intTypePromotion=1

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại Uỷ ban nhân dân xã, phường thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

Chia sẻ: Ocxaodua999 Ocxaodua999 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
3
lượt xem
0
download

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại Uỷ ban nhân dân xã, phường thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu nhằm phân tích và đánh giá quá trình hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại Uỷ ban nhân dân xã, phường thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ .............../.................. ........./......... HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN ĐOÀN KHÁNH LY HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 8 34 04 03 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Hà Nội – 2019
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: TS. TRỊNH THANH HÀ Phản biện 1:TS. Nguyễn Thị Hà Phản biện 2: PGS.TS. Văn Tất Thu Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Số 77, Đường Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Thời gian: Vào hồi........giờ........tháng.......năm 2019 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên WEB Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính quốc gia.
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đã kéo theo những chuyển biến nhất định trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu cần phải có một nền hành chính hiện đại, đủ sức đảm nhiệm công tác quản lý trong điều kiện mới của đất nước. Trước yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tiến hành cải cách hành chính và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách. Việc cải cách theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai mạnh trong quá trình thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, các địa phương trong cả nước đã tích cực triển khai và đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Vì vậy hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại các chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói chung và trên địa bàn thành phố Tuyên Quang nói riêng luôn được các cấp Đảng ủy, chính quyền quan tâm. Trong thời gian vừa qua, hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang đã phát huy được vị trí của mình, người dân, tổ chức ngày càng hài lòng với việc giao dịch và nhận kết quả của mình vì họ không cần phải di chuyển đến nhiều vị trí như trước, các thủ tục đều được công khai, minh bạch, người dân, tổ chức đến giao dịch được lấy ý kiến đánh giá về mức độ hài lòng của mình đối với người thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của bộ phận này vẫn còn nhiều hạn chế. Việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả cho tổ chức, công dân vẫn theo lề lối làm việc như trước đây mà không được triển khai theo đúng nội quy, quy định của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Nhiều trường hợp người dân khi giải quyết thủ tục hành chính thường đến không đúng nơi, gặp không đúng người. Bên cạnh đó, nhận thức của đội ngũ cán bộ làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cũng còn nhiều hạn chế. Trong quá trình giải quyết công việc, nhiều cán bộ vẫn còn có thái độ quan liêu, hách dịch, gây nhũng nhiễu đối với nhân dân. Trong khi đó, cấp ủy, chính quyền hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị vẫn không kịp thời chấn chỉnh, không tiến hành kiểm tra, giám sát và đưa ra ý kiến chỉ đạo, khắc phục. Ngoài những hạn chế chủ quan thì hiện nay, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang cũng gặp nhiều khó khăn khách quan. Cụ thể là những khó khăn về cơ sở vật chất, sự non kém về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách. Phần lớn, các Ủy ban nhân dân các xã phường hiện đang quản lý hành chính và điều hành hoạt động theo cách thủ công, nên hiệu quả giải quyết công việc, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân chưa cao, nên hiệu quả hoạt động còn chưa được như mong muốn của người dân cũng như của Đảng ủy, chính quyền cấp trên. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “ Hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND xã, phường thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản lý công của mình. Hy vọng đề tài này sẽ góp sức vào một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cấp bách không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với việc phát huy được hiệu quả hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận 1
  4. và trả kết quả tại UBND các xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang đối với sự phát triển của thành phố nói riêng và của tỉnh Tuyên Quang nói chung. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông và các nội dung có liên quan đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà lý luận, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Nguyễn Ngọc Hiến (2001), Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đoàn Trọng Truyến (2006), Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp. Đào Trí Úc (2007), Đánh giá kết quả của cải cách hành chính và các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước ta, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. Nguyễn Thị Thu Hà, Một số giải pháp thực hiện cơ chế một cửa tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, Tạp chí quản lý nhà nước số 252(1/2017). Ngoài ra còn có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ quản lý công và những bài báo khoa học đã nghiên cứu đề tài này: Đề tài luận văn Thạc sĩ: “ Xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội” (2013) của tác giả Nguyễn Tiến Việt, Học viện Hành chính Quốc gia. Đề tài luận văn Thạc sĩ: “ Mô hình một cửa trong thực hiện thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp huyện tỉnh Hưng Yên” (2013) của tác giả Đỗ Mạnh Cường, Học viện Hành chính Quốc gia. Đề tài luận văn Thạc sĩ: “Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại UBND quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng” (2014) của tác giả Trần Ngọc Quả, Học viện Hành chính Quốc gia. Đề tài luận văn Thạc sĩ: “ Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở cấp xã trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” (2017) của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo, Học viện Hành chính Quốc gia. “Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương – Thực trạng và một số đề xuất, kiến nghị” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngân, Cổng thông tin điện tử thutuchanhchinh.vn, ngày 18/12/2014. “Hoàn thiện quy định về cơ chế một cửa, một cửa liên thông” của tác giả Nguyễn Tuyết Minh, Cổng thông tin điện tử thutuchanhchinh.vn, ngày 25/9/2017. “Thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Nguyễn Đông, Tạp chí cộng sản online www.tapchicongsan.org.vn ngày 25/12/2018. Các công trình nêu trên nhìn chung đã đề cập đi vào nghiên cứu đến vấn đề một cửa, một cửa liên thông ở các khía cạnh nhất định trong phạm vi nghiên cứu của quốc gia, đơn vị, địa phương. Điều đó đã đem lại nguồn tài liệu lý luận quý báu về cơ sở lý luận, kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tuy nhiên mỗi địa phương với những đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế xã hội khác nhau sẽ có những định hướng, yêu cầu phát triển khác nhau đối với hoạt động này theo từng giai đoạn phát triển. Hơn nữa cho tới thời điểm hiện tại, chưa có một công trình hay luận văn nào nghiên cứu về hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã nói chung và tại thành phố Tuyên Quang nói riêng. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: Mục đích của luận văn là đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung trong tình hình mới. 2
  5. - Nhiệm vụ: + Những vấn đề chung về cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông, Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã. + Phân tích và đánh giá quá trình hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. + Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu: hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của UBND các xã, phường - Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Tuyên Quang - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2018. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chính sách, pháp luật của Nhà nươc Việt Nam về cơ chế một cửa, một cửa liên thông và một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: 5.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích, tổng hợp Phương pháp so sánh Phương pháp lịch sử Phương pháp thống kê xã hội học 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Chỉ ra những ưu điểm, thành tựu cũng như bất cập, hạn chế trong quá trình hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại các UBND xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Đề xuất những giải pháp có tính khả thi trong vận dụng vào việc hoàn thiện hoạt động của bộ phận này, góp phần thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố Tuyên Quang nói riêng, và tỉnh Tuyên Quang nói chung. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở khoa học về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả. Chương 2: Thực trạng hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. 3
  6. Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ 1.1. Một số vấn đề lý luận về thủ tục hành chính 1.1.1. Khái niệm thủ tục hành chính Có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục hành chính nhưng tựu chung lại có thể hiểu một cách chung nhất theo Giáo trình Thủ tục hành chính của Học viện hành chính quốc gia: “thủ tục hành chính là trình tự, cách thức giái quyết công vệc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong nối quan hộ nội bộ cùa hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cá nhân công dân. Nó giữ vai trò dám báo cho công việc đạt được mục đích dã định, phù hợp với thấm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc cùa các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quán lý nhà nước”. 1.1.2. Đặc điểm của thủ tục hành chính Thứ nhất, thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục - là cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình. Thứ hai, thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Thứ ba, thụ tục hành chính rất đa dạng và phức tạp. Thứ tư, thủ tục hành chính có tính năng động hơn so với các quy phạm nội dung của luật hành chính, đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng và phù hợp với nhu cầu thực tế của đời sống xã hội. Có thể thấy rằng thủ tục hành chính là một thành phần quan trọng cấu thành của nền hành chính, là loại thủ tục có những đặc điểm riêng, là một hiện tượng pháp lý có tính chất đôc lập tương đối. 1.1.3. Phân loại thủ tục hành chính Dưới đây là một số đặc trưng thông dụng có thể giúp cho việc phân loại các thủ tục hành chính khi nghiên cứu chúng trong thực tế. Theo đối tượng quản lý của Nhà nước Theo công việc của cơ quan Nhà nước Theo chức năng chuyên môn Theo quan hệ công tác Với đối tượng nghiên cứu của là hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu vào thủ tục thực hiện thẩm quyền để làm rõ công việc của cán bộ công chức, cũng như mối quan hệ công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, cá nhân. 1.1.4. Nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính 1.1.4.1. Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính - Nguyên tắc tuân thủ pháp luật - Nguyên tắc phù hợp với thực tế khách quan - Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, thực hiện thuận lợi - Nguyên tắc có tính hệ thống 1.1.4.2. Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính - Nguyên tắc thẩm quyền - Nguyên tắc công khai hóa thủ tục hành chính - Nguyên tắc các bên tham gia thủ tục hành chính phải bình đẳng trước pháp luật - Nguyên tắc đơn giản, tiết kiệm 4
  7. 1.1.5. Ý nghĩa của thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước Ý nghĩa của thủ tục hành chính đươc biểu hiện qua những khía cạnh cơ bản: - Là những tiêu chuẩn hành vi cho công dân và cán bộ, công chức, viên chức hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bảo đảm sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi, đúng chức năng của bộ máy hành chính. - Đảm bảo các quyết định hành chính được đưa vào thực tế của đời sống xã hội; - Đảm bảo cho các quyết định hành chính được thi hành thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính thông qua thủ tục hành chính; - Là công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính; - Xây dựng thủ tục hành chính khoa học góp phần vào quá trình xây dựng và triển khai luật pháp; - Giúp cho việc thực hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý; thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân; - Là sự biểu hiện trình độ văn hoá, mức độ văn minh của nền hành chính. Nếu thiếu quy phạm thủ tục, các quy phạm vật chất khó được thực hiện. 1.2. Cải cách thủ tục hành chính Cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá vì đây là khâu đầu tiên quyết định chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước và của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính phủ chọn cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính bởi các lý do sau đây: – Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế. – Thứ hai, trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy… thì việc lựa chọn khâu cải cách thủ tục hành chính sẽ mang lại hiệu quả thiết thực nhất. – Thứ ba, thông qua cải cách thủ tục hành chính, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc. – Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử, … – Thứ năm, cải cách thủ tục hành chính có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính sẽ gỡ bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính. – Thứ sáu, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và các bộ, ngành, địa phương nói riêng trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam cũng như của các địa phương về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Đây là những giá trị vô hình nhưng có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cụ thể là có ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc làm, an sinh xã hội… Những nội dung chính về cải cách thủ tục hành chính đã được đề cập trong Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ ngày 08/11/2011 về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. 5
  8. 1.3. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông. 1.3.1. Khái niệm "Một cửa" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là "bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" tại cơ quan hành chính nhà nước. "Cơ chế một cửa liên thông" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước. 1.3.2. Các mô hình về cơ chế một cửa - Mô hình từng cửa theo từng công việc - Mô hình một cửa tập trung tại bộ phận hành chính hay còn gọi là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. - Mô hình một cửa một dấu được tổ chức tại bộ phận hành chính 1.3.3. Ưu điểm của cơ chế một cửa, một cửa liên thông - Giảm phiền hà cho công dân khi có yêu cầu giải quyết công việc tại cơ quan hành chính nhà nước, vì chỉ cần đến bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó mà không cần phải qua nhiều phòng, ban như trước đây. - Góp phần chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức. Nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần, thái độ phục vụ cá nhân, tổ chức của đội ngũ cán bộ công chức vì tất cả công việc, thủ tục hành chính đều được niêm yết, thông báo công khai. - Nâng cao chất lượng công vụ, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước 1.4. Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả 1.4.1. Khái niệm Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ( gọi tắt là bộ phận một cửa) là bộ phận được thành lập tại các cơ quan hành chính nhà nước, là đầu mối tập trung hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức để chuyển đến các cơ quan chuyên môn hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trang thiết bị điện tử và áp dụng phần mềm điện tử trong các giao dịch hành chính giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau trong việc công khai, hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ để chuyển đến các cơ quan chuyên môn giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước. 1.4.2. Nguyên tắc hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - Lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền. - Việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông được quản lý tập trung, thống nhất. - Giải quyết thủ tục hành chính kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật, công bằng, bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền. 6
  9. - Quá trình giải quyết thủ tục hành chính được đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, giám sát, đánh giá bằng các phương thức khác nhau trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và có sự tham gia của tổ chức, cá nhân. - Không làm phát sinh chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân ngoài quy định của pháp luật. - Cán bộ, công chức, viên chức cơ quan có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm giải trình về thực thi công vụ trong giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật. - Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế có liên quan đến thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. 1.5. Uỷ ban nhân dân cấp xã 1.5.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân và Chủ tịchUBND xã * Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã * Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã 1.5.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch UBND phường * Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường *Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường 1.5.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp xã và Chủ tịch UBND cấp xã trong hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cũng đã quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã và Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thành lập và triển khai hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Ủy ban nhân dân cấp xã như sau: Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ: - Trực tiếp chỉ đạo việc triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại địa phương theo các quy định tại Nghị định này và quy chế tổ chức hoạt động của Bộ phận Một cửa do Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành; - Chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về kết quả tiến độ, giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông thuộc thẩm quyền của địa phương; - Kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có hành vi vi phạm quy định; - Xin lỗi cá nhân, tổ chức khi cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền vi phạm các quy định về những hành vi không được làm trong giải quyết thủ tục hành chính quy định tại Nghị định này, gây bức xúc cho nhân dân. 1.5.4. Quy trình giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Ủy ban nhân dân xã Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp xã tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã và những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện được giao tiếp nhận hồ sơ tại cấp xã qua các bước như sau: Bước 1: Tiếp đón và hướng dẫn 7
  10. Bước 2: Kiểm tra, tiếp nhận hồ sơ Bước 3: Thụ lý hồ sơ Bước 4: Trả kết quả cho tổ chức, cá nhân Bước 5: Thống kê, tổng hợp số liệu giải quyết Bước 6: Lưu hồ sơ 1.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1.6.1. Những yếu tố chủ quan - Mục tiêu hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - Sự quan tâm của cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương - Việc sử dụng cán bộ, công chức cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1.6.2. Những yếu tố khách quan - Các hoạt động nghiên cứu khoa học nâng cao chất lượng của hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ - Kinh phí cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1.7. Kinh nghiệm hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại một số tỉnh, thành phố 1.7.1. Kinh nghiệm tại Thành phố Đà Nẵng 1.7.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 1.7.3. Kinh nghiệm của Hà Nội Tiểu kết chương 1 Cải cách hành chính là một nội dung quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước, trong đó trọng tâm là thực hiện cải cách thủ tục hành chính. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông mà thông qua hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là cơ chế tiện lợi nhất, giải quyết có hiệu quả công việc của cá nhân, tổ chức, góp phần thực hiện cải cách nền hành chính nước ta, cải thiện sự gắn bó và niềm tin của người dân vào sự điều hành, quản lý chính quyền, thể hiện một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ TẠI UBND CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG 2.1. Khái quát về thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 2.1.1. Vị trí địa lý và dân cư 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội 2.2. Hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 2.2.1. Công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện văn bản pháp luật Nhằm thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa một cửa liên thông nói chung và hoàn thiện hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nói riêng, tỉnh Tuyên Quang và thành phố Tuyên Quang đã ban hành các quy định, quy chế chỉ đạo thực hiện. Cụ thể một số văn bản hanh hành trong thời gian gần đây như sau: Quyết định số 13/2010/QĐ-UBND ngày 15/7/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc tổ chức làm việc vào ngày thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính 8
  11. Nghị quyết số 08/2013/NQ-HĐND ngày 17/7/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh về quy định mức chi, việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Quyết định số 414/QĐ-UBND ngày 9/12/2016 của UBND tỉnh về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2018 của UBND tỉnh tuyên quang về việc ban hành kế hoạch thực hiện nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 05/01/2018 của UBND thành phố Tuyên Quang thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố năm 2018. Kế hoạch số 23/KH-UBND ngày 05/02/2018 của UBND thành phố Tuyên Quang rà soát đánh giá thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố Tuyên Quang năm 2018. Quyết định số 1725/QĐ-UBND NGÀY 26/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố về việc phê duyệt chủ trương mua sắm trang thiết bị bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các xã, phường và nhà làm việc của Trung tâm hành chính công thành phố. Kế hoạch số 127/KH-UBND ngày 29/10/2018 của UBND thành phố Tuyên Quang thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ủy ban nhân dân xã, phường đã công khai niêm yết các thủ tục hành chính, các khoản phí, lệ phí, đơn, mẫu tờ khai, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, công dân, quy tắc ứng xử, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, thông báo số điện thoại đường dây nóng, có hòm thư góp ý tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong giải quyết công việc, đồng thời tạo cơ chế giám sát của tổ chức, công dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. 2.2.2. Nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thành lập và tổ chức hoạt động bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - Kiện toàn tổ chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Hàng năm, Ủy ban nhân dân xã , phường kiện toàn tổ chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Ban hành quyết định điều động công chức chuyên trách tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Quyết định cửa cán bộ làm trưởng bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. - Ban hành Quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - Hoàn thành việc bố trí trụ sở, trang thiết bị tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - Công khai đầy đủ các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả sau khi được Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh công bố theo quy định. - Công khai tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và trên trang thông tin điện tử thành phố họ tên, chức danh, số điện thoại của người đứng đầu và công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. - Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan ban hành quy trình nội bộ, quy trình điện tử đối với việc giải quyết từng thủ tục hành chính. - Tổ chức thực hiện toàn bộ quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết (tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt và trả kết quả) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. ( tối thiểu 70% số thủ tục hành chính được thực hiện toàn bộ quy trình tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND cấp xã) - Tổ chức đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. 9
  12. 2.2.3. Tổng hợp số liệu giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Tổng số hồ sơ giải quyết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ( trường hợp) Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 STT UBND cấp xã Đúng Quá Đúng Quá Đúng Quá Đúng Quá Đúng Quá hạn hạn hạn hạn hạn hạn hạn hạn hạn hạn 1 Phường Minh Xuân 7.934 0 7.891 0 7.992 0 8.299 0 8.045 0 2 Phường Phan Thiết 12.923 0 12.878 0 13.006 0 12.632 0 12.475 0 3 Phường Tân Quang 13.337 0 13.894 0 13.684 0 14.005 0 13.736 0 4 Phường Ỷ La 6.918 0 6.711 0 6.812 0 6.412 0 6.673 0 5 Phường Nông Tiến 8.589 0 8.803 0 8.429 0 8.267 0 8.439 0 6 Phường Hưng Thành 5.732 0 5.798 0 6.027 0 5.912 0 5.728 0 7 Phường Tân Hà 8.061 0 8.257 0 7.810 0 8.021 0 7.726 0 8 Xã Tràng Đà 3.949 0 3.895 0 3.952 0 3.861 0 3.749 0 9 Xã Lưỡng Vượng 5.298 0 5.056 0 5.398 0 5.167 0 5.238 0 10 Xã An Khang 4.123 0 4.459 0 4.623 0 4.216 0 4.378 0 11 Xã Thái Long 3.226 0 3.216 0 3.653 0 3.759 0 3.715 0 12 Xã An Tường 7.978 0 8.040 0 8.246 0 8.139 0 8.391 0 13 Xã Đội Cấn 10.135 0 9.732 0 10.020 0 9.862 0 10.050 0 Tổng số 98.203 0 98.630 0 99.652 0 98.552 0 98.343 0 Bảng 1.1. Tổng hợp số liệu kết quả giải quyết hồ sơ tại Ủy ban nhân dân các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang ( từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2018) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Ủy ban nhân dân các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang ( trước đây gọi tắt là bộ phận Một cửa) đã đi vào hoạt động từ năm 2005, trải qua một quá trình hoạt động khá dài bộ phận này đã dần đi vào nền nếp và hoạt động trơn chu. Từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2018, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang đã tiếp nhận 493.380 hồ sơ của người dân và theo như số liệu các xã, phường báo cáo hoàn toàn không có hồ sơ giải quyết quá hạn, các thủ tục đều được giải quyết đúng hạn. Nhưng tất cả số hồ sơ được xử lý mới chỉ dừng lại ở dịch vụ công trực tuyến mức độ 2, các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ đều là xử lý trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, chưa được thực hiện qua môi trường mạng. Muốn giải quyết thủ tục hành chính người dân bắt buộc phải đến trụ sở Ủy ban nhân dân để làm việc và giao dịch, việc áp dụng Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Về việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích còn rất hạn chế mặc dù Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định số 468/QĐ-UBND ngày 29/7/2017 về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thực hiện và không thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc thẩm quyền giải quyết của ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Điều đó cho thấy so với một số địa phương khác trong cả nước, việc áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn thành phố Tuyên Quang vẫn chưa cao, chậm cải tiến. 10
  13. Tỷ lệ hài lòng của người dân khi đến giao dịch tại bộ phận tiếp nhận STT UBND cấp xã và trả kết quả tại UBND cấp xã (%) Năm 2017 Năm 2018 1 Phường Minh Xuân 98,45 99,90 2 Phường Phan Thiết 99,30 99,10 3 Phường Tân Quang 100 100 4 Phường Ỷ La 99,00 100 5 Phường Nông Tiến 99,16 98,14 6 Phường Hưng Thành 98,80 100 7 Phường Tân Hà 99,50 99,90 8 Xã Tràng Đà 98,50 99,45 9 Xã Lưỡng Vượng 100 98,80 10 Xã An Khang 100 100 11 Xã Thái Long 99,15 100 12 Xã An Tường 99,45 99,75 13 Xã Đội Cấn 100 100 Bảng 1.2. Tỷ lệ hài lòng của người dân khi đến giao dịch tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã (Từ 01/01/2017 đến 31/12/2018) Qua số liệu báo cáo thu thập từ việc phát phiếu lấy ý kiến người dân trong việc triển khai thực hiện xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì tỷ lệ hài lòng của người dân rất cao, các xã phường đều đạt trên 98%. Tuy nhiên việc đánh giá này chưa thực sự khách quan vì công chức chỉ cần phát 15% số phiếu trong tổng số thủ tục hành chính phải thực hiện, hơn nữa việc thực hiện phiếu trên giấy không tránh khỏi tình trạng sửa chữa phiếu hoặc tự thực hiện việc viết phiếu của công chức. Qua phỏng vấn trực tiếp, một số người dân còn chưa hài lòng đối với việc giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc người dân không hài lòng có thể kể đến đó là thời gian giải quyết một số thủ tục còn dài, mong muốn được rút ngắn hơn; sự phát sinh thêm các yêu cầu về thủ tục khi giải quyết hồ sơ, phải bổ sung nhiều loại giấy tờ đối với các lĩnh vực địa chính, tư pháp, lao động thương binh xã hội Về việc công khai thủ tục hành chính: 13/13 xã, phường đã in thành quyển và công khai niêm yết đầy đủ bộ thủ tục hành chính cấp xã theo Quyết định số 468/QĐ-UBND, ngày 26 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc công bố thủ tục hành chính áp dụng chung tại cấp xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và Quyết định số 846 /QĐ-UBND, ngày 29 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thực hiện và không thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc thẩm quyền giải quyết của ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. 2.2.4. Công tác tổ chức bộ máy làm nhiệm vụ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 2.2.4.1. Thời gian làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả làm việc vào các ngày làm việc trong tuần (trừ các ngày nghỉ lễ, Tết theo quy định). Thời gian làm việc: 08 giờ/ngày. Cụ thể: 11
  14. - Giờ làm việc mùa hè: Sáng: Từ 7 giờ đến 11 giờ 30 phút Chiều: Từ 1 giờ 30 phút đến 17 giờ - Giờ làm việc mùa đông Sáng: Từ 7 giờ 30 phút đến 12 giờ Chiều: Từ 1 giờ đến 4 giờ 30 phút Trường hợp cần thiết do yêu cầu công việc, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định thời gian tiếp nhận và trả kết quả bắt đầu sớm hơn hoặc kết thúc muộn hơn thời gian trên. 2.2.4.2. Công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Trước khi Nghị định 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính có hiệu lực từ ngày 21/6/2018 thì công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được quy định tại Điều 10, Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg Quyết định ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương như sau: * Yêu cầu a) Đội ngũ công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo đủ về số lượng và có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp đáp ứng yêu cầu công việc; b) Có phẩm chất, đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao; c) Có tác phong, thái độ chuẩn mực, có khả năng giao tiếp tốt với cá nhân, tổ chức. * Trách nhiệm a) Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; b) Tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch hành chính; c) Hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác đảm bảo cá nhân, tổ chức chỉ phải bổ sung hồ sơ một lần; d) Tiếp nhận hồ sơ hành chính của cá nhân, tổ chức theo quy định; đ) Chủ động tham mưu, đề xuất sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không khả thi hoặc không phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; e) Mặc đồng phục trong quá trình thực thi nhiệm vụ; g) Thực hiện các quy định khác của pháp luật. * Quyền lợi a) Được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ và văn hóa ứng xử, giao tiếp với cá nhân, tổ chức; b) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định. Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã là công chức thuộc 7 chức danh công chức cấp xã được quy định tại Luật Cán bộ, công chức do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phân công căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương. Từ ngày 21/6/2018 người làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã về yêu cầu, trách nhiệm và quyền lợi không có nhiều thay đổi nhưng được quy định thêm theo khoản 4, Điều 10 Nghị định số 61/2018/NĐ- CP như sau: - Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo, phụ trách; - Công chức làm việc tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã là công chức thuộc các chức danh công chức cấp xã quy định tại Luật cán bộ, công chức do, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phân công căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương. 12
  15. Tại UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, mỗi UBND tùy vào tình hình địa phương của xã, phường mình và căn cứ theo quy định của pháp luật sẽ ra quyết định công bố danh sách những người làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Hằng năm kiện toàn tổ chức bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nếu có sự thay đổi nhân sự. Cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (người) STT UBND cấp xã Tổng số Trên đại học Đại học Cao đẳng, trung cấp 1 Phường Minh Xuân 5 0 5 0 2 Phường Phan Thiết 5 0 5 0 3 Phường Tân Quang 6 0 5 1 4 Phường Ỷ La 7 0 7 0 5 Phường Nông Tiến 5 1 4 0 6 Phường Hưng Thành 6 1 5 0 7 Phường Tân Hà 7 0 7 0 8 Xã Tràng Đà 6 0 6 0 9 Xã Lưỡng Vượng 6 0 6 0 10 Xã An Khang 5 0 5 0 11 Xã Thái Long 5 0 5 0 12 Xã An Tường 7 0 7 0 13 Xã Đội Cấn 7 0 6 1 Tổng số 77 2 73 2 Bảng 1.3 Thống kê trình độ Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2018) Về cơ bản, trong công tác sắp xếp bố trí công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, Ủy ban nhân dân các xã, phường luôn chú trọng bố trí người có năng lực, trình độ và phẩm chất tốt, có khả năng giao tiếp với tổ chức, cá nhân. Phần lớn công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trình độ đại học trở lên (75/77 người), tuy nhiên, đội ngũ công chức ở xã, phường thường xuyên biến động do luân chuyển hay biệt phái đến các cơ quan, đơn vị khác Công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thường xuyên được tham gia các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp và xử lý công việc. Mỗi công chức khi thực thi nhiệm vụ đều phải đeo thẻ công chức, đồng thời trên bàn làm việc đều có ghi rõ họ tên, lĩnh vực công việc phụ trách của công chức đó. 2.2.5. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Đa số UBND các xã, phường thuộc thành phố Tuyên Quang đã nâng cấp, sửa chữa, bố trí phòng tiếp nhận và trả kết quả tại tầng 1với vị trí thuận lợi, dễ nhìn trong trụ sở Ủy ban nhân dân các xã, phường đáp ứng được yêu cầu cơ bản của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên theo quy định của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg, đối với diện tích tối thiểu của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã là 40m2 thì chỉ có số ít xã phường đạt tiêu 13
  16. chuẩn, phòng tiếp nhận và trả kết quả tại các Ủy ban nhân dân cấp xã khá chật hẹp, thiếu không gian hoạt động cho công chức làm việc. Máy vi Điện Hòm thư Diện tích Máy photo STT UBND cấp xã tính thoại góp ý (m2) (chiếc) (chiếc) (chiếc) (chiếc) 1 Phường Minh Xuân 56 5 0 1 1 2 Phường Phan Thiết 72 5 0 1 1 3 Phường Tân Quang 20 6 0 1 1 4 Phường Ỷ La 45 7 0 1 1 5 Phường Nông Tiến 30 5 0 1 1 6 Phường Hưng Thành 34 6 0 1 1 7 Phường Tân Hà 40 7 0 1 1 8 Xã Tràng Đà 32 6 0 1 1 9 Xã Lưỡng Vượng 40 6 0 1 1 10 Xã An Khang 30 5 0 1 1 11 Xã Thái Long 25 5 0 1 1 12 Xã An Tường 35 7 0 1 1 13 Xã Đội Cấn 18 7 0 1 1 Bảng1.4. Tổng hợp thực trạng cơ sở vật chất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kêt quả tại UBND cấp xã thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (tính đến ngày 31/12/2018) Nhìn chung, hầu hết các phòng tiếp nhận và trả kết quả đều thoáng mát, sạch sẽ, được trang bị máy tính có kết nối mạng internet, máy in, điện thoại, bàn ghế ngồi chờ, quạt, công khai đầy đủ thủ tục hành chính đúng theo quy định của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP. Biểu đồ thể hiện số lượng máy tính sử dụng còn và hết khấu hao tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. ( thời điểm ngày 31/12/2018) 14
  17. Tháng 8 năm 2018, thực hiện quyết định số 1725/QĐ-UBND ngày 26/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố về việc phê duyệt chủ trương mua sắm trang thiết bị bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các xã, phường và nhà làm việc của Trung tâm hành chính công thành phố; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trên 13 xã, phường đã được cung cấp thêm nhiều trang thiết bị mới, trong đó phải kể đến máy vi tính và máy điều hòa nhiệt độ để đáp ứng tốt hơn quá trình làm việc của công chức và phục vụ cho tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên số lượng máy vi tính mới được cấp vẫn rất thấp, đa số cán bộ, công chức vẫn phải dùng máy tính đã hết khấu hao sử dụng. 2.3. Đánh giá kết quả thực hiện của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Những kết quả cụ thể của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Tuyên Quang trong thời gian qua được thể hiện như sau: 2.3.1. Những mặt đã đạt được trong hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. 2.3.1.1. Về thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và các văn bản quy định của cấp tỉnh, thành phố về cải cách thủ tục hành chính và những quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được thực hiện kịp thời, đồng bộ, khiển khai sâu rộng đến đội ngũ cán bộ công chức phụ trách và làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Nhìn chung các xã, phường đã thực hiện tốt kế hoạch, bố trí cán bộ công chức làm việc đúng thời gian và phù hợp với nhiệm vụ được giao; phòng tiếp công dân bố trí đúng theo yêu cầu của Nghị định 61/2018/NĐ-CP, các bảng thu phí, lệ phí được công khai, niêm yết đầy đủ. 2.3.1.2. Đối với người dân Nhờ cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông mà trực tiếp là qua hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường đã tạo thuận lợi cho người dân và tổ chức trong việc giao dịch với cơ quan hành chính, góp phần làm thay đổi mối quan hệ cơ bản giữa chính quyền và người dân, tổ chức hành chính theo hướng phục vụ. Tình trạng tổ chức, cá nhân phải đi lại nhiều lần để giải quyết công việc gây phiền hà và tốn thời gian đã giảm đi đáng kể. Việc công khai hóa thủ tục hành chính tại phòng tiếp công dân và trên trang thông tin điện tử đã giúp nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần thúc đẩy năng lực thực thi công vụ, cũng như nâng cao tinh thần thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức. 2.3.1.3. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức Mặc dù bằng cấp không thể nói lên tất cả, nhưng với tỉ lệ cao cán bộ, công chức có bằng cử nhân trở lên làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã giúp cho đội ngũ này có được sự hiểu biết toàn diện và có khả năng phân tích, nhìn nhận vấn đề đa chiều hơn, đồng thời có thể vận dụng tốt hơn trong quá trình quản lý, điều hành và làm việc trực tiếp với người dân địa phương. Công tác đào tạo bồi dưỡng cũng được các cấp Đảng ủy, chính quyền quan tâm, tạo điều kiện nên trình độ của đội ngũ cán bộ công chức không ngừng được hoàn thiện và nâng cao. Về tinh thần thái độ, ý thức làm việc và tiếp công dân của cán bộ công chức cơ bản nghiêm túc, đúng mực, có ý thức trách nhiệm trong việc tiếp nhận và trả kết quả cũng như hướng dẫn, giải thích cho người dân đến giao dịch; tác phong làm việc nghiêm túc, thái độ hòa nhã, đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính theo đúng thời gian quy định, những hồ sơ chưa đảm bảo hoặc không thuộc thẩm quyền giải quyêt của Ủy ban nhân dân cấp xã đều được giải thích hướng dẫn đầy đủ để người dân nắm được và thực hiện theo đúng quy định. 15
  18. Việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã giúp cho cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tiếp nhận và giải quyết công việc của nhân dân, không còn thái độ cửa quyền, sách nhiễu mà thay vào đó là thái độ nghiêm túc và tận tình đối với công việc của nhân dân. 2.3.1.4. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban nhân dân các xã, phường đã bố trí tại trụ sở phòng tiếp nhân và trả kết quả riêng biệt, tuy diện tích còn hạn chế nhưng được bày trí gọn gàng, ngăn nắp, ở nơi có vị trí thuận lợi cho người dân đến giao dịch. Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đều được trang bị một máy tính riêng biệt được kết nối mạng internet để làm và phục vụ việc giải quyết hồ sơ cho người dân. Công chức xã còn được trang bị và sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã được tăng cường đầu tư đã giúp cho công chức thực hiện nhiệm vụ thuận lợi, nhanh chóng, chính xác hơn. 2.3.2. Những tồn tại, hạn chế 2.3.2.1. Về thực hiện các văn bản pháp luật quy định. Mặc dù thành phố đã có nhiều kết quả trong việc triển khai thực hiện và ban hành các chương trình, kế hoạch về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhưng vẫn chưa đồng bộ, nhất là đối với các xã ở xa trung tâm thành phố. Chế độ chính sách, các văn bản của Nhà nước thường xuyên thay đổi làm cho quá trình triển khai thực hiện khi giải quyết thủ tục hành chính bị lúng túng và gặp nhiều khó khăn. Hệ thống các quy định về trách nhiệm thực thi công vụ của từng cán bộ, công chức chưa đủ rõ và cụ thể, chưa đảm bảo tính minh bạch. Nên việc áp dụng vào hoạt động đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức vẫn mang tính chung chung, không rõ ràng. 2.3.2.2. Về đội ngũ công chức Một bộ phận cán bộ, công chức giải quyết công việc có thái độ đùn đẩy, né tránh trách nhiệm khi gặp khó khăn, vướng mắc; có thái độ quan liêu, cửa quyền, hách dịch và chưa có tinh thần phục vụ nhân dân. Tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức trẻ thì chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình giải quyết công việc, việc nắm bắt những quy định của pháp luật và các văn bản chỉ đạo liên quan trực tiếp đến công việc còn chưa kịp thời, đôi khi gặp lúng túng khi áp dụng pháp luật vào một số trường hợp cụ thể. Mặt khác đối với cán bộ, công chức đã lớn tuổi mặc dù có kinh nghiệm nhưng việc tiếp thu xử lý máy móc, ứng dụng các phần mềm thông tin điện tử trong công tác tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cũng như trong công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Một số cán bộ, công chức còn làm trái, ngành nghề so với ngành nghề mình được đào tạo. Mặc dù đa số đội ngũ cán bộ, công chức có bằng cử nhân trở lên, nhưng một số lại chưa được phân công đúng chức năng, nhiệm vụ. Việc thực hiện các thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn gây khó khăn, bức xúc cho người dân, vẫn còn nhiều trường hợp người dân phải đi lại nhiều lần, nhiều nơi. 2.3.2.3. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả vẫn thiếu những trang thiết bị cần thiết như máy photo, máy scan nên chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. 16
  19. Hệ thống máy vi tính đã quá cũ, đã hết thời gian sử dụng cũng làm cho thời gian giải quyết công việc bị kéo dài. Các phần mềm điện tử xử lý công việc giữa các bộ phận chưa được liên kết với nhau mà tách rời nhau nên khó tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng trong giải quyết công việc. Diện tích phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn chật hẹp, nên thường sẽ không có đủ thành phần công chức làm việc tại đó, người dân đến làm việc phải đi đến nhiều phòng trong trụ sở UBND. Hệ thống công nghệ thông tin chưa đồng bộ và liên kết với nhau, khiến cho việc giải quyết công việc liên thông giữa các bộ phận, giữa công chức chuyên môn cấp xã với phòng ban của cấp trên gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế. 2.3.2.4. Nhận thức của người dân Nhiều trường hợp người dân đến giao dịch tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả do hiểu biết còn thấp nên có thái độ không đúng mực, không lắng nghe công chức hướng dẫn thực hiện thủ tục lại cho rằng công chức gây khó khăn và không giải quyết công việc cho mình. Mặc dù tỉnh và thành phố đã triển khai dịch vụ hành chính công trực tuyến qua website và dịch vụ bưu chính công ích nhưng trên địa bàn thành phố hầu như chưa có trường hợp người dân nào áp dụng, thứ nhất do việc sử dụng công nghệ thông tin không thông thạo, thứ hai do thói quen tư duy nghĩ rằng đến tận nơi, trực tiếp giao dịch thì thủ tục sẽ dễ dàng và nhanh hơn. 2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế - Về chỉ đạo, thực hiện văn bản quy định pháp luật Nhiều văn bản hướng dẫn ở trung ương ban hành chậm, chồng chéo, thiếu đồng bộ; trong khi nhiều luật mới có sự bổ sung, điều chỉnh đã được ban hành và có hiệu lực. Các quy định về trách nhiệm thực thi công vụ, chức trách của từng vị trí cán bộ, công chức chưa đủ rõ và cụ thể, chưa đảm bảo tính minh bạch. Ủy ban nhân dân các xã, phường mới chỉ ban hành quyết định, kế hoạch về việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, đồng thời dựa vào các văn bản của cấp trên để tiến hành chứ chưa xây dựng được đề án cụ thể. Các văn bản quy định chế độ báo cáo không đồng nhất giữa các bộ phận dẫn đến tình trạng cán bộ công chức trong thời gian làm việc vừa phải tiếp nhận và trả kết quả lại phải thực hiện quá nhiều chế độ báo cáo. - Về đội ngũ cán bộ công chức Trong môi trường làm việc nhiều áp lực, nhưng chính sách đãi ngộ đối Tại một số xã, phường chưa bố trí đủ công chức chuyên trách làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, vẫn còn hiện tượng “đợi suất” rồi mới ra quyết định phân công công việc tới các Ủy ban nhân dân cấp xã. Việc Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện chủ trương luân chuyển các chức danh công chức giữa các xã, phường đã làm cho quá trình làm việc của công chức cũng gặp nhiều khó khăn do thay đổi địa phương. - Về tài chính và cơ sở vật chất Do nguồn ngân sách địa phương còn hạn hẹp, lại chưa huy động được nguồn vốn xã hội hóa. Chính vì vậy, cơ sở vật chất của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã, phường chưa được đầu tư đổi mới, việc nâng cấp trang thiết bị còn gặp nhiều khó khăn. - Tính liên thông trong xử lý các công việc cho người dân và tổ chức còn thấp, chưa đầy đủ, dẫn đến tình trạng thực hiện liên thông nhưng người dân và tổ chức vẫn phải trực tiếp đến nhiều nơi để giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện liên thông giữa các cấp hành chính còn khó khăn, đặc biệt là giữa UBND cấp xã với các phòng ban ngành dọc. 17
  20. - Công tác ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, được triển khai nhưng không đồng bộ, chưa có phần mềm dùng chung giữa các bộ phận thực hiện xử lý công việc, dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3,4 chưa được thực hiện cũng là một nguyên nhân khiến cho cá nhân, tổ chức khá mất thời gian trong việc đi lại nộp hồ sơ và giải quyết công việc. - Công tác tuyên truyền về cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng đã được quan tâm thực hiện nhưng tiến hành chưa thường xuyên và liên tục, hình thức đơn điệu và kém hiệu quả. Tiểu kết chương 2 Tại chương này, luận văn đã đi vào khái quát một số vấn đề cơ bản của thành phố Tuyên Quang như vị trí địa lý, điều liện tự nhiên và dân cư, tình hình phát triển kinh tế xã hội và sau đó đi đến nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban nhân dân các xã, phường trên địa bàn thành phố. Đồng thời trong Chương 2, luận văn cũng đã chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn hạn chế mà Bộ phận tiếp nhận và tiếp nhận và trả kết quả gặp trong quá trình hoạt động. Đây là những cơ sở quan trọng để tôi đề xuất những giải pháp nhằm hoạt thiện hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Chương 3. Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp 3.1.1. Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính và những nội dung có liên quan đến việc hoàn thiện hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. 3.2. Chương trình và mục tiêu cải cách hành chính tỉnh Tuyên Quang 3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tại UBND các xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang tại các UBND xã phường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. 3.3.1. Về chỉ đạo và thực hiện các văn bản quy định của pháp luật Xây dựng và rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy chế, quy trình làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Tiếp tục quán triệt các văn bản quy định về triển khai thực hiện cơ chế “Một cửa” sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, công chức nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức. Cụ thể hóa quy chế làm việc của cán bộ công chức làm việc tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả, khắc phục việc “đi muộn về sớm” chấp hành nghiêm giờ làm việc theo đúng quy định, chất dứt tình trạng tiếp nhận hồ sơ ngoài trụ sở, ngoài giờ hành chính, thêm những thủ tục không cần thiết. Đồng thời cũng có quy chế riêng về việc đánh giá hoạt động của cán bộ công chức làm việc tại bộ phận này, bởi so với các bộ phận khác thì hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả phức tạp và khó khăn hơn. Cùng với việc ban hành văn bản quy định về thực hiện cơ chế Một cửa và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, công tác triển khai văn bản cần phải được triển khai đúng, nghiêm túc và kịp thời. Cần phải quan tâm chú trọng hơn đến các xã có vị trí xa trung tâm thành phố để văn bản được triển khai một cách đồng bộ. Trong quá trình thực hiện văn bản do các cấp ban hành chú ý thường xuyên sơ kết, tổng kết để kịp thời nhìn lại những thiếu sót và rút kinh nghiệm khắc phục kịp thời, qua đó hoàn thiện quy trình giải quyết và nhân rộng cách làm hay sáng tạo của từng địa phương. 18
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2