intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường Đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc

Chia sẻ: Danghuyhoang Danghuyhoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

167
lượt xem
27
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường Đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc với mục đích đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Giảng viên trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường Đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc

  1. HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG --------------------------------------- Nguyễn Thị Thu Hằng NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH KHU VỰC PHÍA BẮC Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.01.02 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2013
  2. Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Trọng Tích (Ghi rõ học hàm, học vị) Phản biện 1: TS Nguyễn Văn Tấn Phản biện 2: TS Nguyễn Thị Hoàng Yến Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Vào lúc: 13h30 phút ngày 2 tháng 11 năm ..2013 Có thể tìm hiểu luận văn tại: - Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
  3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong hệ thống các trường Đại học nói chung, thì các trường Đại học thuộc khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh nói riêng thì sự hình thành, tồn tại và phát triển của nó không thể tách rời với vai trò chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng dạy. Có thể khẳng định rằng, chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường Đại học là yếu tố quyết định đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo của mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống các trường Đại học. So với yêu cầu ngày càng cao, càng đa dạng và phong phú của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, thì chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy vẫn đang có một khoảng cách đối với thực tiến hiện nay. Những vấn đề được đặt ra về chất lượng và số lượng đội ngũ vẫn là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo hiện nay. Do đó, làm sao để nâng cao chất lượng và phát triển về số lượng đội ngũ giảng dạy trong các trường Đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh là một vấn để có ý nghĩa cấp thiết, nhằm đáp ứng đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đồng thời cạnh tranh được với nền giáo dục của các quốc gia, dân tộc khác trong thời đại hội nhập và phát triển. 2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu: Từ góc độ chủ đề trực tiếp của đề tài luận văn cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào trực tiếp bàn đến một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn để tài này để nghiên cứu với tư cách là đề tài độc lập ở trình độ luận văn thạc sỹ nhằm đóng góp phần vào việc từng bước hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc ở Việt Nam hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1 Mục đích nghiên cứu Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Giảng viên trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc,
  4. 2 nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển 3.2 Nhiệm vụ khoa học của luận văn - Trước hết, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về số lượng, chất lượng đội ngũ Giảng viên giảng dạy trong các trường đại học hiện nay. - Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ Giảng viên giảng dạy trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh ở khu vực phí Bắc ở nước ta thời gian qua để thấy được những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ đó. - Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện việc nâng cao chất lượng đội ngũ Giảng viên giảng dạy trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng đội ngũ Giảng viên giảng dạy trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh . - Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chất lượng đội ngũ Giảng viên của các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc - Về thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được thu thập từ năm 2005-2012. 5. phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp kết hợp lịch sử với logic, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích thống kê, phương pháp mô hình, sơ đồ, bảng biểu so sánh định lượng trong quá trình nghiên cứu. 6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn - Trình bày có hệ thống vai trò, sự cần thiết và nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh trong điều kiện hiện nay ở nước ta.
  5. 3 - Đánh giá một cách khoa học thực trạng của đội ngũ giảng viên các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc nước ta hiện nay. - Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn nêu lên một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường kinh tế và quản trị kinh doanh ở nước ta. - Kết quả luận văn sẽ có thêm cơ sở khoa học cho các cơ quan chức năng trong việc hoạch định cơ chế, chính sách liên quan đến chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học nói chung, các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh nói riêng ở nước ta. CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.1 Giảng viên đại học và yêu cầu nâng cao chất lượng 1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực trong tổ chức Nguồn nhân lực (NNL) – hay còn được gọi là “ nguồn nhân lực con người” được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn nhân lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm “nguồn nhân lực” ( Humman resources) được sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, khi khoa học “ quản trị nguồn nhân lực”phát triển. Hiện nay khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, khái niệm “ nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra định nghĩa “nguồn nhân lực”, mặc dù có nhiều nghiên cứu và bài viết về nguồn nhân lực con người, về tài nguyên con người . Nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất. Với vai trò quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội. Trong các lý thuyết về “vốn” , về “tăng trưởng”, thì NNL đều được coi là yếu tố hàng đầu, đảm bảo cho sự phát triển sản xuất và dịch vụ. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm NNL dưới nhiều góc độ khác nhau.
  6. 4 * Về số lượng của nhân viên trong tổ chức: Thể hiện quy mô của tổ chức, số lượng nhân viên càng đông, quy môi tổ chức càng lớn và ngược lại số lượng ít, quy mô tổ chức nhỏ. * Về cơ cấu nhân viên trong tổ chức: Thể hiện tính đa dạng cơ cấu nhân viên trong tổ chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị của nhân viên. Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của NNL trong tổ chức. * Về chất lượng nhân viên trong tổ chức: Chất lượng nhân viên được hiểu là năng lực của họ trong công việc và cuộc sống. Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí sau: Trí lực, thể lực và đạo đức. - Trí lực: là tất cả những gì thuộc về trí tuệ, tinh thần, năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, giá trị và phẩm chất của nhân viên trong tổ chức. - Thể lực: là sức khỏe, là thể chất, là sức chịu đựng áp lực công việc, và cáh xử lý sự căng thẳng trong công việc của nhân viên. - Đạo đức: là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao hàm cả về quan niệm về nhân dân và về đất nước mình. * Về các mối quan hệ, tác động qua lại: Các mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm, tổ với nhau trong tổ chức tạo ra sức mạnh tổng hợp cho tổ chức cũng như cho bản thân họ. Nguồn nhân lực trong tổ chức có sự khác biệt về chất so với các nguồn lực khác mà suy cho cùng là do bản chất và những đặc trưng về tâm sinh lý, năng lực làm việc của con người quyết định. Vì vậy, quản lý NNL của tổ chức là một công tác phức tạp và rất quan trọng, trong đó vấn đề đào tạo và phát triển NNL là một hoạt động tất yếu vừa có ý nghĩa trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài.
  7. 5 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giảng viên - Khái niệm: Giảng viên là người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành) được hiệu trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm - Đặc điểm của giảng viên Giảng viên đại học là một nhà khoa học chân chính. Cho nên, phẩm chất trí tuệ là yêu cầu rất cao đối với người giảng viên. Từ chất sáng tạo đó biểu hiện trong năng lực hoạt động giảng dạy, trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong toàn bộ quá trình sáng tạo để hình thành nên toàn bộ nhân cách sáng tạo của một con người – sản phẩm cần thiết và tất yếu của quá trình dạy học. Bởi vậy, hơn bất cứ một nghề nghiệp nào khác, nghề giảng dạy đại học đòi hỏi mỗi giảng viên phải phát huy năng lực sáng tạo của mình một cách cao nhất. Một đặc điểm nữa là trong thời đại ngày nay, người giảng viên phải là một tấm gương sáng về đạo đức và tinh thần tự học, tự vươn lên để hoàn thiện mình. Mỗi giảng viên là một mẫu mực về ý trí học, về tinh thần nhân ái, nhân văn thương yêu con người, quý trọng con người. - Vai trò của giảng viên Giảng viên tham gia đào tạo nguồn lực con người, tạo ra lực lượng lao động mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực dáp ứng yêu cầu của xã hội. Nguồn nhân lực chất lượng cao chính là động lực phát triển của xã hội. Vai trò của giảng viên còn được thể hiện ở việc góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo ra lớp trí thức tài năng thông qua việc truyền đạt những kiến thức tiên tiến của văn minh nhân loại. Tất cả những trí thức ấy sẽ góp phần xây dựng đất nước, nâng cao nội lực của quốc gia tạo nên vị thế cao của đất nước trên trường quốc tế. Giảng viên có vai trò góp phần nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia thông qua hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai. Đảm nhận vai trò này, giảng viên đã, đang và sẽ góp phần nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia.
  8. 6 Giảng viên là những người có kiến thức và vốn hiểu biết rộng trong lĩnh vực chuyên môn. Lực lượng giảng viên ở tất cả các trường ĐH vì vậy đã trở thành đại diện tiêu biểu cho hầu hết các ngành khoa học hiện có của quốc gia. Giảng viên ĐH vừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học. Họ hội tụ đủ cả năng lực, phẩm chất của nhà giáo lẫn nhà khoa học. Họ vừa giảng dạy, vừa tham gia NCKH. Trí thức giáo dục đại học là một bộ phận đặc thù của trí thức Việt Nam. 1.1.3 Nhiệm vụ , quyền hạn của giảng viên đại học Nhiệm vụ chung: - Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục; - Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; - Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học; - Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học; - Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật; Nhiệm vụ riêng: - Giảng dạy được phần giáo trình hay giáo trình môn học được phân công. - Tham gia hướng dẫn và đánh giá, chấm luận văn, đề án tốt nghiệp ĐH hoặc CĐ. - Soạn bài giảng, biên soạn tài liệu tham khảo môn học được phân công đảm nhiệm. - Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, chủ yếu ở cấp khoa hoặc trường. - Thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn và nghiệp vụ theo quy chế các trường ĐH. - Tham gia quản lý đào tạo (nếu có yêu cầu): chủ nhiệm lớp, chỉ đạo thực tập. Quyền hạn của giảng viên đại học Theo Điều 73 Luật giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/ 06/2005 thì
  9. 7 nhà giáo có những quyền hạn sau đây: - Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo; - Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; - Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại trường, cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nơi mình nhận công tác; - Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; - Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật Lao động. 1.1.4 Chất lượng giảng viên đại học và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học. Một là: Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức. Hai là: Do yêu cầu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Ba là: Do yêu cầu đổi mới khoa học quản lý kinh tế quản trị kinh doanh. Bốn là: Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của bản thân các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Năm là: Do yêu cầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu về trình độ giáo dục đào tạo đại học, trong đó có giáo dục đào tạo trình độ đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh của nước ta so với khu vực và thế giới. 1. 2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên đại học 1.2.1 Nội dung đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy Quan điểm thật sự khoa học về phạm trù chất lượng đội ngũ CBGD, cũng như phạm trù chất lượng giáo dục- đào tạo hiện đang còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng có thể hiểu chung nhất : chất lượng đội ngũ CBGD là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh những tiêu chí về chuẩn mực của các phẩm chất về chính trị, chuyên môn, năng lực trên nhiều mặt của từng giảng viên và của toàn thể đội ngũ CBGD trong nhà trường. Trình độ giảng viên giữa các trường đại học có sự chênh lệch khá lớn. có
  10. 8 trường không có giảng viên có trình độ tiến sĩ. Ngay trong những trường đầu ngành của quốc gia, số giảng viên là tiến sĩ cũng chỉ chiếm từ 10-15% tổng số giảng viên. Vì vậy, để đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chúng ta cần tăng cường hơn nữa những vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ trong các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh. 1.2.2 Tiêu chí đánh giá Để có cơ sở đánh giá chất lượng giảng viên nói chung và đội ngũ giảng viên trong các trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh nước ta nói riêng, theo chúng tôi có thể xác định qua 5 nhóm tiêu chí: Thứ nhất: Kiến thức chuyên môn của giảng viên và sự nhiệt tình với môn học. Thứ hai: Kinh nghiệm giảng dạy, và kỹ năng sư phạm Thứ ba: Có kỹ năng sử dụng cá hình thức kiểm tra – đánh giá phù hợp. Thứ tư: Hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ở trong và ngoài lớp học Thứ năm: Tham gia các hoạt động chuyên môn với các đồng nghiệp trong và ngoài trường. 1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường kinh tế và quản trị kinh doanh. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh hiện nay chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau đây: Thứ nhất: Nhân tố trong nước - Trước hết đó là nhân tố vĩ mô gắn với luật pháp, chính sách và cơ chế của nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thành đề án đổi mới cơ chế tài chính, đề án học bổng và học phí của sinh viên; khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học thực hiện việc đào tạo theo nhu cầu xã hội, chất lượng cao, chi phí thấp, khuyến khích các trường đại học và cao đẳng liên kết với các doanh nghiệp trong đào tạo; xây dựng các trung tâm dự báo nguồn nhân lực và nhu cầu xã hội. Trong kế hoạch phát triển trường hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chủ trương xây dựng chi tiết kế hoạch tài chính, đa dạng hóa nguồn tài chính, khai
  11. 9 thác triệt để các nguồn nhân lực từ hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, hợp tác quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực con người. Đó là những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Thứ hai: Nhân tố quốc tế - Trước hết, đó là xu thế hội nhập về giáo dục của các nước trong khu vực Asean. Đây là điều kiện tốt nhất để chúng ta học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, gửi cán bộ giảng viên đi đào tạo ở nước ngoài, nâng cao trình độ khoa học. - Mối quan hệ trong các lĩnh vực liên quan đến giáo dục và đào tạo trong cộng đồng quốc tế dưới hình thức song phương hoặc đa phương. Nó là cơ sở để chúng ta nâng cao hơn nữa khả năng hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong quan hệ hợp tác về nghiên cứu khoa học, trong đào tạo sau đại học, trong đào tạo tiến sĩ có trình độ đạt chuẩn quốc tế, tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào quá trình phát triển giáo dục đào tạo mang tính khu vực và toàn cầu, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa hiện nay. 1.3 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học * Tổng quan kinh nghiệm một số nước như Úc, Nhật Bản, Trung Quốc… Để thích nghi với xu thế hình thành nền kinh tế tri thức cho đến nay, nhiều nước trên thế giới nhưn Trung Quốc, ÚC, Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu…. Rất chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trên một số mặt chủ yếu sau đây: Thứ nhất, tăng cường đầu tư cho giáo dục, xúc tiến cải cách hiện đại hóa giáo dục nhằm đào tạo cho toàn xã hội và cho nền kinh tế một lực lượng lao động có trình độ trí tuệ cao, có kỹ năng và tay nghề giỏi; tạo điều kiện để mọi người được học tập và đào tạo thường xuyên, suốt đời. Theo xu thế này, nhiều nước đã chi vào ngân sách hàng năm vượt quá 5% GNP của quốc gia. Ở Nhật Bản, vấn đề đầu tư cho giáo dục và đào tạo được nhà nước đặc biệt ưu tiên. Trong toàn bộ chi tiêu ngân sách, tỷ trọng chi cho giáo dục và văn hóa luôn giữ
  12. 10 vững ở mức khá cao đạt 12.3% . Trong khi đó, tỷ trọng chi cho quốc phòng và các cơ quan Chính phủ lại giảm liên tục. Qua đó thấy rằng, Nhật Bản rất coi trọng giáo dục vì cho rằng con người là yếu tố quyết định của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế và giáo dục . Giáo dục là công cụ có hiệu quả để dạy cho công chúng các quy tắc xã hội , làm cho thấm nhuần tinh thần dân tộc, phát triển khả năng tri thức và chuyên môn của họ. Chính phủ đã đảm nhiệm giáo dục miễn phí và bắt buộc đối với tất cả mọi người và tham gia sâu và quá trình giáo dục bậc cao. Các trường học được mở trên khắp đất nước. Bộ giáo dục và đào tạo Nhật đã theo dõi chặt chẽ điều kiện giáo dục và kết quả học tập của các trường tại các địa phương khác nhau để có các biện pháp hỗ trợ cần thiết. Sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường với gia đình cũng được phát huy với nhiều hình thức đa dạng. Ở Trung Quốc, để phát triển kinh tế tri thức thì cần phải đề cao vai trò đội ngũ tri thức làm việc trong lĩnh vực kinh tế và trong các trường đại học. Họ đã áp dụng chính sách tuyển chọn nhân tài vào các lĩnh vực kinh tế và công nghệ như sau: - Phải có trình độ về toán học cao cấp. - Có thực tiễn trong một lĩnh vực nghiên cứu. - Có tri thức cơ bản về máy tính. - Nắm được phương pháp quản lý hiện đại. - Có trình độ Tiếng Anh. - Có tri thức về khoa khọc xã hội và nhân văn. * Những bài học kinh nghiệm chung đối với Việt Nam Một là: trước hết, đó là bài học về tuyển dụng nhân tài. Hai là: Bài học về bồi dưỡng nâng cao trình độ giảng viên, gắn với yêu cầu ngày càng cao của bản thân họ. Ba là:Bài học về chính sách đãi ngộ nhân tài. Bốn là: bài học về việc gắn lý thuyết với thực hành. Năm là: bài học về nâng cáo chất lượng của cán bộ quản lý
  13. 11 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH KHU VỰC PHÍA BẮC NƯỚC TA 2.1 Đặc điểm các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc ở nước ta 2.1.1 Quá trình phát triển Sự nghiệp phát triển Giáo dục đại học của Việt Nam gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước và do vậy có phân chia thành 2 giai đoạn chủ yếu: * Trước thời gian 30/4/1975 Thời gian trước năm 1975, khi hai miền chưa thống nhất, nhiệm vụ chính trị chủ yếu của toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, nhằm thực hiện nhiệm vụ chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quy mô đào tạo tăng lên không ngừng của các trường kinh tế và quản trị kinh doanh đã khiến cho quy mô đào tạo của toàn hệ thống tăng gấp nhiều lần. Chẳng hạn, tại Trường Đại học KTQD, trước thời kỳ chuyển đổi, quy mô đào tạo khoảng 4.000- 5.000 sinh viên, những năm gàn đây tăng lên 25.000 – 30.000 sinh viên, tức là tăng tới 6-7 lần. Xu hướng đào tạo sau đại học trình độ tiến sỹ, thạc sỹ đang tăng lên rất nhanh trong những năm gần đây. Ví dụ trường đại học KTQD những năm 1980-1989 tuyển vào 144 nghiên cứu, thì trong giai đoạn 1990-1999 tuyển thêm vào 560 nghiên cứu sinh và 1016 học viên cao học, hiện nay quy mô này còn lớn hơn. 2.1.2 . Đặc điểm đội ngũ giảng viên các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh. Xét về phẩm chất đạo đức, chính trị, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nước ta đại đa số là con em công, nông, binh, có tinh thần yêu nước, có truyền thống tốt đẹp của quê hương và gia đình, tuyệt đối tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng và dân tộc, mong muốn học hỏi để vươn lên ngày càng cao , nắm bắt tri thức khoa học hiện đại,
  14. 12 phụng sự cho Tổ quốc và cho nhân dân. Mặt khác, về năng lực, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của ta có đặc điểm là thích nghi nhanh với cái mới, có khả năng và tinh thần tiếp thu tri thức và khoa học công nghệ hiện đại, có nhiều khả năng sáng tạo, để từ đó có nhiều đóng góp cho đất nước. Chính đội ngũ cán bộ trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh, đã đóng góp hết sức có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế xã hội trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. 2.1.3 Đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ chính trị xã hội của nhà trường - Về chức năng nhiệm vụ của trường: vai trò của các trường đại học trong sự phát triển kinh tế xã hội và vô cùng to lớn. Đặc biệt, vai trò của các trường trong khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Nhà trường, thông qua năng lực đào tạo đội ngũ cán bộ khối kinh tế và quản trị kinh doanh , là việc chuẩn bị cho tiềm năng và tiền đề phát triển, hội nhập kinh tế trong cả nước và trên thế giới. Dù trên bình diện nào thì đội ngũ trí thức trong các trường đại học và cao đẳng mà trước hết là đội ngũ cán bộ giảng viên trong khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh đóng vai trò then chốt cho sự hội nhập và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước hiện nay. Đồng thời đội ngũ trí thức trong các trường đại học là nhân tố quyết định để giáo dục đào tạo nguồn lực con người trong thời đại mới, thời đại kinh tế tri thức. 2.2 Tình hình chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh 2.2.1 Tiêu chí đánh giá chung * Nhiệm vụ đào tạo chuyên môn: - Thứ nhất: quy mô đào tạo của các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh ngày càng tăng cả hình thức đào tạo chính quy và không chính quy. Một số trường có quy mô đào tạo rất lớn như đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, đại học Ngoại thương Hà Nội, Đại học Thương mại. - Thứ hai: Cùng mở rộng quy mô về số lượng, chất lượng đào tạo ngày càng tăng lên. Điều đó phản ánh trình độ của đội ngũ cán bộ giảng viên trong các trường
  15. 13 Đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ngày càng được nâng cao. - Thứ ba: Năng lực đào tạo của đội ngũ cán bộ giảng viên trong các trường Đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ngày càng ở trình độ cao như đào tạo tiến sỹ và thạc sỹ với số lượng ngày càng lớn. Có thể nhận thấy, đó là quá trình phát triển vượt bậc về chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, đào tạo cán bộ đầu đàn cho sự phát triển của giáo dục và khoa học cho bản thân các trường đại học cũng như yêu cầu của xã hội. - Thứ tư: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới. Ngày nay vấn đề phát triển số lượng, chất lượng và các lĩnh vực đào tạo phản ánh yêu cầu bức thiết của xã hội ngày nay: đó là một xã hội đa dạng hóa các quan hệ về kinh tế xã hội, một xã hội năng động và sáng tạo, phát triển theo chiều sâu và xu hướng chính là nền kinh tế tri thức, hội nhập và hợp tác để cùng phát triển. Đó không chỉ là nhu cầu tự thân của các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau trong đời sống xã hội, mà còn phản ánh yêu cầu khách quan của sự phát triển khoa học và giáo dục đào tạo. Đồng thời, trong mối quan hệ thống nhất của lý luận và thực tiễn, sự gắn bó giữa đào tạo của các trường đại học với thực tiễn xã hội ngày càng tăng lên. * Công tác đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBGV trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh có những mặt thành công và cũng còn nhiều mặt hạn chế. Trước hết, xin nêu những mặt thành công: - Các trường luôn tạo điều kiện để đội ngũ CBGV được đi đào tạo sau đại học, lấy bằng thạc sỹ hoặc tiến sỹ ở trong nước và nươc ngoài. Từ nhiều năm nay, tại nhiều trường Đại học khối Kinh tế và quản trị kinh doanh, hầu như mọi nguyện vọng được đi đào tạo sau đại học của các CBGV đều được đáp ứng. Số lượng các BCGV được cử đi đào tạo tiến sỹ và thạc sỹ ở trong và ngoài nước ngày càng đông. - Các trường luôn tạo điều kiện để đội ngũ CBGV được tham gia các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng kiến thức theo chuyên đề trong khuôn khổ của các dự án liên kết với nước ngoài, các dự án do nước ngoài tài trợ hoặc do các trường tổ chức.
  16. 14 Thứ hai: Sự phân bổ đội ngũ giảng viên có trình độ cao tập chung ở một số trường lớn, chưa có sự phát triển đồng đều trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Một số trường chưa có chức danh giáo sư đồng thời số có chức danh phó giáo sư và học vị tiến sĩ đang còn rất hạn chế. Trình độ giảng viên của các trường có học vị thạc sỹ và cử nhân đang còn cao. Chính vì vậy, yêu cầu nâng cao hơn nữa tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư và tiến sỹ trong đội ngũ cán bộ giảng viên các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh là rất cần thiết. - Thứ ba: nhìn chung do hoàn cảnh điều kiện lịch sử để lại nên số cán bộ đầu đàn của các trường có đội tuổi còn cao. Nhìn chung tuổi trung bình của tiến sỹ là 53,1 tuổi và tiến sỹ khoa học là 57,1 tuổi . Độ tuổi trung bình của giáo sư và phó giáo sư còn cao hơn. Chính vì vậy yêu cầu trẻ hóa đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng công cuộc xây dựng và phát triển của các trường đại học cũng đang đặt ra một cách cấp thiết. * Những mặt hạn chế của công tác bồi dưỡng năng lực nghiên cứu cho đội ngũ CBGD của các trường được thể hiển trên một số điểm sau đây: - Số lượng chương trình, chuyên đề bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ CBGD còn ít và không được tổ chức một cách thường xuyên. - Số lượng CBGD được tham gia các chương trình, các hoạt động bồi dưỡng về năng lực nghiên cứu còn rất hạn chế. - Công tác bồi dưỡng năng lực nghiên cứu chủ yếu vẫn mang tính chất tự thân mà chưa mang tính tổ chức, tính bắt buộc hoặc được sắp xếp theo quy định hoạch và kế hoạch của các trường. - Nhiều chương trình bồi dưỡng, chuyên đề bồi dưỡng năng lực nghiên cứu vẫn chưa được cải tiến và tổ chức một cách khoa học 2.2.2 Tiêu chí đánh giá cụ thể trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ giảng dạy Thực tế trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ giảng dạy các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh được đánh giá cụ thể ở các mặt sau đây: - Về kiến thức kinh tế thị trường. - Về trình độ lý luận khoa học:
  17. 15 - Về phương pháp giảng dạy: - Trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức: - Về khả năng hướng dẫn sinh viên trong nghiên cứu khoa học. 2.2.3 Thực trạng năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ giảng viên các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Dựa vào hai căn cứ chủ yếu là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và những kết quả nghiên cứu đã thực hiện; chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây về năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ giảng viên của các trường Đại học khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh như sau: Trước hết, xin đề cập đến những mặt mạnh: Thứ nhất - Đội ngũ CBGD của các trường có một khả năng nghiên cứu tiềm tàng. Thứ hai - Đội ngũ CBGD của các trường đã hoàn thành một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu. Thứ ba- Đội ngũ CBGD của các trường đac hoàn thành các công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, thuộc nhiều loại hình nghiên cứu khác nhau. Thứ tư – Đội ngũ CBGD của các trường đã hoàn thành những công trình có chất lượng cao. Bên cạnh đó, cũng phải kể đến một số yếu kém sau: Một là – Năng lực nghiên cứu trên thực tế của đội ngũ CBGD của nhiều trường chưa tương xứng với tiềm năng của họ Hai là – Không ít CBGD ở nhiều trường còn thiếu những kỹ năng, phương pháp nghiên cứu cơ bản, hiện đại để đảm bảo việc nghiên cứu mang tính chuyên nghiệp và đạt hiệu quả. Ba là – Đội ngũ CBGD ở nhiều trường còn thiếu kinh nghiệm, thiếu khả năng hoàn thành các công trình nghiên cứu mang tính quốc tế và có chất lượng cao. 2.3 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ giảng viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ở Việt Nam trong thời gian qua 2.3.1 Ưu điểm - Thứ nhất, các trường Đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh có số
  18. 16 lượng đội ngũ giảng dạy đông đảo, hùng hậu của đội ngũ trên, có khả năng đáp ứng với yêu cầu đào tạo ngày càng tăng của xã hội. - Thứ hai, về chất lượng cán bộ giảng dạy Đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh có trình độ chuyên môn đồng đều, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Một số các cán bộ giảng dạy có trình độ cao được đào tạo từ nươc ngoài tron đó cáo các nươc tư bản như Nga, Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Canada…. Trong lực lượng cán bộ giảng dạy, số có trình độ học hàm, học vị cao chiếm một tỷ trọng đáng kể, làm động lực cho sự phát triển của lĩnh vực đào tạo chuyên sâu. Một số trường có đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong cả nước như: trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, hay trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. - Thứ ba, đội ngũ cán bộ giảng dạy rất tâm huyết với nghề nghiệp, có hoài bão ước mơ và lý tưởng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Lòng nhiệt tình yêu nghề và say mê với nghề nghiệp, cống hiến tài năng và sức lực cho chiến lược trồng người của Đảng và dân tộc ta là một nét nổi bật của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh . - Thứ tư, trong môi trường đổi mới và phát triển hiện nay, đội ngũ giảng viên khối kinh tế và quản trị kinh doanh có điều kiện tham gia ngày một hiệu quả hơn vào hoạt động thực tiễn, tham gia vào các chương trình xã hội, để gắn nhà trường với xã hội. Trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học thống nhất giữa nhà trường và xã hội, các cán bộ giảng viên sẽ có điều kiện tốt để phát huy năng lực lý luận và năng lực thực tiễn, từ đó hoàn thiện nhân cách của ngời giảng viên một cách tích cực và tự giác. 2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân Trước hết, tỷ lệ giáo viên cơ hữu so với số lượng sinh viên rất thấp. Do quy mô đào tạo tăng nhanh, trong khi biên chế đội ngũ giảng viên tăng chậm, làm cho tỷ lệ giảng viên so với sinh viên ngày càng giảm ở tất cả các trường đại học, nhất là các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh. Tỷ lệ này đang ở mức báo động và hết sức gay gắt. Tính chung cả 5 trường kinh tế khu vực phía Bắc thì phổ biến tỷ lệ một giáo viên có tới gần 100 sinh viên, gấp 3 lần so với cấp tiểu học và gấp nhiều lần so với tỷ lệ này ở các đại học khác trong khu vực và trên thế giới.
  19. 17 Thứ hai, do tình trạng thiếu giáo viên dẫn đến hệ số giờ đứng lớp của giáo viên ở các trường đại học kinh tế hiện nay là khá cao. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên. Hiện nay, hệ số tải giảng (đứng lớp) của một số giáo viên trong 1 tuần lên đến 50 tiết, một số trường hệ số này còn cao hơn, đặc biệt đối với những giảng viên cùng một lúc kiêm giảng cho nhiều trường đại học. Hệ số tải giảng cao, không những ảnh hưởng tới sức khỏe của giáo viên, mà còn làm cho giáo viên không có thời gian tự nghiên cứu, đi khảo sát thực tế, bồi dưỡng thêm về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, tiếp thu kiến thức mới. Thứ ba, đội ngũ cán bộ giảng viên khối kinh tế và quản trị kinh doanh còn hạn chế về năng lực sáng tạo, chưa thật sự có những ý tưởng mới, những giải pháp hữu ích, có hiệu quả cao để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội . Đây cũng là hạn chế chung của đội ngũ cán bộ giảng dạy ở nhiều ngành và nhiều trường khác nhau. Số công trình nghiên cứu khoa học được đang tải từ các tạp chí có uy tín trong và ngoài nước còn hạn chế. Thứ tư, mặc dù đã có những bước tiến nhanh trong vấn đề xây dựng đội ngũ, nhưng so với yêu cầu và nhiệm vụ của bản thân các trường đại học và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội thì chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy của chúng ta vẫn còn thấp so với yêu cầu. Đội ngũ trí thức chưa hoàn toàn thực sự là động lực thúc đẩy sự phát triển khoa học và phát triển kinh tế xã hội. Thứ năm, chất lượng đội ngũ không đồng đều trong các cơ sở đào tạo. Có trường đại học lực lượng rất hùng hậu, nhiều cán bộ giảng dạy đầu ngành quy mô và chất lượng đào tạo tốt. Tuy nhiên, có trường còn thiếu và yếu về đội ngũ cán bộ, chất lượng đào tạo cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Thứ sáu, tính quá trình trong đào tạo đội ngũ chưa liên tục và thông nhất. Thực tế đã cho thấy rằng, đội ngũ cán bộ giảng dạy có hàm học, học vị thì hầu hết đã cao, khả năng cống hiến cho khoa học và giáo dục đào tạo không còn lâu dài. Trong khi đó, đội ngũ giảng viên trẻ tuổi chưa thật sự đủ điều kiện để thay thế các bậc đàn anh đi trước. Do đó, hụt hẫng về chất lượng và số lượng đội ngũ tất yếu sẽ trở thành hiện thực
  20. 18 Nguyên nhân: Một là- Do trong một thời gian khá dài, vấn đề chiến lược nói chung, đặc biệt là chiến lược đào tạo giáo dục nguồn lực con người, chúng ta chưa chú ý coi trọng để đào tạo đội ngũ xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ kinh tế xã hội. Sự quan tâm chưa đúng mức này đã dẫn tới sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng viên trong khối các trường đại học kinh tế và quản trin kinh doanh. Hai là- Mặt khác, do chúng ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi mô hình kinh tế đó đã làm cho thực tiễn xã hội thay đổi nhanh chóng mà nhiều yếu tố khác không phát triển tương xứng, không theo kịp, trong đó có vấn đề đào tạo giáo dục con người, giáo dục đào tạo nói chung đã chưa đáp ứng được thì tất yếu trong lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng cán bộ giảng dạy đại học khối ngành kinh tế vầ quản trị kinh doanh cũng không thể đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đã đặt ra. Trong giai đoạn hiện nay, sự đòi hỏi của thực tiễn càng gay gắt, vì vậy chúng ta cần có chiến lược vừa lâu dài , vừa cấp bách để giải quyết tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng dạy. Ba là – Do điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn vì vậy chúng ta chưa đầu tư tương xứng cho vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ một cách căn bản có kế hoạch. Vấn đề xây sựng và phát triển đội ngũ còn tự phát, lựa chọn cán bộ giảng dạy từ những trí thức đã có chứ không phải chủ động đào tạo, phát triển đội ngũ có định hướng và kế hoạch cụ thể từ ban đầu. Do đó, chúng ta chưa thật sự tập trung toàn bộ nguồn nhân lực, vật lực cho sự phát triển để đào tạo và lựa chọn nhân tài. Vì không có kinh phí nên không có điều kiện đào tạo ở nước ngoài và cũng không thể nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ theo ý muốn, dẫn tới thiếu hụt lực lượng giảng viên trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Bốn là – Về mặt chủ quan: công tác bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy chưa có chiến lược lâu dài và thỏa đáng để tương xứng với vị trí nguồn lực nhân tài trong xã hội. Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ còn mang tính siêu hình, thiếu ở đâu thì giải quyết ở đó, không tuân thủ quan điểm hệ thống, quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển trong giáo dục và đào tạo.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2