intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ: Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945 - 1954

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

0
32
lượt xem
5
download

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ: Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945 - 1954

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án đã trình bày một cách hệ thống và toàn diện về "Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến-kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954", qua đó nêu lên những đóng góp to lớn của Thái Nguyên với tư cách vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến trong kháng chiến chống Pháp, từ đó làm rõ vị thế, vai trò và ý nghĩa lịch sử của Thái Nguyên trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận án Tiến sĩ: Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945 - 1954

  1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ MINH HUỆ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KHÁNG CHIẾN - KIẾN QUỐC CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN THỜI KÌ 1945 - 1954 Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 66 22 03 13 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2016
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI V IỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Trần Đức Cường 2. PGS.TS Đinh Quang Hải Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Hồng Phản biện 2: PGS.TS. Hà Mạnh Khoa Phản biện 3: PGS.TS. Đoàn Ngọc Hải Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. Vào hồi .... giờ ... ngày .... tháng ..... năm 2016 Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Quốc gia Việt Nam - Thư viện Học viện Khoa học xã hội
  3. DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ 1. Vài nét về giáo dục phổ thông ở tỉnh Thái Nguyên thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11 - 2014. 2. Thái Nguyên trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7-2015
  4. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa châu thổ sông Hồng với miền núi phía Bắc của Tổ quốc, trải qua những biến chuyển của lịch sử và thời đại, Thái Nguyên luôn nổi lên là một địa bàn trọng yếu trong bảo vệ và phát triển đất nước. 1.2. Thái Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập thời phong kiến, Thái Nguyên là phên giậu của Tổ quốc, che chắn mặt Bắc cho kinh thành Thăng Long. 1.3. Sự ra đời của An toàn khu trên đất Thái Nguyên đã thể hiện rõ sự đúng đắn và sáng tạo cách mạng của Đảng, đồng thời cũng chứng minh cho vị thế quan trọng của vùng đất Thái Nguyên trong những điều kiện lịch sử nhất định. 1.4. Trải qua các thời kì cách mạng từ năm 1930 đến nay, truyền thống yêu nước của nhân dân Thái Nguyên luôn được phát huy cao độ. Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám, Thái Nguyên nằm trong vùng căn cứ địa cách mạng, là nơi ra đời Cứu quốc quân II (9/1941), là nơi đặt ATK II của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kì (1943-1945) và là nơi in ấn tài liệu của Đảng, là nơi đưa đón và bảo vệ cán bộ, là một trong những đầu mối liên lạc giữa đồng bằng với chiến khu Việt Bắc, đồng thời cũng nơi thống nhất Cứu quốc quân với Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam giải phóng quân (5/1945). 1.5. Đặc biệt, do có vị trí chiến lược quan trọng nên trong cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Thái Nguyên cùng với Tuyên Quang, Bắc Kạn được Trung ương Đảng, Chính phủ chọn làm An toàn khu Trung ương. Định Hóa - Thái Nguyên trở thành trung tâm của ATK Trung ương, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh đặt đại bản doanh để lãnh đạo toàn quân, toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thái Nguyên đã thực sự là một trong những hậu phương vững chắc trong kháng chiến. 1.6. Việc nghiên cứu quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên trong thời 1945-1954 góp phần làm rõ đường lối “kháng chiến, kiến quốc” của Đảng, qua đó nêu lên những đóng góp của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên vào sự nghiệp kháng chiến của toàn dân tộc; làm rõ vị thế, vai trò của Thái Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng thời góp phần vào việc tiếp tục nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay. Từ những lí do trên, tôi chọn “Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945 - 1954” làm đề tài luận án Tiến sĩ Lịch sử. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 1
  5. 2.1. Mục đích nghiên cứu Trình bày một cách hệ thống và toàn diện về "Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954", qua đó nêu lên những đóng góp to lớn của Thái Nguyên với tư cách vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến trong kháng chiến chống Pháp, từ đó làm rõ vị thế, vai trò và ý nghĩa lịch sử của Thái Nguyên trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: - Những nhân tố tác động đến nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc ở tỉnh Thái Nguyên. - Công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền ở tỉnh Thái Nguyên từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. - Trình bày có hệ thống quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến-kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945 - 1954 trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa giáo dục… - Làm rõ cuộc chiến đấu trực tiếp bảo vệ quê hương và ATK Trung ương của quân và dân tỉnh Thái Nguyên. - Làm rõ vị trí, vai trò của hậu phương Thái Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) trên cả nhiệm vụ xây dựng hậu phương và nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến. - Rút ra một số đặc điểm, kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận án là "Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945- 1954", trong đó tập trung vào nhiệm vụ kháng chiến - trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương và ATK Trung ương và nhiệm vụ kiến quốc - xây dựng hậu phương, chi viện cho chiến trường. 3.2. Phạm vi nghiên cứu * Về nội dung: Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục, y tế trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). * Về thời gian: Luận án xác định thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954, tức là toàn bộ thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam. * Về không gian: Toàn bộ địa bàn của tỉnh Thái Nguyên trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp gồm Thị xã Thái Nguyên, các huyện: huyện Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Định Hoá và Đại Từ. 2
  6. 4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, các lí luận về chiến tranh cách mạng, về xây dựng căn cứ địa, hậu phương trong kháng chiến, về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, điền dã cũng được sử dụng để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. 5. Nguồn tài liệu Bên cạnh việc tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, đề tài Luận án chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu chính sau: 1. Các tác phẩm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, các văn kiện Đảng, các văn bản của Bộ Quốc phòng, tác phẩm của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp... 2. Nguồn tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Văn phòng Lưu trữ Trung ương Đảng, Lưu trữ Tỉnh ủy Thái Nguyên. 3. Nguồn tài liệu từ các bộ thông sử, giáo trình, công trình nghiên cứu chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án và các tạp chí chuyên ngành. 4. Các tư liệu thu thập qua một số cuộc điều tra khảo sát thực địa tại Thái Nguyên. 6. Đóng góp của luận án Kết quả nghiên cứu của Luận án với đề tài “Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954” sẽ góp một phần trong việc: 1. Làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên 2. Dựng lại bức tranh toàn cảnh về Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954 trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục y tế. 3. Luận án góp phần khẳng định những đóng góp của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đối với cuộc kháng chiến chiến chống thực dân Pháp. 4. Luận án nêu lên đặc điểm, trị trí, vai trò và một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình thực hiện nhiệm vụ “kháng chiến - kiến quốc” của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954. 5. Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu và bổ sung tài liệu mới, đồng thời góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương. 3
  7. 7. Bố cục của luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của Luận án gồm 4 chương: Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án Chương 2. Xây dựng cơ sở nền tảng cho nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc (9-1945 – 9-1947) Chương 3. Chiến đấu bảo vệ quê hương và xây dựng hậu phương kháng chiến (10-1947 – 7-1954) Chương 4. Một số nhận xét và kinh nghiệm Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thu hút sự quan tâm của các học giả nước ngoài và đông đảo giới nghiên cứu trong nước, số bài viết và công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng tăng lên, điều đó đã giúp chúng tôi có thêm thông tin trong các lĩnh vực cụ thể, trên cơ sở đó có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn khi đánh giá về quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên. 1.1.2. Các công trình nghiên cứu về tỉnh Thái Nguyên và liên quan đến kháng chiến chống Pháp ở Thái Nguyên Đối với đề tài kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên, tuy chưa có một công trình nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện, đầy đủ nhưng đã có nhiều công trình, bài viết liên quan đến từng nội dung, từng khía cạnh của đề tài như: xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng kinh tế, văn hóa-xã hội, y tế, công cuộc tiêu thổ kháng chiến, Lịch sử ATK Định Hóa, cuộc chiến đấu của quân và dân Thái Nguyên trong chiến dịch Việt Bắc Thu- Đông năm 1947, trong chiến dịch Biên biới Thu - Đông năm 1950, Cải cách ruộng đất... 1.2. Những thành tựu nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 1.2.1. Những thành tựu nghiên cứu Nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung và Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954 dù được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, mức độ nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, song những vấn đề liên quan đến nội dung luận án chưa được nghiên cứu chuyên 4
  8. sâu, còn tản mạn, mang tính đơn lẻ, thường được trình bày lồng ghép, chưa bao quát hay thiếu tính tổng thể. Qua nghiên cứu cho thấy sự phong phú, đa dạng ở các thể loại nghiên cứu (sách xuất bản, chuyên khảo, bài viết...) như đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng, về quá trình xây dựng và bảo vệ ATK, về quá trình xây dựng hậu phương hoặc về cuộc chiến đấu trực tiếp của quân và dân Thái Nguyên trong cuộc kháng chiến chống pháp. Các công trình nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản như: Chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, quá trình xây dựng và bảo vệ ATK, cuộc tấn công lên Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 của thực dân Pháp, lịch sử kháng chiến chống Pháp của tỉnh Thái Nguyên. Có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu mang tính chất chuyên khảo và trình bày một cách hệ thống tương đối toàn diện về quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954. Tuy nhiên, các công trình đã được công bố là những thành quả nghiên cứu quan trọng, là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án. 1.2.2. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đi trước, luận án xác định cần tập trung làm rõ một số vấn đề sau: - Làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên - Công tác chuẩn chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. - Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954 trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội. - Những kết quả mà nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã đạt được về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục y tế…và tác động của nó đối với sự nghiệp kháng chiến và cách mạng cả nước. - Đặc điểm của “Quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên thời kì 1945-1954”. - Vị trí, vai trò của ATK Thái Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như những đóng góp của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đối với cuộc kháng chiến chiến chống thực dân Pháp nói chung. - Rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên. 5
  9. Chương 2 XÂY DỰNG CƠ SỞ NỀN TẢNG CHO NHIỆM VỤ KHÁNG CHIẾN VÀ KIẾN QUỐC (9-1945 – 9-1947) 2.1. Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc ở tỉnh Thái Nguyên 2.1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, là vùng đất nối giữa vùng núi rừng Việt Bắc với đồng bằng châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ bảo vệ Kinh đô Thăng Long xưa và Thủ đô Hà Nội ngày nay. Với đặc điểm địa hình của Thái Nguyên (vùng trung du, Vùng núi, vùng cao), về quân sự trong chiến tranh cho phép phát huy thế mạnh ba vùng để hỗ trợ lẫn nhau, kết hợp tiến công và phòng ngự, trong thời bình phát huy thế mạnh kinh tế ba vùng để xây dựng tiềm lực kinh tế, quốc phòng địa phương vững mạnh. Thái Nguyên có nhiều sông, suối phân bổ tương đối đều trên địa bàn tỉnh, rất thuận lợi cho việc canh tác. Hệ thống giao thông tỉnh Thái Nguyên đã góp phần quan trọng đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa, lương thực, thực phẩm và đi lại của nhân dân trong quá trình xây dựng hậu phương, thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. 2.1.2. Văn hóa, xã hội và truyền thống lịch sử Nhân dân các dân tộc Thái Nguyên có truyền thống văn hoá lâu đời và có truyền thống hiếu học, tôn sư, trọng đạo. Trong lịch sử lâu dài của dân tộc, Thái Nguyên thường xuyên phải đối mặt với các thế lực ngoại bang. Chính vì vậy, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã sớm xây dựng cho mình bản lĩnh bất khuất, kiên cường trước hoạ ngoại xâm và bất công xã hội. Tháng 9-1936 cơ sở Đảng đầu tiên đã ra đời tại xã La Bằng, huyện Đại Từ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng ở tỉnh Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ. Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám, Thái Nguyên trở thành một trung tâm cách mạng quan trọng của cả nước; nơi ra đời và hoạt động của Trung đội Cứu quốc quân II; hai huyện Phú Bình, Phổ Yên được chọn làm An toàn khu II của Trung ương trong những năm 1943-1945. Tháng Tám năm 1945, hòa chung với phong trào cách mạng trong cả nước, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã lật đổ được ách thống trị thực dân, phong kiến, giành quyền độc lập tự do. 2.1.3. Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước vừa kháng chiến vừa kiến quốc Ngày 25-11-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã đề ra bản chỉ thị quan trọng “Kháng chiến, kiến quốc”. Chỉ thị đề ra những nhiệm vụ mới, xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính sách lớn để chỉ đạo hành động của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh nhằm giữ vững quyền độc lập tự do, bảo vệ chế độ mới. Các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ được khái quát thành khẩu hiệu chiến lược: “Kháng chiến và kiến quốc”. Chỉ thị là 6
  10. cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn dân trước tình hình mới, xây dựng chế độ mới phải đi đôi với bảo vệ chế độ mới. Hai nhiệm vụ chiến lược này được Đảng và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên riêng và nhân dân cả nước nói chung kết hợp chặt chẽ trong suốt thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). 2.2. Xây dựng cơ sở nền tảng cho nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc 2.2.1. Xây dựng nền tảng chính trị Tháng 9-1945, Hội nghị cán bộ toàn tỉnh Thái Nguyên được tổ chức tại xóm Trường Xô (xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương). Sau Hội nghị Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên được thành lập gồm 8 người. Ngay sau khi thành lập, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên mở hội nghị và quyết định kiện toàn các cơ quan giúp việc Tỉnh ủy, ra sức xây dựng các huyện ủy. Nhân các dân tộc Thái Nguyên cùng với nhân dân cả nước phấn khởi đi bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thái Nguyên có ba đại biểu được bầu vào Quốc hội. Sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp bộ Đảng, nhân dân trong tỉnh tham gia bầu cử Hội đồng Nhân dân hai cấp tỉnh và xã. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã phát huy ý thức làm chủ trong mọi tầng lớp nhân dân. Các ban chuyên môn của chính quyền dần dần hình thành và đi vào hoạt động tích cực. Bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân từ xã đến tỉnh từng bước được củng cố và kiện toàn. Các đoàn thể quần chúng cũng không ngừng được củng cố về tổ chức và có ảnh hưởng lớn đến các tầng lớp nhân dân, góp phần tăng thêm sức mạnh đoàn kết toàn dân, có tác dụng to lớn trong việc tổ chức và động viên cổ vũ mọi tầng lớp xã hội hăng hái tham gia đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. 2.2.2. Xây dựng nền tảng về quân sự Sau Thông tư (ngày 19 tháng 02 năm 1947) của Bộ Quốc phòng, việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong tỉnh Thái Nguyên được triển khai nhanh chóng. Tháng 4 năm 1947, Ban chỉ huy Tỉnh đội bộ dân quân tỉnh Thái Nguyên được thành lập và nhanh chóng đi vào hoạt động. Các Ban chỉ huy Huyện đội, xã đội bộ dân quân cũng lần lượt ra đời và từng bước được củng cố. Từ tháng 3-1947 đến tháng 5-1947 dân quân du kích Thái Nguyên là 2.554 người. Thái Nguyên mở được 4 lớp huấn luyện du kích với 168 học sinh, thời gian huấn luyện từ 1 đến 2 tháng. Đến năm 1947 ở tỉnh Thái Nguyên mỗi huyện đều có 1 trung đội du kích thoát ly và 1 trung đội cảnh vệ. Nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã hăng hái tham gia giúp đỡ, ủng hộ bộ đội, tự nguyện góp súng kíp, cung nỏ, quần áo, chăn màn, lương thực để nuôi dưỡng và trang bị cho bộ đội dân quân, du kích. 2.2.3. Xây dựng nền tảng về kinh tế Trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám, trước những khó khăn về kinh tế, nhất là hậu quả của nạn đói, quân dân Thái nguyên tích cực hưởng ứng phong trào tăng gia sản xuất. Khắp nơi đều tổ chức phong trào khai hoang, phục hóa, 7
  11. mở rộng diện tích trồng cây lương thực và hoa màu. Nhờ có sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh, nạn đói bước đầu được đẩy lùi. Hưởng ứng “Tuần lễ vàng” và xây dựng “Quỹ độc lập” nhân dân Thái Nguyên đã ủng hộ trên 5kg vàng, hàng vạn đồng tiền mặt góp vào công quỹ kháng chiến. Để phù hợp với hoàn cảnh mới, quân và dân Thái Nguyên ra sức xây dựng nền kinh tế của địa phương, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Nông dân, công nhân, bộ đội, nhân viên cơ quan, giáo viên, học sinh, đồng bào tản cư, ai cũng có nghĩa vụ sản xuất lương thực. Phong trào tăng gia sản xuất diễn ra rầm rộ khắp nơi. Nhiều xưởng thủ công vẫn duy trì sản xuất, vấn đề lưu thông phân phối, hàng hóa giữa các địa phương trong toàn tỉnh được quan tâm. Trong toàn tỉnh Thái Nguyên có tất cả 37 chợ, trong đó thị xã Thái Nguyên 6 chợ, huyện Phú Bình 6 chợ, huyện Đại Từ 3 chợ, huyện Định Hoá 4 chợ. Kết quả đạt được về kinh tế trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến đã góp phần quan trọng thực hiện tốt chủ trương tự cấp, tự túc, duy trì và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong kháng chiến. 2.2.4. Xây dựng nền tảng về văn hóa xã hội Trong những năm 1945-1946, phong trào xóa nạn mù chữ đã diễn ra sôi nổi, thực sự trở thành phong trào quần chúng rộng lớn. Đến cuối năm 1946, đã có 14.906 người từ 8 tuổi trở lên tham gia các lớp bình dân học vụ và được công nhận thoát mù chữ, chiếm 12,1% dân số toàn tỉnh. Về giáo dục phổ thông, một số trường, lớp được xây dựng mới trên địa bàn các huyện, ngoài bậc tiểu học, tỉnh Thái Nguyên đã thành lập được Trường Trung học Lương Ngọc Quyến tại trung tâm thị xã. Nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy từng bước được cải tiến theo hướng dân tộc dân chủ, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Thắng lợi bước đầu trong phong trào thi đua diệt giặc dốt và công tác giáo dục phổ thông không chỉ góp phần nâng cao trình độ hiểu biết của người dân, mà còn có ý nghĩa to lớn về chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân lao động tham gia ngày càng nhiều vào công việc quản lí Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Trong thế trận toàn dân đánh giặc, đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ ở mọi miền đất nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã khoác ba lô lên đường kháng chiến. Cuộc vận động xây dựng Đời sống mới được đông đảo nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên hưởng ứng, đồng bào các dân tộc ra sức xóa bỏ các tệ nạn của xã hội như cờ bạc, nghiện hút, mê tín, dị đoan và những hủ tục. Công tác y tế, chăm lo sức khỏe của nhân dân cũng được coi trọng. Mạng lưới y tế địa phương, gồm các trạm cứu thương, trạm xá, phòng phát thuốc, bệnh xá, bệnh viện từng bước hình thành và hoạt động. Tỉnh Thái Nguyên có một bệnh viện nhân dân, các trạm phát thuốc có tại các huyện trong toàn tỉnh. 8
  12. 2.2.5 Thực hiện tiêu thổ kháng chiến và tham gia xây dựng ATK Trung ương 2.2.5.1. Thực hiện tiêu thổ kháng chiến Cuối năm 1946, Tỉnh ủy Thái Nguyên thành lập “Ban phá hoại”. Đến đầu năm 1947, Ban phá hoại các huyện, xã cũng lần lượt ra đời và đi vào hoạt động. Đến giữa năm 1947, công tác phá hoại trên địa bàn tỉnh căn bản hoàn thành. Tuy nhiên, do nhận thức về tiêu thổ kháng chiến còn có hạn chế, nên tình trạng Uỷ ban Kháng chiến các cấp khoán trắng công tác tiêu thổ kháng chiến cho cán bộ chuyên trách nên kết quả tiêu thổ kháng chiến còn hạn chế, hiện tượng phá hoại tràn lan, phá hoại chỉ nghĩ đến mục đích quân sự trước mắt, không nghĩ đến mục đích kinh tế, xã hội lâu dài. 2.2.5.2. Tham gia xây dựng ATK Trung ương Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, biết chắc cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp là khó tránh khỏi, để chuẩn bị đối phó với tình huống này, với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy trước dã tâm của thực dân Pháp sẽ xâm lược Việt Nam một lần nữa, và khi ấy Việt Bắc sẽ là căn cứ địa của cuộc kháng chiến. Vì vậy, trước khi rời Tân Trào về Hà Nội, Người đã phân công ông Phạm Văn Đồng và một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa. Cuối tháng 10-1946, Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Tháng 11-1946, Trung ương Đảng quyết định thành lập đội công tác đặc biệt do ông Trần Đăng Ninh phụ trách lên Việt Bắc khảo sát, nghiên cứu, chọn địa điểm an toàn để các cơ quan Trung ương ở và làm việc. Sau một thời gian sát, nghiên cứu, cân nhắc kĩ lưỡng về mọi mặt, Đội công tác đặc biệt đã quyết định chọn địa điểm nằm sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, mà trung tâm là huyện Định Hóa (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) làm nơi xây dựng ATK của Trung ương. Ngay từ những ngày đầu, nhân dân các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương… đã đóng góp hàng ngàn ngày công, hàng vạn mét vải, hàng vạn tấn gỗ, củi, ủng hộ hàng chục vạn cây tre, gỗ, nứa, lá cọ… để xây dựng nơi ở và làm việc của các cơ quan đầu não kháng chiến, xây dựng các kho tàng, công xưởng phục vụ chiến đấu và sản xuất vũ khí. Từ giữa năm 1947, khi Định Hoá đã trở thành trung tâm An toàn khu kháng chiến của Trung ương, “Tất cả 24 xã của Định Hoá đều có cơ quan Trung ương, Chính phủ, Bộ Quốc phòng…”. Tiểu kết chương 2 Trải qua hai năm (từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1947), nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã phát huy được truyền thống đoàn kết nhất trí, vừa đấu tranh chống âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững chính quyền 9
  13. dân chủ nhân dân, vừa tích cực xây dựng lực lượng và củng cố hậu phương vững mạnh về mọi mặt để chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Những kết quả đạt được trong những năm đầu sau Cách Tháng Tám 1945 đã tạo thế và lực cho quân và dân tỉnh Thái Nguyên chủ động bước vào cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương. Chương 3 CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG VÀ XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG KHÁNG CHIẾN (10-1947 – 7-1954) 3.1. Thái Nguyên tham gia góp phần trong cuộc phản công Thu - Đông năm 1947 3.1.1. Chiến lược của thực dân Pháp trong cuộc tấn công lên Việt Bắc Theo kế hoạch của Pháp, địa bàn tấn công của Pháp trong Thu - Đông 1947 bao gồm các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn. Âm mưu của Pháp nhằm phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của Việt Minh, dùng thắng lợi quân sự để thành lập chính phủ bù nhìn trong toàn quốc, kết thúc chiến tranh, đặt lại ách thống trị của thực dân lên đất nước Việt Nam. Theo kế hoạch, thực dân Pháp huy động 12 000 quân và hầu hết máy bay ở Đông Dương mở cuộc tấn công lên Việt Bắc từ ngày 7-10-1947. 3.1.2. Công cuộc chuẩn bị chiến đấu của quân và dân tỉnh Thái Nguyên Tháng 11-1946, Tỉnh uỷ Thái Nguyên nhận được chỉ thị của Trung ương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc di chuyển các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Chính phủ lên ATK, tiếp nhận, che giấu và bảo vệ các cơ quan, kho tàng, xí nghiệp, bệnh viện, trường học từ Hà Nội và các tỉnh đồng bằng lên khu căn cứ. Tháng 11-1946 đến tháng 4-1947, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã huy động toàn bộ lực lượng tham gia vận chuyển 39.400 tấn máy móc, nguyên liệu của các cơ sở sản xuất vũ khí, hơn 400 tấn muối, hàng triệu mét vải, hàng ngàn bao tải bông, hàng nghìn kiện sợi từ miền xuôi lên. Đồng thời đặt toàn bộ hoạt động của địa phương vào tình trạng kháng chiến. Để đối phó với âm mưu của thực dân Pháp, Tỉnh ủy Thái Nguyên đã huy động sức người, sức của triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến, giúp bộ đội đào hầm, đắp ụ súng, dựng kè, xây dựng các tuyến công sự bố phòng trên sông Máng, sông Cầu và trên các đường giao thông chính. 3.1.3. Đánh bại cuộc hành quân Lê-a và Xanh-tuya (Ceinture) của thực dân Pháp Ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”. 10
  14. Sau gần một tháng rưỡi tung quân lên Việt Bắc, ngoài việc đốt phá được một số kho tàng của lực lượng kháng chiến chưa di chuyển kịp và chiếm đóng một vài nơi, quân Pháp đã không thực hiện được những mục tiêu cơ bản của cuộc tấn công. Sau khi cuộc hành quân Lê-a càn quét vùng Bắc và Tây bắc Việt Bắc không đạt được mục tiêu đề ra, Bộ chỉ huy Pháp buộc phải quyết định rút lui, kết hợp với việc sử dụng trung đoàn bộ binh Ma-rốc số 5 (5e đoàn do trung tá Cô-xtơ chỉ huy), cùng các lực lượng đã tham gia cuộc hành quân Lê-a càn quét khu tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương, trong một phạm vi rộng hơn 8000 km2. Kế hoạch này mang tên Xanh-tuya (Ceinture - vành đai) nhằm tiếp tục “lùng bắt kỳ được cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bằng được chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa”. Ngày 20-11, cuộc hành quân Xanh-tuya của Pháp bắt đầu. Qua gần một tháng trực tiếp đương đầu với cuộc hành quân Xanh-tuya của Pháp, quân và dân Thái Nguyên cùng với bộ đội chủ lực đánh 123 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 490 tên lính Pháp, làm bị thương hơn 100 tên khác. Riêng du kích Thái Nguyên đã độc lập chiến đấu 68 trận, tiêu diệt 96 tên Pháp và 3 tên Việt gian phản động, làm bị thương 34 tên khác; phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 21 trận, tiêu diệt 80 tên, bắn bị thương 17 tên, thu 2 súng máy, 51 quả đạn moóc chiê và nhiều đạn bộ binh, lựu đạn và mìn, góp phần quan trọng cùng với quân dân Việt Bắc đánh bại cuộc tấn công đầy tham vọng của Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc trong Thu - Đông năm 1947. Sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh ở Đông Dương từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh lâu dài”. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 chuyển cục diện của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược sang một giai đoạn mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. 3.2. Tham gia đánh bại cuộc hành quân Phoque của thực dân Pháp, góp phần vào chiến thắng Biên giới năm 1950 3.2.1. Âm mưu và kế hoạch của thực dân Pháp Sau thất bại ở Việt Bắc, Mĩ từng bước can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Được sự giúp đỡ của Mĩ, thông qua kế hoạch Rơve, thực dân Pháp đã xây dựng được tuyến phòng thủ đường số 4, thiết lập "Hành lang Đông - Tây" (Hải Phòng, Hà Nội, Hòa Bình, Sơn La), chuẩn bị tiến công lên Việt Bắc lần thứ hai giành thắng lợi để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khai thông đường sang Trung Quốc và thế giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Sáng 16-9-1950, quân ta nổ súng tấn công cụm cứ điểm Đông Khê. Ngày 18- 9, ta đã tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm Đông Khê, làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của Pháp trên Đường số 4. Mất Đông Khê, Thất Khê bị uy hiếp, Cao Bằng rơi 11
  15. vào thế cô lập, có nguy cơ bị tiêu diệt. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương quyết định rút quân khỏi Cao Bằng bằng kế hoạch “Hành quân kép”: Một mặt dùng binh đoàn cơ động “Bayard” đánh lên chiếm lại Đông Khê, đón cánh quân ở Cao Bằng rút về, mặt khác Pháp vét hầu hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ (5 tiểu đoàn) mở chiến dịch mang mật danh “Phoque” (Hải Cẩu) tấn công lên thị xã Thái Nguyên - cửa ngõ phía Nam căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, nhằm thu hút bộ đội chủ lực của ta từ biên giới Việt - Trung về để đỡ đòn cho đồng bọn. Ngày 29- 9-1950, quân Pháp huy động lực lượng gồm 4 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh, 1 đại đội dù, với khoảng 3000 quân, có máy bay và tàu chiến yểm trợ, tấn công đánh chiếm thị xã Thái Nguyên theo ba hướng. Hướng thứ nhất (hướng chính) từ Đa Phúc theo Quốc lộ 3 đánh lên Phổ Yên, Đồng Hỷ Thái Nguyên. Hướng thứ hai (có 3 ca nô và 10 tàu chiến) từ Đa Phúc theo sông Cầu lên bến đò Hà Châu (Phú Bình) rồi đánh lên thị xã Thái Nguyên. Hướng thứ ba, từ Phúc Yên theo sườn Tam Đảo, vượt đèo Nhe sang Hợp Thành, Phúc Thuận (Phổ Yên), qua Thịnh Đức, Thịnh Đán (Đồng Hỷ) tiến vào thị xã Thái Nguyên. Trước tình hình đó quân và dân Thái Nguyên đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu với thực dân Pháp. 3.2.2. Quân và dân Thái Nguyên tham gia đánh bại cuộc hành quân Phoque của thực dân Pháp Trong gần nửa tháng chiến đấu chống lại cuộc hành quân Phoque của Pháp, quân và dân tỉnh Thái Nguyên cùng với bộ đội chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh và Liên khu Việt Bắc đã đánh trên 60 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 872 tên lính Pháp, bắn rơi 1 máy bay, làm hư hỏng nặng 3 ca nô, thu 160 súng các loại. Quân và dân Thái Nguyên nói riêng và Việt Bắc nói chung đã đập tan âm mưu của thực dân Pháp, Hành lang Đông - Tây bị chọc thủng, thế bao vây của Pháp cả trong lẫn ngoài đối với căn cứ địa Việt Bắc bị phá vỡ, kế hoạch Rơve bị phá sản. Với chiến thắng Biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên tiếp tục đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. 3.3. Xây dựng hậu phương đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc 3.3.1. Xây dựng hậu phương về chính trị và quân sự Về xây dựng bộ máy chỉ đạo, Ủy ban Kháng chiến Hành chính các huyện được chấn chỉnh, tăng cường các ủy viên có năng lực, biết điều hành công tác. Hầu hết ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính các huyện đều là đảng viên, nội bộ đoàn kết tốt. 12
  16. Công tác xây dựng, củng cố các tổ chức Đảng, phát triển đội ngũ đảng viên được tiến hành trong toàn tỉnh. Quý I năm 1948, Đảng bộ tỉnh đã tiến hành rà xét, sàng lọc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, thi hành kỉ luật 119 đảng viên. Công tác phát triển đảng viên mới được chỉ đạo chặt chẽ, ba tháng đầu năm 1948, Đảng bộ đã kết nạp vào đảng 247 quần chúng ưu tú nâng số đảng viên của đảng bộ lên 2.836 đảng viên. Quý II năm 1948 đảng bộ kết nạp thêm 124 đảng viên mới. Toàn Đảng bộ tỉnh có 126 chi bộ. Trong năm 1949 Đảng bộ đã kết nạp được 1.480 quần chúng ưu tú vào Đảng và thành lập thêm 18 chi bộ Đảng mới. Năm 1950, thực hiện chỉ thị của Trung ương, Đảng bộ đã chuyển trọng tâm công tác xây dựng Đảng từ phát triển sang củng cố, liên tiếp phát động các cuộc vận động nhằm củng cố cơ sở và nâng cao chất lượng Đảng viên. Về xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang địa phương. Năm 1948, số lượng dân quân, du kích toàn tỉnh lên tới 20.012 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 4.514 du kích xã, 315 du kích tập trung huyện và tỉnh. Lực lượng dân quân, du kích toàn tỉnh được trang bị súng trường, súng kíp, súng máy, súng lục, lựu đạn, mìn. Trong hai tháng 10 và tháng 11 năm 1949, tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức xây dựng bộ đội địa phương với 897 cán bộ, chiến sĩ gồm các cơ quan tỉnh đội, huyện đội, 7 đại đội bộ địa phương của 7 huyện. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh hăng hái đóng góp, ủng hộ bộ đội địa phương. Năm 1949, Thái Nguyên đã có 9.400 thanh niên nam, nữ ghi tên làm nghĩa vụ quân sự. Nông dân đã vận động được 3/4 đoàn viên tham gia du kích, vận động được hơn 3.000 đoàn viên thường xuyên luyện tập quân sự. Năm 1950, lực lượng dân quân du kích Thái Nguyên phát triển lên tới 32.449 người. Năm 1951 tỉnh đội đã cử 1 tiểu đoàn và 1 đại đội địa phương quân phối hợp với đại đoàn 308 đánh Pháp ở Vĩnh Phúc, cử bộ đội địa phương và một số du kích xã về các vùng Kim Anh, Đa Phúc, Bắc Giang chiến đấu. Năm 1952, Thái Nguyên tiếp tục cử các đại đội bộ đội địa phương đi tham gia chiến đấu ở tỉnh Vĩnh Phúc. Qua phối hợp chiến đấu, bộ đội địa phương có thêm tinh thần và kinh nghiệm chiến đấu. Năm 1953, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục bổ sung cho bộ đội chủ lực 769 người, dân quân du kích các xã bổ sung cho bộ đội địa phương các huyện và tình là 1.003 người. Lực lượng dân quân, du kích tỉnh Thái Nguyên ngày càng phát triển, toàn tỉnh đã kết nạp thêm được 1257 dân quân du kích. Năm 1954, lực lượng vũ trang của tỉnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Trung tâm Căn cứ địa, bổ sung đầy đủ và kịp thời lực lượng cho các chiến trường, hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến và đẩy mạnh sự nghiệp kiến quốc. 3.3.2. Xây dựng hậu phương về kinh tế Kinh tế được xây dựng trên hai nguyên tắc: Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tự cung, tự cấp về mọi mặt, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm đảm bảo nhu cầu của địa phương và làm nghĩa vụ đối với sự nghiệp kháng chiến của cả nước. Năm 1948, nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã 13
  17. trồng cấy được 40.628 ha lúa các loại (mùa, chiêm) thu hoạch được 40.127 tấn thóc, 191 tấn ngô, 920 tấn sắn, 1493 tấn khoai, 307 tấn đỗ, 281 tấn vừng, lạc. Năm 1949, so với năm 1948, sản xuất lương thực của Thái Nguyên tăng 11.090 tấn thóc và 488 tấn hoa màu. Đến tháng 4-1950, tỉnh Thái Nguyên đã tạm cấp 9.929 mẫu ruộng trong 7 đồn điền thu được của Pháp và 1 đồn điền vắng chủ cho 12.695 nông dân nghèo không có ruộng. Ngày 5-10-1951, toàn tỉnh đã cơ bản lập xong sổ thuế nông nghiệp ở xã. Cuối năm 1951, toàn tỉnh thu được 12.000 tấn thóc thuế, kịp thời đáp ứng nhu cầu đảm bảo cho kháng chiến. Quý III năm 1951, các Ty Thuế quan, Thuế trực thu, Ty Địa chính, Ty Khai hoang giải thể, các chi sở Thuế, Kho thóc, Ty Tài chính ra đời. Chỉ tính riêng 3 tháng quý 3 năm 1951, ngành Mậu dịch đã bán ra thị trường 76.067 kg gạo, 105.819 mét vải, đưa giá gạo trên thị trường giảm từ 11,2 vạn đồng/tạ (tháng 7- 1951) xuống còn trên 8 vạn đồng/tạ (tháng 9-1951). Chi nhánh ngân hàng cho nhân dân vay 65.453.250 đồng mua trâu, bò cầy kéo, mua giống chăn nuôi, mua thóc giống và đầu tư sản xuất công nghệ (trong đó có 51.182.800 đồng. Là tỉnh nằm trong vùng tự do, lại là ATK trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, Thái Nguyên được Trung ương Đảng và Chính phủ chọn làm nơi thí điểm thực hiện chính sách ruông đất. Tháng 11-1952, Trung ương chọn hai xã Đồng Bẩm và Dân Chủ (huyện Đồng Hỷ) làm nơi thí điểm chính sách ruộng đất của Đảng và cử Đoàn cán bộ thực nghiệm chính sách ruộng đất xuống hai xã trực tiếp chỉ đạo phát động quần chúng nhân dân đấu tranh với giai cấp địa chủ. Giữa năm 1953, Trung ương Đảng chọn các xã Hùng Sơn (Đại Từ), Đức Liên, Nhã Lộng (Phú Bình), Đồng Bẩm, Dân Chủ, Phúc Xuân (Đồng Hỷ) thực hiện thí điểm giảm tô. Từ ngày 25-8 đến ngày 20-10-1953, Liên Khu ủy Việt Bắc trực tiếp chỉ đạo tỉnh Thái Nguyên tiến hành giảm tô ở 33 xã thuộc bốn huyện Phú Bình, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương. Cuối tháng 12-1953, Trung ương Đảng đã quyết định chọn 6 xã Hùng Sơn, An Mỹ (nay là Mỹ Yên), Bình Thuận, Trần Phú (nay là Khôi Kỳ), Tân Thái, Độc Lập (nay là Tiên Hội) làm thí điểm cải cách ruộng đất. Ngày 25-4-1954 khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp kết thúc thắng lợi, tỉnh Thái Nguyên bắt đầu tiến hành cải cách ruộng đất đợt I ở 47 xã thuộc các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên Cuộc vận động thực hiện giảm tô và sau đó là cuộc cải cách ruộng đất đợt I ở Thái Nguyên đã đánh đổ hoàn toàn thế lực kinh tế và chính trị của giai cấp địa chủ ở địa phương, nông dân thật sự làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn, làm cho nhân dân phấn khởi tích cực hăng hái sản xuất, đóng góp nhiều sức người sức của cho kháng chiến, động viên cổ vũ cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang ở ngoài mặt trận hăng hái tiến lên chiến đấu, giết giặc lập công. Tuy có những sai lầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng lớn đến tư tưởng người dân, ảnh hưởng đến sự phát triển của nông 14
  18. thôn, nhưng cải cách ruộng đất đã đánh dấu bước phát triển của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc thực hiện được mục tiêu "người cày có ruộng". 3.3.3. Xây dựng hậu phương về văn hóa - giáo dục - y tế Bình dân học vụ: Sau thu - đông 1947, Tỉnh Thái Nguyên đã khôi phục lại 295 lớp bình dân học vụ, Ty Bình dân học vụ đã đào tạo gần 100 giáo viên cho các huyện Đồng Hỷ, Phú Bình, Đại Từ, Định Hóa, tổ chức được 16 lớp sư phạm cho 808 giáo viên nam, nữ. Tính đến ngày 30-4-1948, Bình dân học vụ tỉnh Thái Nguyên có 1.176 giáo viên, đã mở được 1.295 lớp học thu hút 17.394 học viên theo học. Tháng 8-1950, tỉnh đã mở được một lớp đào tạo 25 thương binh làm giáo viên để thay thế cho giáo viên đi tòng quân. Tính cuối năm 1950, thoát nạn mù chữ, riêng tỉnh Thái Nguyên có 88 nghìn người. Sau năm 1950, phong trào xóa nạn mù chữ ở Thái Nguyên tiếp tục phát triển dưới sự chỉ đạo của các cơ quan giáo dục, vì vậy từ năm 1951 đến năm 1954 đã có rất nhiều người thoát nạn mù chữ. Giáo dục phổ thông: Cuối năm 1947, Ty Giáo dục đã cho khôi phục lại 101 trường cấp 1 (trong đó có 19 trường toàn cấp), thu hút 5776 học sinh (có 1693 nữ) vào tiếp tục học tập. Năm học 1949-1950, toàn tỉnh có 420 lớp học phổ thông, với 11.000 học sinh, 1.476 giáo viên bổ túc văn hóa. Đầu năm 1950, Chính phủ quyết định cải cách giáo dục phổ thông, thay hệ thống giáo dục cũ bằng hệ thống giáo dục mới 9 năm nhằm đáp ứng sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc đặt nền móng cho một nền giáo dục dân tộc, dân chủ. Từ năm học 1951 - 1952 Toàn tỉnh có 520 lớp, 301 giáo viên với 17.408 học sinh. Năm học 1953-1954, hệ giáo dục phổ thông và bổ túc văn hóa của tỉnh (chưa kể 157 lớp vỡ lòng, với 3.424 học sinh) đã đạt được nhiều thành tựu. Riêng hệ bổ túc văn hóa, toàn tỉnh đã mở được 1.255 lớp, với 29.808 học viên, trong số này có 6.519 học viên là cán bộ xã. Công tác y tế: Sau năm 1947 phát triển hơn trước nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân. Số lượng các cơ quan y tế và nhân viên y tế vẫn còn ít. Năm 1948, tỉnh Thái Nguyên có 1 bệnh viện, 1 nhà hộ sinh, 8 trạm pha thuốc, không có trạm cứu thương, có 1 y sĩ; 1 hộ sinh 1 và 2 nhân viên cứu thương. Năm 1949, Thái Nguyên có 1 bệnh viên, 7 phòng thuốc, 1 phòng thuốc dân quân, 5 phòng thuốc ở cơ quan, 3 nhà hộ sinh, 2 trạm hộ sinh. Nhiều nơi đã lập được những ban y tế lưu động khắp các thôn xóm. Ngành Y tế Thái Nguyên đã mở nhiều lớp đào tạo y tá, mở rộng việc huấn luyện cứu thương. Đến năm 1953, bình quân mỗi xã trong tỉnh có 3 cán bộ y tế, bao gồm y tá, nữ hộ sinh và vệ sinh viên. Công tác vệ sinh phòng bệnh, tuyên truyền lối sống ăn, ở sạch sẽ, giữ vệ sinh chung được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. 3.3.4. Hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm giao thông thời chiến Năm 1951, trung bình mỗi người trong độ tuổi dân công của tỉnh Thái Nguyên đã đóng góp 25 ngày công lao động trên các công trường sữa chữa giao 15
  19. thông. Thái Nguyên đã huy động được 4.792 dân công, với 81.427 ngày công để sửa chữa và mở rộng các tuyến đường giao thông trong tỉnh. Dân công Thái Nguyên luôn bám đường, bám cầu, bám phà, giữ vững mạch máu giao thông đảm bảo giao thông thông suốt ở những nơi xung yếu, sửa chữa kịp thời các tuyến đường bị đánh phá. Đến cuối năm 1953, tỉnh Thái Nguyên đã huy động khoảng 900.000 công làm và sửa chữa cầu, đường, 29.595 công thợ khai thác gỗ, xẻ gỗ làm cầu, đóng phà và 2168 tấn lương thực đảm bảo cho việc sửa chữa cầu, đường. Hết tháng 6 năm 1954 tỉnh đã huy động 3 đợt với 29.614 dân công làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông, vận tải (trong đó có 1439 dân công xe đạp thồ, 8360 dân công đi vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí ra mặt trận, 180 dân công làm nhiệm vụ cứu thương, tải thương ở chiến trường, số dân công công còn lại làm đường, sửa chữa cầu, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt trên tổng số chiều dài 178 km đường, 58 cầu (dài 518 mét), 8 bến phà. 3.4. Góp phần chi viện chiến trường Từ ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã ra sức sản xuất, hăng hái đóng góp nhân, tài, vật lực cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cuối năm 1949, nhân dân Thái Nguyên đã góp gạo kháng chiến hơn 10 tấn, cấp dưỡng địa phương quân 154 tấn thóc, 251.570 đồng, 116 áo trấn thủ và 352 bộ quần áo. Về nhân lực: Năm 1950, không kể một số lớn thanh niên do các đơn vị bộ đội lấy ngang, Thái Nguyên đã huy động 6.840 người, kể cả vào vệ quốc đoàn và địa phương quân, huy động 150.000 công đi sửa đường ở Việt Bắc, phục vụ chiến dịch, vận tải cho bộ đội, phục vụ các cơ quan 241.000 công, gánh và giao 672 tấn thóc với 53.760 công; xay 2.050 tấn thóc thành 1.232 tấn gạo với 41.000 công; gánh vào giao 1.232 tấn gạo với 616.000 công; phục vụ chiến dịch Trần Hưng Đạo kể cả làm đường là 490.381 công. Tổng cộng: 1.592.141 công, đó mới chỉ tính con số do tỉnh huy động có báo cáo, ngoài ra, ở các huyện, các xã, nhiều đơn vị lấy ngang dân công không tổng kết được. Trong chiến dịch Trần Hưng Đạo, thời gian lấy dân công dồn dập nhất trong hơn 2 tháng, có người đã đi tới 3 đợt, nghĩa là hơn 1 tháng, người đi ít nhất cũng hơn 10 ngày. Thợ chuyên môn huy động được 406 người: 178 thợ mộc, 55 thợ sẻ, 76 thợ rèn. 19 tài xế ô tô, 1 thợ máy, 3 thợ nguội, 27 công nhân thường, 74 thợ đá. Về vật và tài lực: Trưng dụng 117 máy khâu, 81 xe đạp, 20 thuyền và mua của dân 140 trâu, 254 bò và 899 lợn, vận động dân hiến 428 mẫu ruộng và 14.025 mẫu đồi và rừng. Góp tiền đỡ đầu bộ đội chính quy: 939.358 đồng, Quần áo cho bộ đội địa phương quân (tính thành tiền): 2.215 bộ quần (5.000 đồng/1 bộ) = 11.075.000; 648 chăn thu (2.500 đồng/1cái) = 1.620.000; 100 quần đùi, mai ô, khăn mặt (800 đồng/1 cái) = 80.000 đồng. Mua công phiếu kháng chiến 1.299.000 đồng. Các đoàn thể ủng hộ bộ đội, địa phương quân và thương binh (tiền mặt và tặng phẩm) là 21.027.773 đồng. Tổng cộng: 36.041.141đồng. 16
  20. Ngoài ra dân đã đóng các thứ thóc tiếp lương là 3.047 tấn, thóc địa phương quân 604 tấn. Tổng cộng là 3.651 tấn. Như vậy, trung bình năm 1950, mỗi người đến tuổi làm nhiệm vụ kháng chiến đã đi một tháng dân công, một nhân khẩu đã bớt lương ăn 18 ngày để đóng và bán, mỗi cử tri đã góp 372 đồng và công cuộc kháng chiến. Năm 1953,Thái Nguyên đã huy được 10.406 người với 854.927 ngày công phục vụ chiến dịch Tây Bắc; 29.415 người với 1.714.400 ngày công phục vụ cầu đường; 25.849 người với 560.044 ngày công phục vụ công tác hậu cần. Năm 1954, để phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Thái Nguyên đã huy động 2650 xe đạp thồ với 4.067 người; 18.437 người với 1.35.010 ngày công; 23.547 người với 966.953 ngày công. Chỉ tính riêng về mặt vật chất, nhân dân Thái Nguyên đã huy động đóng góp cho chiến dịch Điện Biên Phủ 671 tấn gạo, 28.572 kg thịt lợn, trâu, bò vượt 8285 kg so với chỉ tiêu được giao; 10 tấn đỗ, lạc. Tiểu kết chương 3 Như vậy, từ tháng 9-1947 đến tháng 7-1954, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương, góp phần cùng với quân dân cả nước đánh thắng hai cuộc tấn công lớn của thực dân Pháp lên căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, bảo vệ an toàn cho cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Hoàn thành xuất sắc vai trò ATK Trung ương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đoàn thể nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng hậu phương kháng chiến phát triển về mọi mặt, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội. Với hệ thống chính trị vững chắc cùng với sự phát triển của lực lượng vũ trang địa phương ngày càng lớn mạnh đã trở thành nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm giao thông thời chiến, chi viện đầy đủ và kịp thời cho các chiến trường. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Thái Nguyên đã được 40 Huân chương Chiến sĩ hạng Ba, 1 Huân chương Kháng chiến hạng Ba, 3 Cờ danh dự, hơn 400 Giấy khen [203, tr.53]. Với thành tích xuất sắc đó, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Thái Nguyên đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 4.1. Một số nhận xét 4.1.1. Đặc điểm của quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc của tỉnh Thái Nguyên. Một là, Thái Nguyên thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc trong điều kiện thuận lợi. 17

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản