intTypePromotion=1

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Phát triển chính phủ điện tử ở CH dân chủ nhân dân Lào

Chia sẻ: Hinh Duyệt | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
7
lượt xem
0
download

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Phát triển chính phủ điện tử ở CH dân chủ nhân dân Lào

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công "Phát triển chính phủ điện tử ở cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" đã xây dụng hệ thống và tổng hợp nền tảng lý luận bổ sung thêm kho tàng kiến thức về Chính phủ điện tử và cơ sở để phát triển Chính phủ điện tử.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Phát triển chính phủ điện tử ở CH dân chủ nhân dân Lào

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA ĐALASEN SUNTHON PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI, NĂM 2016 1
  2. Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bế Trung Anh Phản biện 1: TS. Đặng Thành Lê Học viện hành chính QG Phản biện 2: TS. Nguyễn Bùi Nam Viện Hàn Lâm KXXHVN Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính quốc gia Địa điểm: Phòng họp ..402.. nhà ..A... Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia Số 77 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Thời gian: vào hồi: 14 giờ 15 phút ngày 12 tháng 01 năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính quốc gia hoặc trên trang web của Khoa Sau đại học Học viện Hành chính quốc gia 2
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Phát triển Chính phủ điện tử đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia trên toàn thế giới. Lào đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, việc phát triển Chính phủ điện tử từ trung ương đến cơ sở không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn đóng vai trò hết sức quan trọng phù hợp với nhu cầu phát triển của Lào và xu hướng phát triển của thời đại hướng tới tăng cường năng lực điều hành nhà nước của Chính phủ; mang lại thuận lợi cho người dân; tăng cường sự minh bạch, chống tham nhũng, giảm chi phí cho chính phủ, làm tăng thu nhập quốc dân, cung cấp các dịch vụ cho người dân tốt hơn. Nhận thức được vai trò và xu thế phát triển tất yếu của Chính phủ điện tử, Lào bắt đầu triển khai dự án xây dựng Chính phủ điện tử từ năm 2007. Dự án đã hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ sở hạ tầng và một số các phần mềm xong trong năm 2011, là bước quan trọng của sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông ở Lào, góp phần thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định, nâng cao đời sống của nhân dân, phấn đấu đưa đất nước Lào thoát khỏi tình trạng kém phát triển trong năm 2020. Tuy nhiên, Quá trình triển khai chính phủ điện tử ở Lào từ trung ương tới địa phương và tới người dân trong thời gian qua vẫn còn trì trệ và hiệu quả do các cấp lãnh đạo nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và viên chức nhận thức chưa đầy đủ về Chính phủ điện tử; thiếu kinh phí; khả năng sử dụng công nghệ thông tin của nguời dân, công chức, viên chức trong hệ thống bộ máy nhà nước còn hạn chế; hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông và pháp luật của Lào chưa đồng bộ; chất lượng bảo mật thông tin còn nhiều yếu kém và kinh nghiệm về phát triển CPĐT của còn rất hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu về phát triển Chính phủ điện tử ở CHDCND Lào là một việc hết sức cần thiết để giúp đất nước nhanh chóng phát trển và hội nhập. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi chọn đề tài: "PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở 3
  4. CHDCND Lào" với hy vọng phần nào đó nâng cao nhận thức của mình về vấn đề này cũng như đề xuất một số giải pháp phát triển Chính phủ điện tử tại Lào trong thời gian tới. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Trong nghiên cứu này đã có một số bài viết, giáo trình, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, chuyên đề hội thảo v..v ở trong và ngoài nước mà cũng đã đạt được những thành công nhất định. - Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc. + TS. Nguyễn Đăng Hậu, TS. Nguyền Hoài Anh, CN. Ao Thu Hoài (2010), Chính phủ điện tử, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà nội. + Đoàn Mạnh Hồng (2009), Nghiên cứu xây dựng lộ trình phát triển Chính phủ điện tử tại việt nam và đề xuất mô hình Chính phủ điện tử tại đại học Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ, Đại học Thái Nguyên. + Nguyễn Nam Trung (2007), CPĐT và khả năng áp dụng Chính phủ điện tử Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học Ngoại Thương (Hà Nội). + Trọng Cầm (2012), „Chính phủ điện tử mạnh phải cho dân quyền giám sát‟, Báo điện tử Vietnamnet.vn, . + Thành Chung (2012), „Chính phủ điện tử: Minh bạch hơn, phục vụ tốt hơn‟, Báo điện tử Baodientu.Chinhphu.vn, . - Nguyễn Đặng Tuấn Minh – Giám đốc tập đoàn công nghệ số MSc (2009), E-Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment Improvement in Viet Nam, - Shailenda C.Jain Palvia and Shushil S.Sharma (2007), E-Government 4
  5. and E-Governance: Definitions/Domain Framework and Status around theWorld, www.iceg.net,. - Tình hình nghiên cứu trong nƣớc. Vấn đề phát triển Chính phủ điện tử CHDCND Lào hầu như vắng bóng Đã có một đề tài Từng bước quản lý nhà nước theo hướng Chính phủ điện tử, năm 2012”. Tuy nhiên, đề tài này chỉ xem xét nghiên cứu đến hoạt động quản lý nhà nước theo hướng Chính phủ điện tử nhưng vấn đề về phát triển Chính phủ điện tử mà chưa đề cập đến tại CHDCND Lào. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. - Mục đích: Xây dựng căn cứ khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Chính phủ điện tử ở CHDCND Lào. - Nhiệm vụ: + Tập hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến Chính phủ điện tử tạo ra bước đột phá trong hợp tác để thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong CQNN và phát triển Chính phủ điện tử tại Lào, để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho phát triển Chính phủ điện tử tại Lào. + Đánh giá những thành tựu, thực trạng chính phủ điện tử và vấn đề đặt ra trong thực hiện chính phủ điện tử thời gian qua tại CHDCND Lào. + Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm phát triển Chính phủ điện tử trong thời gian tới với mục tiêu đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn; công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. - Đối tượng nghiên cứu: hoạt động Chính phủ điện tử tại Lào với việc giao dịch và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp là đối tượng được hưởng các dịch vụ của chính phủ. 5
  6. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cưú thực trạng triển khai Chính phủ điện tử ở CHDCND Lào từ năm 2011 đến nay trên cơ sở phân tích mặt những lợi thế và khó khăn trong hoạt động xây dựng Chính phủ điện tử nhằm tìm ra phương hướng và giải pháp phát triển Chính phủ điện tử ở Lào trong thới gian sắp tới đáp ứng nhu cầu cần thiết của đời sống xã hội ngày càng cao theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu. Luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học cụ thể như: sử dụng phương pháp phân tích tài liệu liên quan đến Chính phủ điện tử ; từ phân tích tài liệu, tổng hợp lại xây dựng thành cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển Chính phủ điện tử ở chương 1 để tìm ra các phương hướng phát triển chính phủ điện tử của thế giới ở mục 3.1.1 và mục 3.1.2; sử dụng phương pháp thống kê phân tích thực trạng triển khai Chính phủ điện tử tại CHDCND Lào thông qua hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng ở mục 2.2.1 và hoạt động nâng cao trình độ CNTT cho cán bộ-công chức ở mục 2.2.3, hoạt động cung cấp dịch vụ công điện tử ở mục 2.2.4; từ những thành tựu và vấn đề đặt ra trong thực hiện Chính phủ điện tử thời gian qua đánh giá sự phát triển của Chính phủ điện tử của CHDCND Lào ở mục 2.3. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cuả luận văn. - Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã xây dụng hệ thống và tổng hợp nền tảng lý luận bổ sung thêm kho tàng kiến thức về Chính phủ điện tử và cơ sở để phát triển Chính phủ điện tử. - Ý nghĩa thực tiễn: + Luận văn góp phần hoàn thiện giải pháp cụ thể hóa lộ trình và bước đi phù hợp giúp Lào đạt những thành công khi triển khai Chính phủ điện tử trong thời giai đoạn tới. + Cung cấp nhũng thông tin và giai pháp có ý nghĩa cho cơ quan chức năng 6
  7. chịu trách nhiệm chủ đạo việc triển khai Chính phủ điện tử. 7. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển chính phủ điện tử. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển chính phủ điện tử ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển chính phủ điện tử ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. 7
  8. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 1.1.1. khái niệm về chính phủ điện tử. CPĐT là Chính phủ sử dụng CNTT & TT để tăng cường khả năng truy cập và cung cấp các dịch vụ của Chính phủ tới các công dân, các doanh nghiệp và các nhân viên Chính phủ làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, các tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý nhà nước. Nói một cách ngắn gọn, CPĐT là chính phủ hiện đại, đổi mới, vì dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sỏ ứng dụng CNTT & TT [22,4]. 1.1.2. Đặc điểm Của chính phủ điện tử. CPĐT có các đặc điểm chung sau: Thứ nhất, CPĐT là việc Chính phủ sử dụng CNTT & TT để tự động hóa, số hóa các thủ tục, giấy tờ, dịch vụ hành chính truyền thống; Thứ hai, CPĐT thay đổi phong cách lãnh đạo, quản lý, tạo ra cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, giao dịch kinh doanh, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin; Thứ ba, CPĐT nhằm mục tiêu tăng cường năng lực của chính phủ theo hướng quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính công khai, minh bạch nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển; Thứ tư, CPĐT nhằm mục đích cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ chính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân. 8
  9. Thứ năm, CPĐT là Chính phủ làm việc với người dân 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần và 365 ngày mỗi năm, người dân có thể thụ hưởng các dịch vụ công dù họ ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào. 1.1.3. Các mục tiêu của chính phủ điện tử. - Tăng cường sự tin tưởng của công chúng vào bộ máy nhà nước và cung cấp các dịch vụ xã hội “tốt hơn” -Tạo môi trường kinh doanh tốt hơn. - Khách hàng trực tuyến, không phải xếp hàng. - Tăng cường sự điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia rộng rãi của người dân. - Nâng cao tính minh bạch và tin cậy của chính phủ thông qua việc đẩy nhanh ứng dụng ICT trong quản lý và điều hành cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động trong quá trình tham gia vào việc hoạch định chính sách của chính phủ. - Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan chính phủ.Việc tái lập lại các qui trình và thủ tục để giảm bớt nạn quan liêu, hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ, nâng cao năng suất về mặt hành chính và tăng cường tíết kiệm là những lợi ích mà CPĐT đem lại. - Nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng vùng sâu vùng xa. - Cải thiện mối tác động qua lại giữa 3 chủ thể chính của xã hội và kinh tế của đất nước. 1.1.4. Lợi ích của chính phủ điện tử. Về mặt lợi ích, CPĐT có nhiều ưu điểm và lợi ích hơn so với Chính phủ truyền thống: Thứ nhất, sự vận hành của chính phủ truyền thống diễn ra thủ công, nhiều thủ tục, tốn nhiều công sức và tài chính cho cả nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân; người dân chỉ có thể liên hệ với Chính phủ 5 ngày/tuần, 8h/ngày tại trụ sở của các CQNN. 9
  10. Thứ hai, xét về tốc độ xử lý các dịch vụ giữa CPĐT và Chính phủ truyền thống, việc tin học hóa và tự động hoá thủ tục hành chính của CPĐT cho phép giải quyết các dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, gọn hơn, đơn giản hơn rất nhiều. Thứ ba, với những khách hàng trực tuyến, CPĐT sẽ giúp làm giảm thiểu sự tham gia của các cán bộ chính phủ trong việc cung cấp một cách hiệu quả các dịch vụ công cộng cho người dân. Thứ tư, CPĐT sẽ khắc phục và đẩy lùi những tiêu cực diễn ra trong hoạt động công vụ đó là cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì trệ, quan liêu …., các “thủ tục bôi trơn”. Thứ năm, CPĐT là nên tảng để chuyển từ nên hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển, mà thực chất là chuyển từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ. -Đối với Chính phủ. + Tăng cường tính hiệu quả và chất lượng dịch vụ của bộ máy nhà nước (hay đồng nghĩa với giảm trì trệ - quan liêu). + Giảm “nạn giấy tờ” văn phòng – công sở, tiết kiệm thời gian, hợp lý hóa việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngân sách chi tiêu của chính phủ. + Hợp lý hóa việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngân sách vận hành bộ máy nhà nước. + Tăng cường sự minh bạch, giảm tham nhũng: Do không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, CPĐT tạo ra luồng thông tin thông suốt và minh mạch cũng như khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ một cách dễ dàng, thuận tiện. + Giảm chi phí cho chính phủ: giúp hoạt động mua sắm công của chính phủ hiệu quả hơn nhờ giảm chi phí giao dịch từ 10-20% [23, 23]. 1.1.5. Các giai đoạn xây dựng Chính phủ điện tử. Quá trình xây dựng CPĐT chia làm 4 giai đoạn như sau: 10
  11. - Giai đoạn 1: Sự hiện diện (Presence) Sự hiện diện là giai đoạn đầu của sự phát triển và thiết lập một địa chỉ cung cấp thông tin trong tương lai. - Giai đoạn : Tương tác (Interaction) Giai đoạn thứ hai cho thấy các giao dịch dựa trên web tương tác cung cấp khả năng nâng cao, tuy nhiên vẫn tương đối đơn giản và thường xoay quanh cung cấp thông tin và còn hạn chế trong khả năng sắp xếp hợp lý và tự động hóa các chức năng của chính phủ. - Giai đoạn : Giao dịch (Transaction) Những chức năng cung cấp dịch vụ đa dạng hơn, không còn là đơn thuần là cung cấp thông tin hướng dẫn và thể hiện các hình thức hoạt động phổ biến liên quan của CPĐT. - Giai đoạn : Chuyển đổi (Transformation) Cấp cao nhất của sự phát triển CPĐT là giai đoạn chuyển đổi. Ở cấp độ này, công nghệ được sử dụng đầy đủ tính năng để biến đổi chức năng của Chính phủ được hình thành, tổ chức và thực hiện. 1.1.6. Các mô hình giao dịch trong chính phủ điện tử. Một mô hình CPĐT hiệu quả sẽ bao gồm cách thức giải quyết quan hệ tương tác về thông tin giữa ba chủ thể: chính phủ, công dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phan loại CPĐT ra thành 4 loại, tương ứngvới 4 dạng dịch vụ Chinh phủ bao gồm: - G2C (Government to Citizens); - G2B ( Government to Business); - G2E ( Government to Employees); - G2G ( Government to Government). 1.1.7. Các hình thức và các dạng dịch vụ chủ yếu của chính phủ điện tử. - Các hình thức hoạt động chủ yếu của CPĐT. + Thư điện tử ( e-mail). 11
  12. + Mua sắm công trong CPĐT. + Trao đổi dữ liệu điện tử. + Tra cứu, cập nhật thông tin qua mạng. - Các dạng dịch vụ mà CPĐT cung cấp. Một số dịch vụ công có thể cung cấp qua mạng là: + Cung cấp thông tin văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương chính sách; + Cung cấp thông tin kinh tế, xã hội và thị trường; + Cung cấp dịch vụ đăng ký, cấp phép xuất nhập khẩu trực tuyến; + Cung cấp dịch vụ khai báo thuế trực tuyến; + Cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến GIS và các dịch vụ được cung cấp qua CPĐT. CPĐT có thể sử dụng Internet và GIS để cung cấp được nhiều những dịch vụ mới mà người dân và doanh nghiệp quan tâm. + Cung cấp dịch vụ ứng dụng của GIS để quản lý đất đai, giấy phép xây dựng. + Cung cấp dịch vụ thông tin quy hoạch. + Cung cấp dịch vụ ứng dụng GIS để trao đổi thông tin giữa các cơ quan, chính quyền các cấp phục vụ quản lý tài nguyên. 1.2. Cơ sở và các yếu tố để xây dựng và phát triển chính phủ điện tử. 1.2.1. Cơ sở để xây dựng và phát triển chính phủ điện tử. 1). Hạ tầng công nghệ. 2). Cơ sở hạ tầng nhân lực và chuyên gia CNTT 3). Công dân điện tử và doanh nghiệp điện tử. 4). Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. 5). Cơ sở chính sách – pháp luật. 6). An toàn và bảo mật thông tin. 1.2.2. Các yếu tố để triển khai thành công chính phủ điện tử. Các yếu tố để triển khai thành công CPĐT bao gồm những yếu tố như 12
  13. sau: 1). Cải cách hành chính. 2). Vai trò của lãnh đạo. 3). Chiến lược đầu tư. 4). Cộng tác. 5). Sự tham gia của người dân.. 1.3. Phát triển các dịch vụ trực tuyến. - Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng internet. - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1; - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3; - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; 1.4. Kinh nghiệm triển khai chính phủ điện tử. Hiện nay, Hàn Quốc, Singapore, vương quốc Anh là những nước đứng đầu trên thế giới về CPĐT. Như vậy, Lào nên rút kinh nghiệm từ những nước đi trước để rút nắn thời gian triển khai CPĐT. - Hàn Quốc. Trước hết cần hoàn thiện pháp luật và kiến trúc tiêu chuẩn hệ thống thông tin quốc gia nhằm chia sẻ thông tin, quản lý chất lượng thông tin thống nhất, trong đó việc xây dựng trung tâm dữ liệu số quốc gia là rất cần thiết; hoàn thiện cơ chế tài chính đầu tư cho dự án công CNTT nhằm thúc đẩy việc triển khai dự án; xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chính phủ trong việc triển khai CPĐT (cải cách hành chính nhà nước); tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức về CPĐT đến các cán bộ chính phủ để hiểu được tầm quan trọng của CPĐT và sự cần thiết thay đổi ngay từ bên trong nội bộ chính phủ, đồng thời đổi mới nhận thức của tầng lớp lãnh đạo trong việc ứng 13
  14. dụng CNTT vào hoạt động của chính phủ; Đẩy mạnh đào tạo, tuyên truyền CPĐT, CNTT để người dân hiểu và ủng hộ chính phủ trong công tác triển khai CPĐT; Xây dựng đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm triển khai CPĐT. -Singapore: Kinh nghiệm trong việc triển khai và phát triển thành công hạ tầng số và nền kinh tế số ở Singapore có được là thông qua các kế hoạch cụ thể, cẩn thận và các chiến lược dài hạn, ví dụ như kế hoạch tổng thể 10 năm iN 2015 của Tổ chức phát triển truyền thông (IDA) nhằm đến việc xây dựng một quốc gia về truyền thông mà tại đó cuộc sống được làm giàu lên thông qua truyền thông. - Việt Nam:Trong quá trình triển khai CPĐTđã rút ra 5 kinh nghiệm: Theo chuyên gia Việt nam cho rằng đầu tiên là việc triển khai tin học hóa hay cải cách hành chính trước. Thứ 2 là việc xây dựng Cổng thông tin điện tử (Portal) hay dịch vụ công trước. Nhiều năm qua, mọi người thường chỉ chú trọng xây dựng Cổng thông tin điện tử. Thứ ba, hạ tầng như thế nào là đủ để xây dựng CPĐT. Hầu hết hạ tầng hiện nay của chúng ta đã đủ. Tại một số nơi, do chắp vá nên lúc nào cũng tưởng là thiếu. Thứ tư là làm thế nào để triển khai rộng CPĐT khi có rất nhiều sự khác biệt giữa các đơn vị hành chính trong cùng một địa phương. - Vƣơng quốc Anh: Vương quốc Anh là một trong những quốc gia được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao trong việc xây dựng và phát triển CPĐT. Trong lộ trình phát triển CPĐT của mình, Vương quốc Anh đã đặt mục tiêu đến năm 2005 là tất cả những dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan chính quyền phải được điện tử hóa và thực hiện các dịch vụ đó trên mạng Internet. Điều này có nghĩa là các dịch vụ trên phải được cung cấp 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần và theo một cách thức tiết kiệm chi phí. 14
  15. CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 2.1. Hoạt động của cơ quan chính phủ Lào. Theo luật Chính phủ cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 2003, Chính phủ là cơ quan hành pháp của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, quản lý thống nhất thi hành trong lĩnh vực thuộc Nhà nước bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng an ninh và ngoại giao. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm: văn phòng chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ do Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. 2.1.1. Hoạt động của văn phòng chính phủ. Văn phòng chính phủ là một cơ quan ngang bộ trong chính phủ Lào, là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ và các phó thủ tướng trong việc kiểm soát hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phướng phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận xây dựng tổ quốc và tổ chức xã hội; quản lý, điều hành, đảm bảo an ninh và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho hoạt động của Chính phủ, thủ tướng chính phủ và các phó thủ tướng chính phủ 2.1.2. hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ. Bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm trước Chính phủ và phó thủ tướng người chỉ đạo mảng quản lý nhà nước trong của mình. 2.2. Thực trạng triển khai chính phủ điện tử tại CHDCND Lào. 2.2.1. Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng. Chính phủ Lào đã thực hiện dự án CPĐT, ban đầu đã giao cho bộ khoa học và công nghệ thực hiện, hiện nay đã chuyển giao cho bộ bưu chính viễn thông do sử dụng nguồn vốn của Trung Quốc là vốn vay lãi suất thấp. Dự án 15
  16. này có giới hạn 3 năm đã hoàn thành cơ bản về việc xây dựng hạ tầng cơ sở và phần mềm cơ bản trong giai đoạn giai đoạn 1 (2007 – 2009) có giá trị đầu tư 280.000 hoặc 36.745.407 $ nhưng thực tế thực tế dự án bị kéo dài thành 5 năm và kết thức trong năm 2011. mục tiêu của dự án gồm có: - Xây được trung tâm nghiên cứu, phát triển và điều hành CPĐT. - Tự động hóa và hiện đại hóa xử lý thông tin. - Có khả năng kết nối hệ thống mạng máy tính giữa các phòng ban với nhau. - Cung cấp công cụ cho các phòng ban trong việc phổ biến thông tin trong nước và quốc tế. - Xây dựng trung tâm dịch vụ thông tin và cơ sở vật chất để nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin của chính phủ thuận tiện hơn. - Thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ nhân dân phải đến các quan nhà nước thành dịch vụ trực tuyến, tiết kiệm chi phí và thời gian cho dân. - Xây dựng quy chế để tạo niềm tin trong việc ứng dụng CNTT và áp dụng CPĐT - Đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý và điều hành song song vơi việc nâng cao nhận thức và tập huấn cách thức ứng dụng cho các phòng ban và xã hội. Xây dựng hệ thống phần mềm CPĐT gồm có: cổng thông tin quốc gia (National portal) có tên là: http://www.laopdr.gov.la/ là hệ thống dữ liệu điện tử tập hợp dữ liệu của các cơ quan có khả năng triển khai thông tin của mình qua internet. Ngoài ra còn có hệ thống phần mềm làm cho văn phòng của các cơ quan hành chính Nhà nước có khả năng ứng dụng: hệ thống lưu trữ dữ liệu (E Archive); hệ thống kiểm soát và lưu trữ (E-Document tation); hệ thống đăng ký điện tử (E-Registration); hệ thống bản đồ điện tử (E-map), hệ hống học qua mạng (E- learning portal), hệ thống tổ chức cuộc họp từ xa (Tele conference system), hệ thống trò chuyện điện tử, hệ thống tìm kiếm các dữ liệu và phần mềm duyệt virus. 16
  17. Tất cả đã cài đặt xong trong năm 2010. - Đã hoàn thành việc dịch tiếng Anh sang tiếng Lào trong hệ thống cơ sở dữ liệu từ vựng của Google ( Google CLDR Survey Tool) số lượng 6.000 từ hoặc câu của tổ chức Unicode để ứng dụng vào các hệ thống máy tính và di động, tổng hợp từ ngữ tiếng Lào tất cả 3.814 câu và từ vựng trong từ điển Anh-Lào và Lào-Anh hơn 60.000 từ cho công ty Google theo kế hoạch phát triển và khuyến kích sử dụng tiếng Lào. 2.2.3. Hoạt động xây nâng cao trình độ CNTT cho cán bộ-công chức. Trong năm 2015 vừa qua Bộ bưu chính viễn thông Lào đã tạo điều kiện thuận lợi về mặt chuyên môn trong thực hiện dự án cùng nhau của các ngành bằng việc tư vấn, góp ý, cho suất tập huấn, hỗ trợ cho các ngành thực hiện dự án. - Tổ chức tập huấn cho cán bộ thực hiện dự án và một số nhân viên được 85 người ; tập huấn cập độ quốc gia được 2 lần và tỉnh 1 lần có người tham gia 800 người, tập huấn chuyên môn công nghệ thông tin cho cán bộ - công chức các ngành khác được 14 lần có người tham gia 250 người. Ngoài ra còn tổ chức tập huấn ngắn hạn 1 tuần cho người sử dụng được 14 lần có người tham gia 290 người. - Đã cử cán bộ chuyên môn đi tập huấn ở đại học alcatel cộng hòa Trung Hoa gồm có tập huấn về cơ sở hạ tầng 8 người, hệ thống mạng 8 người, ứng dụng các trang thiết bị được 20 người và điều hành cuộc họp từ xa được 20 người. - Đã hướng dẫn cách ứng dụng cụ thể ở các phòng ban được 10 đơn vị tổ chức của các bộ có hệ thống dữ liệu cán bộ, 4 phòng chính trị và 20 văn phòng chính quyền bản của thủ đô Viêng Chăn có cơ sở dữ liệu về công dân, 20 văn phòng hành chính nhà nước có hệ thống điều hành hồ sơ, tiếp nhận và trả lại hồ sơ, 30 văn phòng hành chính nhà nước có hệ thống lưu trữ văn bản điện tử, 5 văn phòng thử nghiệm dịch vụ đăng ký điện tử và 5 nhà trường đã ứng dụng hệ thống giáo dục học từ xa vào trong việc giảng dạy. Tổ chức tập huấn cho các văn phòng hành chính nhà nước trong nhiều 17
  18. nội dung. 2.2.4. Cung cấp dịch vụ công điện tử. Tổng hợp các trang web tiếng Lào hiện có hơn 1000 trang web, 20% các CQNN có trang web phổ biến thông tin Chính phủ trên mạng, tập trung phổ biến các điều lệ, quy tắc, các văn bản pháp luật... giúp cho công dân và doanh nghiệp truy cập thông tin Chính phủ. Lào vẫn còn tụt hậu quá lớn so với các nước về việc cung cấp dịch vụ công điện tử. Hiện nay phần lớn các dịch vụ công điện tử ở Lào chủ yếu ở mức độ 1, 2. 2.3. Đánh giá sự phát triển CPĐT của CHDCND Lào.. 2.3.1.Nhận thức về chính phủ điện tử. Các cấp lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người dân về vai trò, lợi ích của CPĐT chưa đầy đủ, dẫn đến lãnh đạo các cấp tham gia thúc đẩy, cán bộ, công chức, viên chức chưa quan tâm và sẵn sàng, người dân chưa thực sự nhập cuộc trong việc thực hiện các dự án liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT. Theo cuộc khảo sát đầu năm 2012 trong 120 CQNN cho thấy 50% của chưa biết hoặc chưa hiểu về CPĐT, có nhiều hơn 80% của các CQNN chưa từng áp dụng CPĐT. 2.3.2. Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. Hệ thống hạ tầng mạng của các cơ quan chính phủ vẫn còn hạn chế về dung lượng, tốc độ, an toàn thong tin, cũng như các chuẩn kỹ thuật,chưa đáp ứng được yêu cầu trao đổi thông tin ngày càng tăng giữa các cơ quan chính phủ và cung cấp thông tin, dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp. Hạ tầng viễn thông và Internet của Lào vẫn thuộc vào một trong những nước kém phát triển. Khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, giữa những nhóm người thu nhập khác nhau, giữa Lào và các nước trong khu vực đang có xu thế dãn ra. 18
  19. 2.2.3. Môi trường pháp lý.. Năng lực xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật lien quan đến lĩnh vực CNTT & TT còn nhiều hạn chế, đầu mối quản lý về việc rà soát, điều chỉnh và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật ứng dụng CNTT & TT vẫn còn tản mạn, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bị chậm trễ. 2.2.4. Bí mật và an toàn thông tin. Thời gian qua Đảng và nhà nước Lào đã nỗ lực phát triển hạ tầng viễn thông từ Trung ương xuống cơ sở và cải thiện kết nối mạng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng đến nay chưa có nhiều dịch vụ trực tuyến được cung cấp qua mạng yêu cầu bí mật và an toàn thông tin cao, ngoài số ngành tài chính, ngân hàng, có nhu cầu thiết yếu an toàn, an ninh thông tin khi trao đổi thông tin qua các dịch vụ trên mạng và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và các doanh nghiệp. 2.2.5.Thiếu nguồn vốn, nguồn nhân lực cao cấp. Cũng giống như bất kỳ một dự án cơ sở hạ tầng nào của CPĐT, CPĐT có thể được thực hiện theo nhiều giai đoạn và chi phí cho việc triển khai dự án sẽ phụ thuộc vào mức sẵn sàng của cơ sở hạ tầng hiện nay, vào năng lực của nhà cung cấp và người sử dụng cũng như phương thức cung cấp dịch vụ (thông qua Internet, qua đường điện thoại trực tuyến hoặc thông qua cửa hàng “một cửa”. Các dịch vụ mà chính phủ muốn cung cấp càng phức tạp, tinh vi thì chi phí cho chúng càng lớn. Do thiếu ngân sách đã làm cho nhiều dự án viễn thông không hoàn thành theo kế hoạch như: dự án trung tâm phát sóng số 2 và 3, trung tâm Internet Phụ số 2 và dự án CPĐT giai đoạn 1. 2.2.6. Cải cách hành chính chậm với phương thức điều hành lạc hậu. Hiện ở CHDCND Lào chưa xác định thực sự rõ ràng cơ quan cụ thể nào chịu trách nhiệm chủ đạo việc triển khai CPĐT, có cả văn phòng Chính phủ, Bộ 19
  20. bưu chính viễn thông, một số cơ quan khác nữa…đều tham gia triển khai CPĐT. Các nguyên nhân cơ bản được chỉ ra: Nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất là công tác tuyền truyền về CPĐT chưa được triển khai mạnh mẽ nên các cấp lãnh đạo nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và viên chức chưa nhận thức đúng đắn về những lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động của Chính phủ. Nguyên nhân thứ hai, các đề án ứng dụng CNTT không có các mục tiêu rõ ràng, phạm vi cụ thể, không xác định được trọng tâm, trọng điểm dựa trên việc đánh giá nhu cầu thực tế một cách nghiêm túc. Nguyên nhân thứ ba, do Internet là một lĩnh vực mới mẻ ở Lào nên hiện nay hệ thống pháp luật vẫn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của CPĐT. Nguyên nhân thứ tư, Hệ thống hạ tầng CNTT & TT ở Lào chưa đồng bộ. Hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp, cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu đặc tả (Metadata) vẫn chưa được hoàn thiện. Nguyên nhân thứ năm, trình độ sử dụng CNTT của nhân dân, công chức, viên chức trong hệ thống bộ máy nhà nước còn hạn chế. Nguyên nhân thứ sáu, dịch vụ công chưa được điện tử hóa, chủ yếu vẫn ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, và chưa chia sẻ thông tin trên diện rộng. Tỉ lệ các văn bản điện tử được trao đổi qua mạng còn hạn chế; việc điều hành, xử lý công việc qua mạng còn chưa nhiều. Nguyên nhân thứ bảy, chất lượng bảo mật thông tin còn nhiều yếu kém. Nguyên nhân thư tám, Lào là nước đi sau, khoa học kỹ thuật và công nghệ về lĩnh vực CNTT & TT chưa phát triển. Do vậy kinh nghiệm về phát triển CPĐT của Lào còn rất hạn chế. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản