắng, 2015). Như vậy, mức độ chấp nhận rủi ro và chủ động tiên<br /> phong của các doanh nghiệp có thể sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi họ không có ý định<br /> đầu tư lâu dài, không chú trọng vào phát minh và sáng tạo. Tuy nhiên, ảnh hưởng của<br /> tham nhũng đến tất cả các khía cạnh của tinh thần doanh nhân (đổi mới sáng tạo,<br /> chấp nhận rủi ro và chủ động tiên phong,) dường như ít được quan tâm nghiên cứu.<br /> Căn cứ vào cơ sở tổng quan, luận án đề xuất các giả thuyết nghiên cứu sau:<br /> H3a: Tham nhũng có mối quan hệ ngược chiều với mức độ đổi mới sáng tạo.<br /> <br /> 10<br /> <br /> H3b: Tham nhũng có mối quan hệ ngược chiều với mức độ chấp nhận rủi ro.<br /> H3c: Tham nhũng có mối quan hệ ngược chiều với mức độ chủ động tiên phong.<br /> Lòng tin là một thể chế không chính thống quan trọng và thường được sử dụng<br /> (Williamson, 1993; Dixit, 2009; Seyoum, 2011) đã trở thành một nguyên tắc quan<br /> trọng của tổ chức khi thiếu hụt một thể chế thị trường mạnh (Nguyen và các cộng sự,<br /> 2005) và phát triển lòng tin sẽ có một kết quả hoạt động tốt hơn (Wicks và Berman,<br /> 2004; Nguyen và Rose, 2009). Lòng tin thường được nhìn nhận là có thể thay thế cho<br /> một thể chế thị trường phát triển (Redding, 1990; Peng & Heath, 1996). Có rất nhiều<br /> các nghiên cứu về các loại lòng tin khác nhau và cũng có rất nhiều khái niệm về lòng<br /> tin. Nói chung, lòng tin được coi là một thể chế không chính thống đề cập đến các hệ<br /> thống tín ngưỡng đã được thiết lập về hành vi của người khác. Cần thiết phải xác<br /> định các loại lòng tin cụ thể trong nghiên cứu để so sánh thích hợp. Rus và Iglic<br /> (2005) đã kiểm tra lòng tin của các DNNVV bao gồm lòng tin thể chế và lòng tin<br /> giữa các cá nhân. Lòng tin thể chế trong nghiên cứu này được định nghĩa là các kỳ<br /> vọng được chia sẻ có nguồn gốc từ các cấu trúc xã hội chính thức thông qua các tín<br /> hiệu như là thành viên của các hiệp hội nghề nghiệp hoặc các cơ chế trung gian như<br /> quy định pháp luật, ngân hàng, sự quan liêu của chính phủ (Fuglsang và Jagd, 2015),<br /> nói chung là vượt ra khỏi một giao dịch nhất định và vượt ra ngoài các đối tác trao<br /> đổi cụ thể (Zucker, 1986; p. 63). Lòng tin thể chế thúc đẩy sự hợp tác và sẽ có tác<br /> động tích cực đến kết quả khi khuyến khích các chủ thể tham gia vào các mối quan hệ<br /> hợp tác kinh doanh với một loạt các đối tác tiềm năng do đó mở rộng cơ hội kinh<br /> doanh và các nguồn lực sẵn có (Rus & Iglic, 2005). Như vậy, lòng tin thể chế có thể<br /> ảnh hưởng đến tinh thần doanh nhân là mối quan hệ cần được kiểm tra bằng các<br /> nghiên cứu cả lý thuyết lẫn thực nghiệm. Trong nghiên cứu này, căn cứ vào mục đích<br /> nghiên cứu, tác giả tập trung vào lòng tin thể chế, nó được xem là trung tâm nhất<br /> trong chức năng của các hệ thống kinh tế xã hội hiện đại và rất quan trọng trong giai<br /> đoạn đầu của mối quan hệ giữa các công ty (Rus và Iglic, 2005). Tương tự như tham<br /> nhũng, lòng tin thể chế đã được tìm thấy đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra<br /> môi trường thể chế. Các hoạt động của tinh thần doanh nhân đòi hỏi một nền tảng cơ<br /> bản của lòng tin thể chế (Karmann et al, 2016). Trong đó, tinh thần doanh nhân và sự<br /> đổi mới của doanh nghiệp có thể bị suy giảm hoặc phát triển (Anokhin và Schulze,<br /> 2009; Ellonen và cộng sự, 2008). Căn cứ vào cơ sở tổng quan, luận án đề xuất các giả<br /> thuyết nghiên cứu sau:<br /> H4a: Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với mức độ đổi mới sáng tạo.<br /> H4b: Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với mức độ chấp nhận rủi ro.<br /> H4c: Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với mức độ chủ động tiên phong.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản