intTypePromotion=1

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai

Chia sẻ: Hinh Duyệt | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
4
lượt xem
1
download

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn được kết cấu thành 3 chương: Cơ sở lý luận về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch của chính quyền cấp tỉnh; Thực trạng quản lý nhà nước đối với du lịch trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRẦN TRUNG KỲ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TẠI TỈNH GIA LAI Chuyên ngành: Quản lý công Mã số : 60 34 04 03 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG ĐẮK LẮK – NĂM 2017
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Khắc Tuấn Phản biện 1: TS. Phạm Đức Chính Phản biện 2: TS. Lương Thanh Sơn Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính Quốc gia, Phân viện khu vực Tây Nguyên. Địa điểm: Phòng 3, Phân viện khu vực Tây Nguyên Số:51- Đường Phạm Văn Đồng- Thành phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk. Thời gian: vào hồi: 09h-30,ngày 29 tháng 5 năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
  3. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, được coi là một ngành kinh tế mang tính tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hoá và xã hội giữa các địa phương, giúp nâng cao hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, hoà bình giữa các dân tộc, vùng miền. Đối với nước ta hiện nay, du lịch góp phần không nhỏ vào việc thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Thu nhập từ hoạt động Du lịch Việt Nam ngày càng cao, trong thời gian gần đây, hàng năm tổng thubình quân từ ngành Du lịch đạt hơn 300.000 tỷ đồng, đóng góp trên 7% GDP/năm và tạo ra 2,5 triệu việc làm cho người lao động. Du lịch đang dần trở thành một ngành “công nghiệp không khói”, đóng vai trò quan trọng trong hiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Nắm bắt được xu thế đó, trong quá trình đổi mới và hội nhập, Đảng và nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, quan điểm hết sức đúng đắn để phát triển du lịch. Nghị quyết Đại hội Đảng các khóa IX, X và XI đều xác định quan điểm Phát triển du lịch bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, qua đó góp phần thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 30/12/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2473/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, mục tiêu của chiến lược là phấn đấu đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.Riêng năm 2016 Việt Nam đón 10 triệu lượt khách, tăng hơn năm 2015 lên đến 2 triệu lượt khách.Lợi nhuận sau thuế lên đến trên 7 tỷ USD đó là tín hiệu đáng mừng của ngành Du lịch không khói. Ngay đầu
  4. năm 2017 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết Số 08- 2017/NQ/BCT ngày 17 tháng 1 năm 2017 của Bộ Chính trị về việc đưa mục tiêu du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triễn của ngành, lĩnh vực khác. Theo Nghị quyết này của Bộ Chính trị, ngành du lịch Việt Nam nhắm tới mục tiêu thu hút 17 đến 20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa; đóng góp trên 10% GDP đến năm 2020. Cùng với đó, tổng thu từ khách du lịch đặt mục tiêu 35 tỷ USD; giá trị xuất khẩu thông qua du lịch đạt 20 tỷ USD; tạo ra 4 triệu việc làm. Trong những năm gần đây, hòa nhịp với công cuộc đổi mới đất nước tiến trình hội nhập quốc tế, ngành du lịch Gia Lai đã nỗ lực vượt qua khó khăn, huy động nội lực và tranh thủ nguồn lực quốc tế để phát triển. Nhờ đó đã góp phần tích cực vào việc tăng trưởng kinh tế, giữ gìn và phát huy sức sống bản sắc văn hóa cũng như giá trị truyền thống của các dân tộc đang sinh sống tại Gia Lai giải quyết các vấn đề xã hội của Gia Lai. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành du lịch Gia Lai cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập trên nhiều mặt, trong đó có công tác quản lý nhà nước về du lịch của chính quyền các cấp của nghành Văn hóa,Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai. Điều này đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Gia Lai hàng loạt vấn đề phải giải quyết. Là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, Gia Lai có nhiều nét tương đồng về tài nguyên du lịch với các tỉnh bạn.Vấn đề đặt ra cho các tỉnh Tây Nguyên còn lại và Gia Lai nói riêng là làm cách nào để sản phẩm du lịch mỗi tỉnh thật sự phong phú và hạn chế trùng lắp.Việc xác định lợi thế của du lịch địa phương, ưu tiên đầu tư loại hình du lịch nào đang là bài toán khó cho những nhà hoạch định chiến lược phát triển kinh tế dulịch. Từ nhận thức vai trò, vị trí của Du lịch đối với sự nghiệp phát triễn KT-XH của tỉnh. Ban thường vụ tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 26/8/2008 về phát triễn Du lịch. Đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Nghị quyết đã xác định mục tiêu phát triễn ngành Du lịch nhanh bền vững, đến năm 2020 ngành Du lịch là một trong những ngành Kinh tế quan trọng của tỉnh, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế. Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Quản lý Nhà nước về Du lịch tại tỉnh Gia Lai” làm
  5. đề tài nghiên cứu luận văn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn: Các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch từ trước đến nay đang là đề tài được nhiều cơ quan ban ngành, học giả quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học có giá trị và thực tiễn góp phần ứng dụng vào việc tăng cường quản lý pháp triễn du lịch trên phạm vi cả nước nói chung và Gia Lai nói riêng. Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình đã công bố. Sau đây là những công trình điển hình: - Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995) “Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của ngành du lịch trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam, đánh giá thực trạng QLNN về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về du lịch. Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu vấn đề QLNN về du lịch ở một địa phương cụ thể. - Trịnh Đăng Thanh (2004) “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL trước yêu cầu mới. Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu toàn diện vấn đề QLNN đối với HĐDL nói chung và ở từng địa phương nói riêng. - Nguyễn Minh Đức (2007), “Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình CNH, HĐH”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch ở một địa phương cụ thể. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ QLNN về thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch thuộc khu vực Tây Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh miền núi, trong đó có tỉnh Sơn La, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, tiềm năng phát triển du lịch khác nhiều so với khu vực Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Gia Lai
  6. - Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995) “Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của ngành du lịch trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam, đánh giá thực trạng QLNN về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về du lịch. Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu vấn đề QLNN về du lịch ở một địa phương cụ thể. - Nguyễn Thị Doan ( 2015) „ Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội Luận văn kinh tế, đại học kinh tế Quốc dân. Đây là một công trình nghiên cứu Luận văn đã hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch và doanh nghiệp du lịch; tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội hiện nay dưới các góc độ: tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, tổ chức các doanh nghiệp du lịch, thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội. Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá về thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức và các giải pháp về chính sách vĩ mô, cũng như các kiến nghị đối với các cấp có thẩm quyền từ Trung ương đến chính quyền và các ban ngành của Thành phố Hà Nội. - Nguyễn Đức Hoàng ( 2013) “ phát triễn du lịch Gia Lai” Luận văn thạc sĩ Kinh tế, đại học Đà Nẵng đây là một đề tài rất quan trọng, rất bổ ích đôi với ngành Du lịch Gia Lai, đây cũng là câu trả lời về sự phát triễn của Du lịch Gia Lai từ trước tới nay, luận văn đã chỉ ra những mặt ưu và nhược điểm những mặt còn tồn tại trong việc phát triễn du lịch cũng như quản lý nhà nước về du lịch Các công trình nêu trên là nguồn tư liệu quý để đề tài tham khảo và kế thừa. Tuy nhiên, Đề tài: "Quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai" là một đề tài không trùng lặp, mang tính đặc thù riêng, chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích: Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của Gia Lai, đề xuất được phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhằm thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đáp
  7. ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn xác định có những nhiệm vụ sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trong điều kiện đổi mới hiện nay ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Gia Lai nói riêng, sự cần thiết phải quản lý nhà nước về du lịch tại Gia lai. - Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Gia Lai, nhằm khai thác có hiệu quả lợi thế tiềm năng du lịch của tỉnh giai đoạn 2015-2020. - Đưa ra một vài nhận định, dự báo về xu hướng phát triển du lịch Gia Lai gia đoạn 2015 đên 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. - Đánh giá và phân tích những vấn đề nổi bật làm rõ những thành tựu cũng như hạn chế trong việc phát triển Du lịch Gia Lai,dưới sự tác động của công tác quản lý. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia lai.Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quá trình và hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi chính quyền địa phương tỉnh - huyện - phường, xã. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai từ năm 2011 đến nay; phương hướng, giải pháp quản lý và phát triển du lịch Gia Lai đến 2020. Hoạt động kinh doanh du lịch ở đây được hiểu là các hoạt động kinh tế tương tác giữa các chủ thể tham gia vào các dịch vụ thuộc ngành du lịch diễn ra trên địa bàn khảo sát ở tỉnh Gia Lai. Các chủ thể đó bao gồm: các cơ sở kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng, tham quan, khai thác tour, nhà hàng, bán đồ lưu niệm…; khách du lịch; các tổ chức hiệp hội về du lịch. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn: 5.1. Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối quan điiểm của Đảng và Nhà nước về phát triễn kinh tế,thể hiện trong văn kiện Đại hội đại biể toàn quốc của Đảng,các văn bản pháp
  8. luật đã ban hành,đặc biệt là luật Du lịch,luật di sản Văn hóa, luật bảo vệ môi trường và các văn bản luật khác 5.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống, đánh giá, dự báo; phương pháp chuyên gia. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn: - Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn một tỉnh, lấy Gia Lai làm điển hình. - Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia lai giai đoạn từ 2011 đến nay, làm rõ những điểm tích cực, hạn chế và nguyên nhân. - Đề xuất được những giải pháp cơ bản, có khả năng áp dụng trong thực tiễn, góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch Gia Lai trong thời gian tới. - Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá nhân trong việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển du lịch nói chung và du lịch Gia Lai nói riêng. - Đề tài “Quản lý nhà nưc về du lịch tại tỉnh Gia Lai" làm cơ sở cho các doanh nghiệp định hướng trong đầu tư sản phẩm, liên kết phát triển, đồng thời hỗ trợ cho cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cũng như các cấp, ngành liên quan xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho hoạt động kinh doanh Du lịch 7. Cấu trúc của đề tài nghiên cứu Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng, biểu, sơ đồ và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch của chính quyền cấp tỉnh Chương II: Thưc trạng quản lý nhà nước đối với du lịch trên địa bàn tỉnh gia lai Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh gia lai
  9. CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH 1.1.1. Khái niệm du lịch và một số khái niệm liện quan Khái niệm du lịch: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa‟‟ [14, tr9] Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới của Liên Hợp Quốc (UNWTO): Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư . Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14-6-2005 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.[21,tr. 1] Khái niệm hoạt động du lịch Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam thời gian một vài thập kỷ gần đây, Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14-6-2005 đưa ra khái niệm hoạt động du lịch như
  10. sau: "Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch" . [21, tr.1] Khái niệm khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến [21, tr.1] Khái niệm tài nguyên du lịch:Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [21, tr.1] Khái niệm khu du lịch: Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường. [21, tr.1] Khái niệm điểm du lịch: Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.[21, tr.1 ] Khái niệm tuyến du lịch:Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không. [21, tr. 1] Khái niệm sản phẩm du lịch:Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. [21, tr.1] Khái niệm dịch vụ du lịch: Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.[21,tr. 1] Khái niệm cơ sở lưu trú:Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu. [21, tr.1] Khái niệm lữ hành du lịch: Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch.[21, tr.1] Khái niệm hướng dẫn du lịch: Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo chương trình du lịch. [21, tr. 1]
  11. 1.1.2.Đặc điểm của du lịch Xuất phát từ các khái niệm về du lịch và HĐDL, có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu của du lịch như sau: Một là, du lịch mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ. Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, bởi vậy sản phẩm của nó vừa mang những đặc điểm chung của dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng mà các ngành dịch vụ khác không có. Hai là, du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch. Dịch vụ du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân. Dịch vụ du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi giải trí, thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác. Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại. Ba là, việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian. Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (thức ăn, đồ uống chế biến tại chỗ...) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng. Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng hóa. Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết sức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những đặc thù riêng. Bốn là, du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội cho nước làm du lịch và người làm du lịch. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới du lịch không những đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội... Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế. Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành
  12. du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Do đó, dịch vụ du lịch ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia làm du lịch và cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh du lịch. [14, tr. 25] Năm là, du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định. Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội. Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc. Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động kinh doanh du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên. Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh du lịch phát triễn. Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình. Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị. Và hơn thế nữa, không cần phải có chiến tranh mà chỉ cần có những biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa phương với mức độ nhất định cũng làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và muốn khôi phục phải có thời gian. 1.4. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH 1.4.1. Quan niệm và đặc điểm về quản lí nhà nƣớc về du lịch trong sự phát triển đất nƣớc a) Khái niệm quản lý và quản lý Nhà nước: Quản lý là sự tác động có chủ đích, có định hường của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đề ra.[30,trr.18].Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triễn xã hội. b) Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch: Quản lý nhà nước về du lịch xuất phát từ lý luận chung về quản lý nhà nước như trên, chúng ta có thể hiểu Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh liên tục bằng quyền lực nhà nước chủ yếu thông
  13. qua pháp luật dựa trên nền tảng của thể chế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động du lịch nhằn đạt được hiệu quả và mục đích kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra. 1.4.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với du lịch Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý du lịch diễn ra trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,... và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý du lịch. Hai là, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch... phát triển du lịch là cơ sở, là những công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lý du lịch. Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch... và dùng các công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch. Ba là, QLNN đối với du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có trình độ, năng lực thật sự. QLNN đối với du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi du lịch phát triển. Bốn là, QLNN đối với du lịch còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật... trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ quản lý. Nền kinh tế thị trường với những quan hệ kinh tế rất đa dạng và năng động đòi hỏi có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt khi vấn đề toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là mục tiêu mà các quốc gia hướng tới 1.7. Kinh nghiệm Quản lý nhà nƣớc về du lịch của các tỉnh,thành phố và một số bài học cho công tác Quản lý nhà nƣớc về du lịch của Gia Lai 1.7.1 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An 1.7.2. Kinh nghiệm của Thành phố Cần Thơ 1.7.3. Kinh nghiệm của tỉnh Đak Lak 1.7.4 Bài học rút ra cho Gia Lai
  14. Tiểu kết chƣơng I CHƢƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI 2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh và phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011 đến 2015 2.1.1.Điều kiện, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Gia Lai tác động đến du lịch 2.2. Tóm tắt những kết quả đạt đƣợc và hạn chế của thực trạng phát triển du lịch tỉnh Gia Lai trong thời gian qua. - Kết quả đạt được + Nhận thức về vị trí, vai trò ngành du lịch đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của các cấp ủy, chính quyền ngày càng được nâng cao, đặc biệt kể từ khi Tỉnh ủy Gia Lai ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 26/8/2008 về phát triển du lịch đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. + Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ngày càng được hoàn thiện theo hướng hiện đại hơn + Các chỉ số tăng trưởng về du lịch: lượt khách, doanh thu, GRDP, lao động... có xu hướng ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực. + Hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, nhà hàng phục vụ du lịch phát triển nhanh tại các khu vực đô thị và các trung tâm cụm du lịch. - Tồn tại và nguyên nhân: - Đầu tư du lịch chưa tương xứng với tiềm năng; sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với du khách, nhất là du khách quốc tế; thiếu các loại hình dịch vụ chất lượng cao như khu vui chơi hiện đại, khu giải trí cao cấp, hệ thống mua sắm... để thu hút khách đến vui chơi giải trí và mua sắm; chất lượng cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn hạn chế. - Công tác quản lý tài nguyên du lịch bị buông lỏng trong giai đoạn khá dài làm cho nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh bị suy kiệt, nhất là tài nguyên rừng, thắng cảnh, di tích lịch sử.. - Thị trường du lịch chưa được mở rộng, đặc biệt là thị trường khách du lịch quốc tế.
  15. - Hoạt động lữ hành còn yếu. Chưa có những doanh nghiệp kinh doanh lữ hành chuyên nghiệp, có mối quan hệ với các thị trường gửi khách chính trong và ngoài nước để khai thác nguồn khách. - Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch chưa đáp ứng yêu cầu; các hoạt động quảng bá chưa thường xuyên, chưa phong phú về hình thức; công tác thông tin du lịch chưa được chú trọng... - Cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển du lịch chưa thật sự hấp dẫn, thông thoáng, đặc biệt là vấn đề giao đất, giải phóng mặt bằng của dự án, chưa tạo được hành lang thuận lợi thu hút đầu tư du lịch. - Cơ sở hạ tầng du lịch chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông đến các điểm du lịch ở các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch để thu hút khách. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ của lực lượng lao động trong ngành du lịch còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu về nghiệp vụ, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch. - Công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh còn hạn chế và chậm được đổi mới. Tại các địa phương cấp huyện bộ máy quản lý nhà nước về du lịch chưa được kiện toàn, cán bộ còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. - Đóng góp của GRDP du lịch còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GRDP địa phương và GRDP ngành dịch vụ của tỉnh. 2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 2011 ĐẾN NAY Thực trạng được phân tích một cách toàn diện và đầy đủ về những thuận lợi và hạn chế, bất cập giúp cho việc đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai được thuận lợi hơn. Quan tâm đến những hạn chế và bất cập và các thành quả đạt được, tác giả Luận văn đi tìm nguyên nhân của những hạn chế, bất cập cùng các thách thức trong thời gian tới. Dựa vào thực tiễn đó, làm cơ sở để định hướng và đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Gia Lai trong thời gian tới.
  16. 2.3.1. Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật, biện pháp liên quan của Nhà nước Những quy định trong Luật Du lịch về cơ bản đã tiếp cận được với Luật Du lịch của nhiều nước trên thế giới, tạo nên những nền tảng vững chắc để thu hút các doanh nghiệp du lịch nước ngoài đầu tư, hợp tác kinh doanh với Việt Nam, đồng thời thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam. 2.3.2.Thực hiện xây dựng và triễn khai chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch Nhận thức được những tiềm năng to lớn của du lịch Gia Lai nên công tác xây dựng và quản lý quy hoạch thời gian qua cũng đã sớm được thực hiện và hàng năm có tổng kết đánh giá để có phương án điều chỉnh kịp thời. Ban thường vụ tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 26/8/2008 về phát triễn du lịch. 2.3.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về du lịch, thực hiện các chức năng quản lý nhà nƣớc về du lịch Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh thực địa bàn. Quản lý và giám sát các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, đặc biệt là dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành. 2.3.4 Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực giải quyết các thủ tục hành chính như đăng ký, cấp phép, ban hành và triển khai thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn của ngành du lịch Có thể nói Gia Lai là một trong các tỉnh có các chính sách ưu đãi trong đầu tư phát triển du lịch. tư, khuyến khích đầu tư, khu du lịch trên địa bàn tỉnh.Nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhằm tạo bước chuyển biến đột phá trong phát triễn du lịch của tỉnh nhà 2.3.5. Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch Nguồn nhân lực du lịch là nhân tố quyết định đến chất lượng sản phẩm du lịch, quyết định đến sự phát triển của ngành du lịch. 2.3.6. Thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát tuân thủ pháp luật, chính sách, quy chuẩn về du lịch và xử lý vi phạm, khen thưởng trong lĩnh vực du lịch Công tác quản lý kiểm tra giám sát về hoạt động kinh doanh du lịch cũng được tăng cường. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều hội nghị tập huấn pháp luật, chính sách mới liên quan đến hoạt động du lịch
  17. 2.3.7. Nguồn tài chính cần thiết để sử dụng cho đầu tư và hoạt động du lịch Trên cơ sở dự toán chi tiết kinh phí thực hiện của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài chính rà soát, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Tham gia xây dựng quy chế quản lý kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí của kế hoạch. 2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC VÀ CHƢA ĐẠT ĐƢỢC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH TẠI TỈNH GIA LAI Thứ nhất, công tác tuyền truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực du lịch từ tỉnh đến cơ sở được chú trọng Thứ hai công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh có sự đổi mới cả về nội dung, phương pháp và tổ chức thực hiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh của mình sát hợp với thị trường và phù hợp với định hướng phát triển chung của địa phương Thứ ba, công tác sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được quan tâm thực hiện theo phương án, kế hoạch đã đề ra Thứ tư,công tác tạo lập sự gắn kết liên ngành, liên vùng, liên quốc gia trong hoạt động kinh doanh du lịch, giữa địa phương và trung ương trong quản lý nhà nướcvề du lịch có sự chuyển biến tích cực. Thứ năm,công tác đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch được tăng cường Thứ sáu,công tác kiểm tra, thanh tra đối với du lịch được duy trì thường xuyên Những hạn chế : Công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch nói chung, trong lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói riêng, từng lúc, từng nơi chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Công tác quản lý các khu, điểm du lịch trên địa bàn còn chồng chéo. Phạm vi thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch chưa được xác định rõ ràng. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh du lịch và xử lý vi
  18. phạm trong lĩnh vực du lịch mặc dù được chính quyền tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện, nhưng nhìn chung còn nhiều bất cập, hiệu quả mang lại không cao, công tác xử lý sau kiểm tra, thanh tra từng lúc, từng nơi chưa dứt khoát, còn để kéo dài, việc tố cáo, khiếu nại trong lĩnh vực du lịch còn diễn biến phức tạp Tiểu kết chƣơng II CHƢƠNG III GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH TẠI TỈNH GIA LAI 3.1. DỰ BÁO PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH VÀ QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI ĐẾN NĂM2020 3.1.1. Xu hƣớng phát triển du lịch trên thế giới trong thời gian tới Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc dự báo ngành du lịch Châu Á - Thái Bình Dương sẽ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng trưởng trung bình 6,5% hàng năm trong 15 năm tới (tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của ngành du lịch thế giới trong thời gian này là 4,1%). 3.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về phát triển du lịch Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng năm 1991 đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến phát triển du lịch. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng ghi rõ: "Nhà nước và xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế". Năm 1994, khi Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về phát triển du lịch trong tình hình mới nhằm tập trung chỉ đạo phát triển du lịch. Năm 1998, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Bộ Chính trị họp chuyên đề về du lịch và ban hành Thông báo Kết luận số 179-TB/BCT, trong đó nêu rõ ý kiến chỉ đạo về tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của đất nước. Nghị quyết 92 của TW Đảng về một số giải pháp đẩy mạnh phát triễn du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới. 3.1.3. Mục tiêu phát triển du lịch trên địa bàn Gia Lai huy động tổng hợp mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước
  19. và nước ngoài để khai thác một cách có hiệu quả các tiềm năng du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển nhanh và bền vững, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh.Phát triển du lịch kết hợp chặt chẽ với củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh không để các thề lực thù địch thông qua con đường du lịch để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm gây rối, bạo loạn chia rẽ đoàn kết dân tộc nhằm lật đỗ sự lãnh đạo của Đảng. Phát triển thành phố PleiKu thành trung tâm du lịch du lịch của khu vực Tây Nguyên với các hình thức dịch vụ chất lượng cao. phấn đấu đến năm 2020 trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh 3.1.4. Các quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về du lịch trên địa bàn tỉnh Gia Lai Để đạt được mục tiêu phát triển du lịch nói trên, quản lý nhà nước về du lịch phải được hoàn thiện với phương hướng chung là: "Tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính toàn diện về bộ máy tổ chức, thể chế và thủ tục hành chính". 3.2. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH TẠI TỈNH GIA LAI 3.2.1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, chính sách về du lịch Việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các cơ chế, chính sách về du lịch phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thông qua nhiều hình thức như: xây dựng chuyên mục phát trên các đài phát thanh - truyền hình tỉnh, huyện, thị, thành phố; đăng tải nội dung trên báo Gia Lai, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, các tạp chí chuyên đề, tài liệu sinh hoạt tổ nhân dân tự quản. 3.2.2. Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước đối đối với du lịch; tăng cường sử dụng các công nghệ thông tin hiện đại, khai thác hiệu quả Internet, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác quản lý nhà nước về du lịch. Sử dụng cán bộ đúng khả năng và trình độ chuyên môn được đào tạo để phát huy sở trường, kiên quyết thay thế những cán bộ có phẩm chất kém và năng lực yếu. Đổi mới cách thức đánh giá cán bộ.
  20. 3.2.3 Tăng cường sự phối hợp giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với các sở, ngành khác trong QLNN đối với ngành du lịch cũng như trong việc tham mưu cho UBND tỉnh về QLNN đối với du lịch trên địa bàn. Quy chế phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Giao thông vận tải và UBND huyện, thị, thành phố trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, kế hoạch đầu tư KCHT, CSVC-KT du lịch tại các khu, điểm du lịch. Thường xuyên kết hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương, các đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch nhằm nâng cao nhận thức xã hội về du lịch. 3.2.4 Cần có chính sác bảo vệ tài nguyên môi trƣờng, bảo vệ rừng và yếu tố xã hội trong du lịch Giải quyết tốt vấn đề đào tạo việc làm và đem lại lợi ích cho người dân địa phương, người dân sẽ có trách nhiệm cùng với doanh nghiệp và chính quyền địa phương bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh, sạch, ñẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh để tạo sự hấp dẫn du lịch. 3.2.5. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dƣỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dƣỡng phát triển nguồn nhân lực cho ngành Du lịch ở tỉnh Gia Lai Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo trình và kế hoạch giảng dạy. Chuẩn hóa và bổ sung đội ngũ giáo viên tại các cơ sở đào tạo; mặt khác, cần tạo điều kiện để các cán bộ khoa học có trình độ, đã và đang hoạt động nhiều năm trong ngành du lịch, trong các doanh nghiệp du lịch lớn tham gia giảng dạy. Ngoài ra, có thể mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, bồi dưỡng nghiệp vụ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến cho lực lượng lao động trong hệ thống khách sạn, lữ hành, thông tin quảng cáo và tiếp thị Công tác đào tạo nguồn nhân lực phải vừa đảm bảo chất lượng chuyên môn, vừa đảm bảo sự hiểu biết về văn hoá du lịch để nâng cao chất lượng phục vụ du khách. Xây dựng và thực hiện cơ chế thi tuyển, tuyển chọn cán bộ và sử dụng cán bộ đúng khả năng và trình độ chuyên môn được đào tạo để phát huy sở trường, dần loại bỏ những cán bộ có phẩm chất đạo đức kém và năng lực chuyên môn yếu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản