intTypePromotion=1

7 bài văn mẫu phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyến Tuân

Chia sẻ: Nguyễn Ngọc Tiến | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:23

0
327
lượt xem
57
download

7 bài văn mẫu phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyến Tuân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hình ảnh người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả như một người anh hùng trên vùng sông nước rất gan dạ, dũng cảm gần hai mươi năm chiến đấu với thác đá sóng nước sông Đà để tồn tại. Ông chính là thứ vàng mười của vùng đất Tây Bắc hùng vĩ. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu 7 bài văn mẫu phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyến Tuân dưới đây để cảm nhận rõ hơn về người lái đò bình thường nhưng lại toát lên vẻ thơ mộng, chất nghệ sĩ qua ngòi bút của Nguyễn Tuân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: 7 bài văn mẫu phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyến Tuân

VĂN MẪU LỚP 12<br /> 7 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ <br /> QUA BÀI TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN <br /> TUÂN<br /> <br /> <br />  BÀI MẪU SỐ 1:<br /> <br /> <br /> Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại. Mỗi tác  <br /> phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người, với tư tưởng, tình  <br /> cảm gắn bó với đất nước quê hương. Nguyễn Tuân được người đọc đặc biệt chú ý về <br /> phong cách nghệ thuật rất riêng và rất độc đáo của ông. Người lái đò Sông Đà, đó là một <br /> bài tùy bút, cũng là một bài thơ  bằng văn xuôi đã thể  hiện được nhưng nét tiêu biểu về <br /> phong cách đó.<br /> Người lái đò sông Đà trước hết là một tác phẩm viết về  một con người và con <br /> sông. Nhưng dưới ngòi bút đầy hứng thú và tài hoa của ông mọi cảnh vật thiên nhiên đều  <br /> trở thành những công trình mĩ thuật, con ngưõri đều trở  thành những nghệ  sĩ điêu luyện  <br /> của mình.<br /> Bằng sự tiếp cận quan sát và khả năng mô tả cùng với một kho chữ nghĩa vô cùng  <br /> giàu có, chuẩn xác Nguyễn Tuân đã dựng lên những bức tranh hết sức sống động, những <br /> hình tượng kì vĩ giàu sức hấp dẫn trong thiên tùy bút rất độc đáo này.<br /> Người lái đò trên sông Đà trong tác phẩm, trước hết là một ông già 70 tuổi đã giành  <br />  một phần lớn đời mình cho nghề  lái đò dọc trên sông Đà. Đó là một người lái đò lão <br /> luyện: “Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi chỉnh tay giữ lái <br /> độ  sáu chục lần...” trong thời gian hơn chục năm làm cái nghề  đầy nguy hiểm và gian  <br /> khổ này.<br /> Đây là một con người từng trải, hiểu biết, rất thành thạo trong nghề  lái đò, và đã  <br /> đạt đến trình độ “bằng cách lấy mắt và nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào<br /> lòng đất tất cả  những luồng nước của tất cả  những con thác hiểm trở”. Nguyễn  <br /> Tuân tiếp tục bày tỏ sự khâm phục của mình đối với con người này: “Sông Đà, với ông <br /> lái đò  ấy, như  một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến  cả  những dấu chấm <br /> than,   chấm  câu  và   cả   những  đoạn  xuống   dòng”.   Thật  là   một  cách  so  sánh  “rất  văn <br /> chương” đầy thú vị và cũng “rất là Nguyền Tuân”.<br /> Hình tượng người lái đò với “cái đầu bạc quắc thước ấy đặt trên một thân hình cao <br /> to gọn quánh như  chất sừng, chất mun” và những cánh tay vẫn là cánh tay của một  <br /> “chàng trai”, “trẻ  tráng quá”, Nguyễn Tuân đã gọi đó là một thứ  “vàng mười”.  Ồng đã  <br /> đứng trước những thách thức của con sông Đà với thế  lực của những bãi đá ghê gớm, <br /> những cạm bẫy đầy kinh hoàng: khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa của một <br /> chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần  <br /> có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào <br /> nhỡ vào đường ngoặt sóng là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”.<br /> Và một mình một thuyền ông đã giao chiến như  một dũng sĩ: "... hai tay giữ  mái <br /> chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy <br /> quanh mình, ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo, võ khí trên cánh tay mình”, và sóng nước “thúc <br /> vào gối bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như <br /> đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não <br /> bạt”. Có lúc tưởng như ông lái đò bị nhấn chìm dưới dòng sông... Các miêu tả chân thực  <br /> và táo bạo này cho thấy sức mạnh ghê gớm của dòng thác hung dữ đối với con người, chỉ <br /> cần lóa mắt, lỡ tay một chút là phải trả giá bằng sinh mạng của mình.<br /> Nhưng dũng cảm và gan dạ  chưa đủ, mà cái quan trọng hơn là tài nghệ  cùa người <br /> cầm lái để lái con đò đến mức điêu luyện và nghệ thuật. Tác giả đã so sánh người lái đò  <br /> sông Đà với người lái xe lao xuống dốc đèo tuy rất nguy hiểm nhưng người lái xe còn có  <br /> phanh chân, phanh tay, có tiến lên, lùi lại “còn như cái thuyền mà lao xuống thác thì chả <br /> có cái phanh nào cả, chỉ  có lao đi chứ  không lùi lại, không lao trúng tim luồng nước thì <br /> thuyền quay ngang mà  ụp, chứ  không có lùi gì cả...” vẫn bằng phương pháp so sánh,  <br /> nhưng với những hình ảnh rất táo bạo, tác giả đã tả sông Đà thiên biến vạn hóa, mỗi chỗ <br /> như  có một cái bẫy nguy hiểm riêng, đòi hỏi người lái đò phải có một cách  ứng phó  <br /> riêng. Có chỗ thì nước sông “reo lên như đun sôi một trăm độ muốn hất tung cả một cái  <br /> thuyền đang phải đóng vào một cái nắp ấm nước đang sôi khổng lồ”. “Có luồng nước đi <br /> lầm vào thì chết ngay”. Lại có những “hút nước" xoáy sâu như lòng giếng “cái hút nó lút <br /> xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi”...<br /> Thật là một dòng sông Đà đầy hiểm trở, đầy gian nan cho con người. Thế  nhưng,  <br /> “ông lái đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cái cuống lái.. ”. Mặc dù mặt <br /> “méo bệch đi” vì những đòn hiểm, “nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ <br /> tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”.<br /> Rõ ràng qua cách miêu tả đến tột cùng sự dữ dội của con sông, Nguyễn Tuân nhắm  <br /> đến một mục đích lớn: ca ngợi sự  dũng cảm, tài trí của con người, ca ngợi sự  chiến  <br /> thắng vĩ đại của ông lái đò, đã vượt bao thác ghềnh, sóng to gió cả  đưa con đò về  đến <br /> bến bình yên, không phải chỉ  một lần, mà hàng trăm lần, suốt 15 năm làm người lái <br /> thuyền vượt sông Đà. Cuộc đọ  sức giữa con người đã chiến thắng; trở  về  cuộc sống  <br /> thanh bình: “thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh (...).  <br /> Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam...”<br /> Cảm hứng lãng mạn đậm đà trong sáng, lan tỏa trong từng câu văn tả thực, tạo cho  <br /> đoạn văn một sức lôi cuốn không thể  cưỡng nổi. Đó là một bài ca về  lao động, về  con  <br /> người lao động.<br /> Sau mười năm làm nghề  lái đò, cả  sau khi đã thôi nghề  vài chục năm, trên ngực <br /> người lái đò vẫn còn “bầm tụ” một “củ khoai nâu”, với Nguyễn Tuân, đó cũng là cái hình  <br /> ảnh quý giá của một thứ huân chương lao động siêu hạng”.<br /> Cảm  ơn nhà văn Nguyễn Tuân đã cho chúng ta thưởng thức một công trình nghệ <br /> thuật đầy sáng tạo. Ngoài việc cung cấp cho chúng ta những kiến thức về thức về cuộc  <br /> sống, về văn hóa và lịch sử địa lí, về ngôn ngữ... tác phẩm đích thực ấy còn là một khối <br /> kiến trúc thẩm mĩ độc đáo, giúp ta cảm thụ được cái đẹp một cách sâu sắc. Cái đẹp hùng  <br /> vĩ của thiên nhiên của tạo hóa và đặc biệt là cái đẹp của con người cụ thể, con người lao  <br /> động: Người lái đò sông Đà.<br /> Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ  sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi ca những  <br /> con người lao động gian lao nguy hiểm, nhưng đầy vinh quang.<br />  BÀI MẪU SỐ 2:<br /> <br /> <br /> Nguyễn Tuân là một người tài hoa, và đa tài. Những tác phẩm của ông đều mang <br /> những đặc điểm rất độc đáo không ai có thể  học theo. Và như  một điều rất tự  nhiên <br /> những lời lẽ  trong văn ông rất nghệ  thuật chứa đựng những kiến thức hiểu biết sâu  <br /> rộng. Những nhân vật trong các tác phẩm của ông nghiễm nhiên là một nghệ sĩ, và còn là <br /> những nghệ  sĩ tài hoa. Nhân vật ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của <br /> Nguyễn Tuân là một nhân vật như thế.<br /> Nguyễn Tuân đã khoác một chiếc áo mới vào văn chương của nền văn học Việt <br /> Nam, với những câu chuyện cũ nhưng cách khai thác mới đã khiến độc giả đón nhận. Và  <br /> trong tác phẩm “Người lái đò sông đà” dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, bức tranh  <br /> thiên nhiên sông Đà hiện lên vô cùng hung bạo, trữ tình có vị trí quan trọng. Điều này góp <br /> phần làm nên một tấm phông rất phù hợp để hình tượng người lao động ở trên núi rừng <br /> Tây Bắc nổi lên với hai phẩm chất, anh hùng và  nghệ sĩ. Và tiêu biểu là ông lái đò rất <br /> gan dạ, dũng cảm gần hai mươi năm chiến đấu với thác đá sóng nước sông Đà để  tồn <br /> tại.<br /> Có thể thấy ông là người có“tay lái ra hoa”. Qua những trang văn, hình ảnh ông lái  <br /> đò hiện lên đầy ấn tượng với những nét về ngoại hình đúng là một con người của sông <br /> nước: gần bảy mươi tuổi nhưng rất chắc khỏe    và được miêu tả  với “thân hình gọn <br /> quánh như chất sừng, chất mun”, “tiếng nói ào ào như sông nước”. “hai tay dài lêu nghêu <br /> như  cái sào lái đò”, “hai chân khuỳnh khuỳnh như  đang kẹp chặt cái cuống lái trong  <br /> tưởng tượng”…chỉ với những nét vẽ mộc mạc mang tính gợi vậy mà hình tượng ông lái <br /> đò như  là một anh hùng trên sông nước, vĩnh viễn đọng lại vào trái tim bạn đọc để  dự <br /> báo về nhân vật cả cuộc đời gắn với nghề lái đò và ông giống như một nghệ sĩ thực thụ.<br /> Bao nhiêu đam mê, yêu quý sông Đà của Nguyễn Tuân được gửi gắm vào nhân vật  <br /> ông lái đò,  chính vì thế nhà văn đã để nhân vật của mình gắn bó với sông Đà đến mức  <br /> máu thịt, ông lái đò có thể  hiểu và yêu dòng sông đến mức thuộc lòng từng tên thác tên <br /> ghềnh hơn một nghìn tên. Trong cách miêu tả của Nguyễn Tuân,   Ông  lái đò thuộc dòng <br /> sông như thuộc một “bản trường ca, thuộc đến từng dấu chấm dấu phẩy, dấu chấm than  <br /> và từng đoạn xuống dòng”. “Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá,  <br /> ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi  ải nước”. Chính vì thế  mà ông lái đò đã <br /> khuất phục, chế ngự được sự hung bạo của dòng sông Đà.<br /> Người lái đò là một người lao động bình thường bằng xương bằng thịt nhưng với  <br /> trí dũng song toàn nên ông vẫn chiến thắng thiên nhiên nghiệt ngã<br /> Mảng thứ hai mà Nguyễn Tuân muốn khắc họa đó chính là tính cách của ông lái đò. <br /> Nó cụ thể qua những cuộc giao tranh dữ dội với nước, sóng, gió và đã qua ba thạch trận.  <br /> Những trận chiến của người với thiên nhiên được miêu tả  một cách tỉ  mỉ  chi tiết.Trước <br /> hết là trùng vi thạch trận thứ nhất, người đọc đặc biệt ấn tượng với những câu văn tả đá  <br /> được nhân hóa như một đội quân: “đá tảng, đá hòn”..;, “đá tiền vệ” đã bày ra thạch trận  <br /> với năm cửa, có bốn cửa tử  và một cửa sinh. Bên cạnh đó, nhà văn sử  dụng một loạt  <br /> động từ  trùng điệp để  tô đậm sức mạnh của đội quân đá: “mai phục”, “nhổm cả  dậy”,  <br /> “đứng ngồi nằm tùy theo sở thích”. “ăn chết”, ‘cánh cửa”, “hất hàm’…Cộng hưởng với  <br /> những động từ  là những tính từ  làm nổi bật tính hung bạo: “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, <br /> “méo mó…Tất cả làm nổi bật thế và lực của đá sông vừa đông vừa mạnh hung tợn, ghê  <br /> sợ  tạo thành thế  không cân sức với ông lái đò chỉ  có một mình đơn phương độc mã để <br /> gieo vào lòng người đọc bao phấp phỏng, hồi hộp. Bên cạnh đá là nước, “phối hợp với  <br /> đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá”, tạo nên âm thanh dữ  dội tăng thêm không  <br /> khí chiến đấu ác liệt. Sóng nước biết tung ra các đòn đánh nguy hiểm như  đánh giáp lá  <br /> cà, đánh khuýp quật vô hồi, đá trái, thúc gối…<br /> Với sự hiểu biết rộng lớn của mình. Nguyễn Tuân đã mở mang tầm kiến thức của  <br /> người đọc. Tác giả sử dụng kho ngôn từ phong phú sinh động đầy ắp trong mọi lĩnh vực <br /> của sự sống, cả các ngôn ngữ quân sự thể thao, quân sự cũng được huy động với tần số <br /> đậm đặc để cực tả đá nước sông Đà. Và đây chính là nghệ thuật vẽ mây đẩy trăng gián <br /> tiếp ca ngợi chí dũng của ông lái đò. Nhà văn ca ngợi ông lái đò có sức chịu đựng phi  <br /> thường.<br /> Ở trùng vi thạch trận thứ hai, đá nước sóng tăng thêm nhiều cửa tử “dòng thác hùm <br /> beo đang hồng hộc tế  mạnh”, “bốn năm thủy quân không ngớt khiêu khích”…Những <br /> động từ mạnh vẫn tiếp tục được sử  dụng trên những trang văn cộng hưởng với phép tu <br /> từ  so sánh nhân hóa rất độc đáo. Những phép nghệ  thuật này giúp nhà văn biến sóng  <br /> nước thành hùm thiêng, sông nước tăng thêm sức mạnh để  tiếp tục tôn lên tư  thế  hào  <br /> hùng của ông lái đò.<br /> Khi miêu tả ông lái đò. Ông lái đò “không chút nghỉ tay, nghỉ mắt phá luôn vòng vây <br /> thứ  hai và đổi luôn chiến thuật”, “ông đò nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá,  <br /> ông đã thuộc hết quy luật phục kích của lũ đá” nên ông chủ động tự  tin nhanh nhẹn làm <br /> chủ  tình thế  “cưỡi lên thác sông Đà như  cưỡi hổ, nắm chặt bờm sóng, ghì cương lái,  <br /> phóng nhanh, chặt đôi thác để mở đường tiến. Lại với những động từ mạnh liên tiếp lại  <br /> khiến người đọc đi vào cuộc chiến của sóng nước để  từ  đó tôn vinh lên những nét đẹp  <br /> của ông lái đò đó là mưu trí, dũng cảm, kiên cường. Nguyễn Tuân miêu tả “bên phải, bên  <br /> trái đều là luồng chết” khiến ông lái đò phải vận dụng tài năng nghề  nghiệp của mình,  <br /> nâng thuyền của mình lên mặt nước như  nghệ  sĩ lái mô tô bay trong không trung để <br /> “xuyên qua mặt nước”…những động từ mạnh “vút” hay “xuyên” cộng với nhiều phép so <br /> sánh liên tiếp khiến người đọc vừa cảm nhận được độ nhanh mạnh vừa cảm nhận được <br /> độ  khéo léo của con thuyền trong hướng đi luồn lách tránh đội quân đá đông đúc. Cách  <br /> ông lái đò chế  ngự  những trận đồ  và nghệ  thuật lái thuyền đến đây khiến người đọc  <br /> hoàn toàn tâm phục, khẩu phục. Ông   đã đạt đến mức nghệ  sĩ trong nghề  nghiệp của <br /> mình.<br /> Qua “ Người lái đò sông Đà” chúng ta càng phải khẳng định Nguyễn Tuân đích thực  <br /> là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi ca những con người lao động trong gian  <br /> lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang, điển hình là hình tượng ông lái đò. Người dân lao <br /> động hiện lên với vẻ tài hoa và như một nghệ sĩ thực thụ với nghề của mình.<br />  BÀI MẪU SỐ 3:<br /> <br /> <br /> Nguyễn Tuân là một cây bút xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. "Người  <br /> lái đò Sông Đà" trích trong "Tùy bút Sông Đà" (1960). Đây là kết quả  chuyến đi thực tế <br /> đến với Tây Bắc năm 1958 để kiếm tìm "chất vàng" của thiên nhiên và chất vàng mười  <br /> trong tâm hồn con người. Đọc tác phẩm, ta bắt gặp hình  ảnh Sông Đà với hai nét tính <br /> cách hung bạo và trữ tình. Và nổi bật bên hình tượng ấy là người lái đò dũng cảm tài hoa  <br /> trên sông nước.<br /> Điểm đặc biệt đầu tiên của nhân vật này chính là không có tên gọi cụ  thể  mà tên  <br /> của ông gắn liền với nghề nghiệp, địa danh: "ông lái đò Lai Châu". Điều này thể  hiện, <br /> ông là đại diện cho vẻ  đẹp người lái đò trên sông nước, cần mẫn. Người lái đò là một <br /> ông lão 70 tuổi. Ông đã dành một phần lớn cuộc đời của mình để  lái đò dọc trên Sông  <br /> Đà. Bây giờ ông đã thôi nghề khoảng mười năm." Trên sông ông xuôi ông ngược trên 100  <br /> lần, giữ tau lái chính khoảng 60 lần". Chỉ bằng vài câu ngắn gọn giới thiệu về người lái  <br /> đò, độc giả phần nào đã hình dung ra ngoại hình và tố chất của ông. Đọc tiếp tác phẩm,  <br /> ta có thể thấy được điều đó.<br /> Ông lái đò hiện lên là người khỏe mạnh, từng trải, ngoại hình và tố chất được tạo  <br /> nên bởi nét đặc thù của môi trường lao động là trên sông nước. "Tay ông lêu nghêu như <br /> cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh ra như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng. Giọng  <br /> ông ào ào, nhỡn giới cao vòi vọi". Nguyễn Tuân gọi con người này là "thứ  vàng mười"  <br /> bởi ông đã đứng trước thử  thách và chiến thắng Sông Đà. Trước hết  ở  ông lái đò Lai <br /> Châu là người tài hoa trí dũng, có phong thái ung dung của người nghệ sĩ. Ông tài trí, từng <br /> trải, lão luyện trong nghề, đạt đến trình độ  "lấy mắt mà nhớ  tỉ  mỉ  như  đóng đanh vào  <br /> lòng tất cả  những luồng nước của những con thác hiểm trở". Nguyễn Tuân đã bày tỏ <br /> lòng khâm phục của mình đối với người lái đò bằng cách so sánh, liên tưởng độc đáo <br /> "sông Đà đối với ông lái đò như  một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc cả  dấu <br /> câu chấm than và cả đoạn xuống dòng". Ông thuộc rõ quy luật phục kích của đá, biết rõ  <br /> cửa tử cửa sinh.<br /> Lòng dũng cảm của ông được thể hiện qua ba thạch trận. Vòng một sông Đà hiện  <br /> lên như một kẻ thù nham hiểm xải quyệt, không chỉ sóng gió mênh mang, hút nước, thác  <br /> nước mà còn bầy binh bố  trận "bọt tung trắng xóa cả  một chân trời đá". Đá mai phục  <br /> ngàn năm bày binh bố trận những binh pháp tôn tử. Ở vòng này gồm năm cửa trận, bốn <br /> cửa tử, một cửa sinh chia thành ba tuyến tiền vệ, trung vệ và hậu vệ. Phối hợp với đá và  <br /> thác nước hò la vang dậy làm thanh điệp cho đá. Đá oai phong lẫm liệt tiến lùi thách thức <br /> còn sóng nước như quân liều mạng. Nhưng ông lái đò vẫn giữ chặt mái chèo để khỏi bị <br /> hất tung ra trận địa sóng. Ông cố nén vết thương kẹp chặt cuống lái kiên cường vượt qua <br /> cơn võ chiến. Đến vòng hai, sông Đà lúc này mở ra nhiều cửa tử hơn, chỉ có một cửa sinh <br /> nằm lập lờ phía tả ngạn. Dòng thác hùm beo hồng hộc thế mạnh. Bọn thủy quân cửa ải <br /> xô ra níu thuyền vào cửa tử. Ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên con sông như  cưỡi <br /> trên lưng hổ. Ông nắm chắc bờm sóng, ghì cương lái miết vào cửa sinh. Bốn năm bọn  <br /> thủy quân cứ ào nước xô ra níu thuyền vào cửa tử. Dòng sông như con thú hoang lồng lên <br /> đòi ăn chết con thuyền. Nhưng ông già dằn mặt từng đứa nắm chắc quy luật của thần  <br /> sông thần đá không hề  nao núng, tỉnh táo, sáng tạo   thay đổi chiến thuật chiến thắng  <br /> Sông Đà. Bị thua ông lái đò ở hai vòng trước, trùng vi thứ ba, dòng thác càng trở nên điên  <br /> cuồng dữ dội hơn. Ít cửa ra vào, bên phải bên trái đều là cửa tử, luồng sống ở giữa ngay  <br /> cạnh voi  đá  vọng  về   xong  ông  lái đò   vẫn bình  tĩnh  dũng cảm phóng  thẳng thuyền.  <br /> Thuyền vút vút qua cánh cổng đá để  rồi chiến thắng đi qua.<br /> Không chỉ dũng cảm tài ba, người lái đò yển sông còn mang phong thái nghệ sĩ. Sau  <br /> cuộc vượt thác mọi nguy hiểm như  tan biến "sóng nước xèo xèo tan trong trí nhớ". Họ <br /> lại đốt lửa nướng ống cơm lam bàn chuyện cá anh vũ, cá rồng xanh như không có gì xảy <br /> ra". Mặc dù ngày ngày họ  phải vật lộn đối mặt với hiểm nguy rình rập. Đó là vẻ  đẹp  <br /> của một tâm hồn nghệ sĩ.<br /> Trong xây dựng nhân vật ông lái đò, Nguyễn Tuân chú ý khắc họa nét tài hoa của <br /> nghệ  sĩ "nhân vật phải là người nghệ  sĩ trong nghề  nghiệp". Nhà văn chú ý tạo tình  <br /> huống thử  thách để  nhân vật bộc lộ  bản chất của mình. Sông Đà càng hung bạo bao <br /> nhiêu, người lái đò càng tài hoa dũng cảm bấy nhiêu. Nhà văn am hiểu nhiều ngành nghệ <br /> thuật quân sự, thể thao kết hợp với nghệ thuật miêu tả  so sánh liên tưởng độc đáo qua  <br /> ngôn ngữ  phong phú để  làm nổi bật sông Đà và người lái đò Sông Đà. Tóm lại, thành <br /> công trong xây dựng nhân vật ông lái đò Lai Châu đã trở thành sức hút riêng của tác phẩm  <br /> trong nền văn học nước nhà.<br /> BÀI MẪU SỐ 4:<br /> <br /> <br /> I. MỞ BÀI<br /> Có 2 cách viết mở bài:<br /> Giới thiệu tác giả tác phẩm<br /> Giới thiệu về người lái đò Sông Đà<br /> Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn <br /> Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tuỳ  bút này Nguyễn Tuân tự  coi mình là <br /> người đi tìm cái thứ  vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là cái thứ  vàng <br /> mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với <br /> công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa được vui và vững bền. Chất vàng mười  <br /> của con người ấy chính là người lái đò sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân  <br /> người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình.<br /> II. THÂN BÀI<br /> 1. Lai lịch và ngoại hình người lái đò sông Đà<br /> Khi được tác giả  hỏi chuyện, người lái đò đã 70 tuổi, làm nghề  đò dọc mười năm <br /> liền và đã nghỉ làm nghề đôi chục năm. Nhưng mười năm người lái đò đã in dấu ấn khá  <br /> đậm ở ngoại hình ông lão : Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh <br /> khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước  <br /> trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào  <br /> đó trong sương mù.Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ  để  giới thiệu ngoại  <br /> hình một con người mà còn để  ca ngợi sự  gắn bó, yêu quý nghề   ở  chính người đó.  <br /> Nguyễn Tuân là nhà văn luôn nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói, “hàm lượng <br /> thông tin” ở đó không bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn<br /> 2. Tính cách người lái đò sông Đà<br /> >>> Sự từng trải:<br /> Những nét tả  ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự  là người từng <br /> trải, thành thạo nghề. Chưa đủ, Nguyễn Tuân còn cho biết : người lái đò còn là một linh <br /> hồn muôn thuở của sông nước này; ông làm nghề đò đã mười năm liền, trên sông Đà, ông <br /> xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông giữ  lái độ  sáu chục lần… Sự từng <br /> trải của người lái đò còn thể hiện, dòng sông Đà với bảy mười ba con thác nhưng ông đã <br /> lấy mắt mà nhớ  tỉ  mỉ  như  đóng đinh vào lòng tất cả  những luồng nước của tất cả các  <br /> con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh  <br /> hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả  những cái chấm than chấm câu và cả  những đoạn <br /> xuống dòng. Không phải bỗng dưng mà nhà văn nổi tiếng tài tử  lại đưa vào trang viết <br /> của mình tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò làm nghề. Phải chi li, cụ thể như vậy  <br /> mới thấy hết sự từng trải, gắn bó của với nghề đến độ kỳ lạ ở ông lão lái đò. Đấy cũng  <br /> là cách nhà văn bày tỏ nỗi thán phục của chính mình về một con người như được sinh ra <br /> từ những con sóng, ngọn thác hung dữ ở sông Đà<br /> "Sông Đà đối với ông lái đò ấy như một thiên anh hùng mà ông đã thuộc cả đến dấu <br /> chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng".<br /> >>> Lòng dũng cảm :<br /> Chỉ từng trải thôi chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có  <br /> lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa  <br /> nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà  ở  đó, tất cả  những phẩm chất  ấy  <br /> được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Nhà văn gọi đây là <br /> cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ <br /> chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn  <br /> ra nhiều hồi, nhiều đợt như  một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm  <br /> địa của kẻ thù số một :<br /> … Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả  một chân trời. Đá  ở  đây  <br /> ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất <br /> hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông  <br /> là một số  hòn bèn nhổm cả  dậy để  vồ  lấy thuyền. Mặt hòn đat nào trông cũng ngỗ <br /> ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả  cái mặt nước chỗ  này… Sông Đà đã <br /> giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn <br /> chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc  <br /> không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…<br /> Trong thạch trận  ấy, người lái đò hai tay giữ  mái chèo khỏi bị  hất lên khỏi sóng  <br /> trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước  <br /> bám lấy thuyền như  đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang  <br /> trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như  một vị <br /> chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố <br /> nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng <br /> đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận <br /> thứ  nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ  hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp <br /> của thần sông thần đá. Đến vòng thứ  bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết  <br /> cả, nhưng người lái đã chủ  động “tấn công”: Cứ  phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa <br /> giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở  khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa <br /> trong cùng, thuyền như  một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự <br /> động lái được lượn được. Thế là kết thúc.<br /> Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài  <br /> hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ <br /> là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới  <br /> nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu  <br /> phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái  <br /> đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các <br /> quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.<br /> Song, quy luật  ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình  <br /> tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ  tay, quá đà đều phải trả  giá bằng mạng sống. Mà ngay  ở <br /> những khúc sông không có thác nó dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ như người Mèo kêu <br /> mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm  <br /> nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở <br /> này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn <br /> khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động  <br /> trong sự  phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản <br /> như  chưa từng vượt thác: Sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh <br /> bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ,  <br /> cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá  <br /> rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả  thấy ai bàn thêm một lời nào về  cuộc chiến thắng  <br /> vừa qua nơi  ải nước đủ  tướng dữ  quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau  <br /> khi vắt kiệt sức mình để  thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự  tán dương về  công <br /> sức của mình. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét : Cuộc sống của họ là ngày  <br /> nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ  dội, ngày nào cũng giành lấy sự  sống từ  tay những  <br /> cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ  nghĩ thế, lúc ngừng chèo. <br /> Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dế  thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, người  <br /> lái đò chỉ có Nguyễn Tuân. Và, lời ghi chú của nhà văn thật đáng để suy ngẫm !<br /> III. KẾT BÀI<br /> Nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là nhân vật chính diện luôn <br /> được nhà văn chú ý mô tả   ở  phương diện tài hoa, nghệ  sĩ. Nếu như  trước cách mạng  <br /> tháng Tám 1945, theo Nguyễn Tuân, cái tài hoa chỉ có ở lớp nhà nho trong quá khứ thì nay,  <br /> trong Người lái đò sông Đà và nhiều tác phẩm khác, tác giả đã tìm thấy và khẳng định cái <br /> đẹp  ở  ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân lao động, trong hiện tại của đất  <br /> nước. Cuộc đời của người lái đò vô danh, không tên tuổi, nơi có những ngọn thác hoang  <br /> vu, khuất nẻo kia là cả  một thiên anh hùng ca, một pho nghệ thuật tuyệt vời. Nếu như <br /> thiên nhiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là “kẻ thù số một” của con người,  <br /> thì cũng chính thiên nhiên, qua ngòi bút của nhà văn là nơi đã tôn vinh giá trị  con người  <br /> vào lao động.<br /> <br /> <br />  BÀI MẪU SỐ 5:<br /> <br /> <br /> <br />  Mở bài:<br /> Nguyễn Tuân không chỉ say sưa với vẻ đẹp “trữ tình thơ mộng và rất gợi cảm” của <br /> con sông Đà, mà ông còn hết lời ca ngợi nhân vật người lái đò. Bằng ngôn ngữ  giàu có, <br /> tinh tế  như  khắc, như  chạm, với lối cảm nghĩ độc đáo, thích nhìn sự  vật và con người  <br /> trên quan điểm thẩm mĩ, văn hoá, với sự lịch lãm, vốn hiểu biết uyên bác về nhiều lĩnh <br /> vực khoa học., Nguyễn Tuân qua tuỳ  bút “Người lái đò sông Đà” (In trong tập “Sông <br /> Đà”­   1960),   đã   xây  dựng   được   một   hình  tượng   rất   hấp  dẫn  mang  đậm   phong  cách  <br /> Nguyễn Tuân. Đó là một người lái đò không chỉ  trí dũng tuyệt vời mà còn là một người <br /> nghệ  sĩ rất mực tài hoa trong công việc lao động sông nước, trong nghệ  thuật leo thác  <br /> vượt ghềnh của mình.<br /> Thân bài <br /> Ý1: Lai lịch và chân dung ngoại hình<br /> Bằng hệ thống ngôn ngữ  miêu tả  đầy cá tính, giàu chất tạo hình, bằng lối so sánh  <br /> độc đáo gợi cảm, trước hết Nguyễn Tuân đã làm sống dậy trước mắt người đọc hình <br /> ảnh một ông lái đò có ngoại hình đặc biệt  ấn tượng “Tay ông lêu nghêu như  cái sào.  <br /> Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng. Giọng  <br /> ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông. Nhãn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng  <br /> mong một cái bến xa nào đó trong mù”. Người ta nói rằng làm cái nghề  lái đò trên sông <br /> hiểm ác lắm thác nhiều ghềnh này tổn thọ lắm. Nhưng ông lái đò của Nguyễn Tuân đã <br /> cải chính một cách hùng hồn cái điều ấy bằng hình ảnh một con người đã gần bảy mươi  <br /> tuổi, cái đầu bạc nhưng còn “quắc thước” lắm “đặt trên một thân hình cao to, gọn  <br /> quánh như  chất sừng, chất mun”, “ông giơ  đôi tay còn trẻ  tráng quá” làm cho nhiều <br /> người lầm tưởng là “mình đang đứng trước một chàng trai”…<br /> Đặc điểm ngoại hình đặc sắc ấy tự nó đã nói lên một cách đầy đủ với độc giả: con <br /> người này như được sinh ra từ sóng, thác hung dữ của sông Đà và là “một linh hồn muôn  <br /> thuở  của sông nước này”… “ông làm nghề  chèo đò đã mười lăm năm liền, trên dòng  <br /> sông Đà, ông xuôi ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông đã giữ lái độ sáu chục  <br /> lần…”. Cảnh sông nước lên thác xuống ghềnh nhiều hiểm nguy đã tôi luyện cho ông lái  <br /> đò nhiều giác quan và phẩm chất đặc biệt. Ông đã trở  thành một con người lão luyện,  <br /> lắm từng trải, hiểu biết thành thạo cái nghề sông nước độc đáo của mình: “ Trí nhớ ông  <br /> được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ  tỉ mỉ như đóng đanh vào luồng tất cả  <br /> những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”. Nguyễn Tuân đã dành cho ông <br /> lái đò những câu văn, hình ảnh đầy thán phục “sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một  <br /> trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả  những cái chấm than, chấm câu và  <br /> những đoạn xuống dòng”. Thật là một cách so sánh giàu tính chất nghệ thuật rất mới lạ <br /> hấp dẫn mà cũng rất Nguyễn Tuân. Con người được Nguyễn Tuân giới thiệu như là một  <br /> người được mọc lên từ  “con sông Đà hung dữ  độc ác khét tiếng với bảy mươi hai con  <br /> thác hiểm nghèo” ấy đã có một khả năng kì diệu là chế ngự con sông hung dữ thành một  <br /> môi trường sống thân thuộc, êm dịu của mình. Ông lái đò tâm sự “Chạy thuyền trên khúc  <br /> sông không có thác nó dễ dại tay, dại chân và buồn ngủ như người Mèo kêu mỏi chân khi  <br /> dẫm lên đồng bằng thiếu dốc, thiếu đèo”.<br /> Ý2: Ông lái đò rất mực tài trí, dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy <br /> hiểm nguy.<br /> Nhân vật người lái đò với những đặc điểm ngoại hình và lai lịch có một không hai <br /> ấy, nếu xuất hiện trên khung cảnh sông nước êm đềm, phẳng lặng trong cuộc mưu sinh,  <br /> thì hẳn là không thể gây được một  ấn tượng gì sâu sắc cho người đọc. Ở  đây, Nguyễn <br /> Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho người lái đò xuất hiện trên một hoàn cảnh  <br /> đầy thử  thách khốc  liệt nhằm làm bộc lộ  những phẩm chất cao  đẹp của nhân vật.  <br /> Nguyễn Tuân khẳng định: “Ông muốn ghi  ở  đoạn này cái hình  ảnh chiến đấu gian lao  <br /> của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông  <br /> Đà”. Nguyễn Tuân đã mô tả  một cách chân thật, sinh động, vừa trân trọng, vừa yêu  <br /> thương, vừa cảm phục nhân vật ông lái đò rất hiên ngang, trí dũng trong cuộc chiến đấu  <br /> với những con sóng, con thác đầy hung dữ, nguy hiểm. Cuộc vượt thác, dưới ngòi bút <br /> Nguyễn Tuân diễn ra như một trận đánh dữ  dội có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có <br /> những thử  thách ác liệt khác nhau, dòng sông bày ra những thạch trận hiểm hóc khác  <br /> nhau: “Lúc này, sông Đà reo lên như đun sôi 100º, muốn hắt tung đi cái thuyền đóng vai  <br /> một nắp ấm khổng lồ… Đá ở  đây từ ngàn năm vẫn mai phục trong lòng sông để  vồ lấy  <br /> con thuyền. Đá bày ra thạch trận trên sông với những bom ke chìm và pháo đài nổi. Phối  <br /> hợp với  đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho  đá… phải tiêu diệt tất cả  thuyền  <br /> trưởng, thuỷ thủ ngay ở chân thác”. Kho từ vựng giàu có và vốn kiến thức văn hoá khoa <br /> học phong phú, uyên bác như quân sự, võ thuật, vũ thuật, thể dục, thể thao, điện ảnh…  <br /> của Nguyễn Tuân được dịp huy động để  miêu tả  cuộc thuỷ chiến ác liệt giữa người lái  <br /> đò và sóng, thác sông Đà. “Sóng nước thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng  <br /> đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa  <br /> mình ra giữa trận nước vang trời thanh la, não bạt. Sóng nước đã đánh đến món đòn  <br /> hiểm độc nhất”. Có lúc tưởng như  ông lái đò sẽ  bị  con thuỷ  quái sông Đà vô cùng hung <br /> bạo nuốt chửng. Nhưng ông lái đò vẫn không hề  nao núng, trái lại, vẫn bình tĩnh chủ <br /> động chiến đấu một cách dũng cảm đầy mưu trí như một vị chỉ huy tài trí tuyệt vời, điều  <br /> khiển con thuyền lần lượt vượt qua các thác ghềnh như  “phá cái trận đồ  bát quái của  <br /> dòng sông hung bạo”; “Dòng nước hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà. Nhưng  <br /> người lái đò vẫn cưỡi lên thác đến cùng như  cưỡi hổ”. Cả  những lúc bị  thương “mặt  <br /> méo lệch đi”, mặc cho luồng sóng “đánh đòn âm, đòn tỉa vào chỗ  hiểm”,ông lái đò hai <br /> chân “vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”.<br /> Ý3: Người lái đò tài hoa tuyệt vời<br /> Ông lái đò còn là người tài hoa có phong thái ung dung, pha chút nghệ sĩ. Sóng thác <br /> sông Đà rất khắc nghiệt. Chỉ  cần người lái đò một chút thiếu chính xác, một tích tắc <br /> thiếu bình tĩnh, nhỡ  tay, hoa mắt là có thể  phải trả  giá bằng cả  sinh mệnh của mình. <br /> Nhưng sóng, thác sông Đà dù có hung dữ đến đâu, cũng bị khuất phục trước người lái đò  <br /> thời nay. Bởi người lái đò là một nghệ  sĩ có nghệ  thuật chở  đò rất kì diệu. Nghệ  thuật <br /> ấy được biểu hiện rõ nhất  ở  khả  năng nắm chắc tất cả  các quy luật tất yếu của dòng <br /> sông Đà và nhờ thế mà người lái đò trở thành người tự do, người chiến thắng. Người lái <br /> đò đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá, thuộc lòng các luồng sinh, luồng  <br /> tử  mà chủ  động trong mọi tình huống. “Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi  <br /> của ải nước hiểm trở này”. Lúc thì “Ông cưỡi lên con thác nắm lấy bờm sóng mà phóng  <br /> nhanh qua cửa tử”; lúc lại “ghì cương đè sấn lên mà chặt đôi con thác”; “xuống thác,  <br /> người lái đò sông Đà linh hoạt và luôn luôn cơ  động mà phối hợp đôi mắt, đôi tay, đôi  <br /> chân” lái con thuyền “như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước” xuyên qua biết bao ghềnh <br /> thác hiểm nghèo của dòng sông hung bạo này. Nguyễn Tuân gọi người lái đò của mình <br /> có “tay lái ra hoa” là như vậy.<br /> ­ Thật đẹp biết bao hình ảnh người lái đò sau những phút giây chiến đấu sống còn <br /> với thác nước sông Đà đầy hung ác lại ung dung “ Đốt lửa trong hang đá, nướng  ống  <br /> cơm lam và toàn bàn về  cá dầm xanh, anh vũ…chẳng ai bàn tán thêm một lời nào về  <br /> cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”.<br /> Ý4: Đánh giá về bút pháp của Nguyễn Tuân<br /> Trước kia, Nguyễn Tuân bị xem là nhà văn có quan điểm duy mỹ. Ngày nay, ông đã <br /> hướng ngòi bút của mình đến những con người lao động bình thường. Ông phát hiện ra  <br /> nét tài hoa nghệ sĩ của con người lao động không chỉ thể hiện trong hoạt động sáng tạo  <br /> nghệ  thuật mà còn cả  trong những hoạt động khác. Nếu như  công việc của họ  đạt tới  <br /> trình độ  điêu luyện; ví như  người lái đò cũng đã trở  thành người nghệ  sĩ tài hoa trong  <br /> công việc lao động đầy hiểm nguy nhưng cũng vô cùng cao cả  của mình. Nguyễn Tuân  <br /> gọi đó là “Cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí con người Tây Bắc ”. Cũng qua hình <br /> tượng này, Nguyễn Tuân muốn phát biểu một quan niệm: người anh hùng không phải chỉ <br /> có trong chiến đấu mà còn xuất hiện trong cả cuộc sống lao động bình thường. “Trên bả <br /> vai người lái đò bầm lên một khoanh củ  nâu. Cái đồng tiền tụ  máu  ấy là cái hình  ảnh  <br /> quý giá của một thứ  huân chương lao động siêu hạng tặng cho người lái đò sông Đà ”. <br /> Chỉ  một vết nghề nghiệp của đầu con sào gửi lại đời đời cho người lái đò mà Nguyễn <br /> Tuân đã nâng lên tầm vóc anh hùng ca. Thật là  một ý nghĩ độc đáo rất thú vị mà cũng rất <br /> sâu sắc.<br /> Kết luận:<br /> Qua tuỳ  bút “Người lái đò sông Đà”, độc giả  chúng ta không chỉ thưởng thức một <br /> khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc hung bạo, dữ  dằn nhưng trữ  tình thơ  mộng, mà còn  <br /> được chiêm ngưỡng một hình tượng người lái đò có phong thái ung dung, pha chút nghệ <br /> sĩ song lại rất mực mưu trí dũng cảm trong cuộc vượt thác đầy hiểm nguy. Qua đó, <br /> chúng ta còn được thưởng thức một kho từ  vựng mới mẻ, giàu màu sắc tạo hình, cùng  <br /> lối ví von so sánh mới lạ, tài hoa, bất ngờ, độc đáo của một ông vua tuỳ  bút­ Nguyễn  <br /> Tuân./<br /> BÀI MẪU SỐ 6:<br /> <br /> <br /> Nguyễn Tuân là nhà văn có hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng. Trước <br /> 1945 ông nổi tiếng với các tác phẩm như Vang bóng một thời, Một chuyến đi… sau năm <br /> 1945 ông nổi tiếng với thể loại tùy bút mà tiêu biểu là các tác phẩm: Hà Nội ta đánh Mỹ <br /> giỏi, tùy bút Sông Đà… Người lái đò Sông Đà là tác phẩm trích trong tùy bút Sông Đà  <br /> được   viết   nhân   chuyến   thực   tế   Tây   Bắc   năm   1958.   Tác   phẩm   để   lại   dấu   ấn   sâu <br /> sắc  trong lòng người đọc không chỉ là hình tượng con Sông Đà “hung bạo, trữ tình”  mà <br /> còn là bởi hình tượng người lái đò hiên ngang trên thác dữ – một tay lái ra hoa. <br /> Thế  giới nhân vật trên trang văn của Nguyễn Tuân thật đáng yêu vô cùng. Một cụ <br /> Kép, lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, thấp thoáng giữa vườn lan “nguyện đem cái quãng  <br /> đời xế  chiều của một nhà nho để  phụng sự  hoa thơm cỏ  quý” (Hương Cuội). Một cụ <br /> Ấm thức dậy lúc mờ  sáng, mang phong thái “một triết nhân ngồi tính bước đi của thời <br /> gian”. Trong ấm trà pha ngon, cụ đã “nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lí” (Chén <br /> trà sương). Một Huấn Cao tử tù chân vướng xiềng, cổ mang gông, vung bút viết lên tấm <br /> lụa bạch những chữ như rồng bay phượng múa, thể hiện “những cái hoài bão tung hoành  <br /> của một đời con người” (Chữ  người tử  tù)… Và hình  ảnh ông lái đò người Thái (Tây <br /> Bắc) có “tay lái ra hoa”. Đó là những con người cực kì tài hoa mang cốt cách nghệ  sĩ.  <br /> Trên thác đá đầy đủ tướng dữ quân tợn, những hút nước chết người, những yết hầu chật <br /> hẹp, lạnh lẽo và “sóng xô đá, đá xô gió” bỗng hiên ngang một người lái đò hùng dũng, oai <br /> phong như khắc như chạm. Bước vào cái tuổi 70, đầu tóc bạc trắng, thân hình ông lái đò  <br /> vẫn đẹp như  một pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch. Nước da ánh lên chất sừng chất  <br /> mun. Cánh tay rắn chắc trẻ tráng “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng <br /> khuỳnh khuỳnh như  kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng”. Cặp mắt tinh anh, nhãn lực <br /> nhìn xa vời vợi. Trên ngực của ông nổi lên một số  “củ  nâu” thương tích trên “chiến  <br /> trường Sông Đà” mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ  gọi là “thứ  Huân chương lao động siêu <br /> hạng”. Ông lái đò sông Đà này có “tay lái ra hoa” đã từng vượt qua bao trùng vây thạch  <br /> trận, giao phong sinh tử với “lũ đá nơi ải nước”.<br /> Sau hơn mười năm chèo đò và chỉ huy một con thuyền có 6 mái chèo đã ngược xuôi  <br /> sông Đà trăm chuyến, chở da trâu, xương hổ, chè, cánh kiến về xuôi, ông nắm vững từng <br /> con   thác,   cái   ghềnh,   nắm   chắc   binh   pháp   thần   Sông,   thần   Đá.<br /> Không chỉ  mang vẻ đẹp ngoại hình gắn với lao động sông nước,  ở  ông còn in đậm vẻ <br /> đẹp tâm hồn tính cách:<br /> Thứ  nhất, thể  hiện  ở  sự  từng trải, giàu kinh nghiệm, có sự  hiểu biết sâu sắc về <br /> luồng lạch trên sông Đà. Ông lái đò thể hiện sự hình thành “tính cách” của mình qua “trí  <br /> nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng <br /> tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở . Sông Đà, đối với ông lái <br /> đò  ấy, như  một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả  những cái chấm than <br /> chấm câu và những đọan xuống dòng ”.” Chính vì vậy “ông lái đã nắm chắc được binh <br /> pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá”. Đó chính là hình  <br /> ảnh của một con người gắn bó với lao động, yêu nghề sông nước, từng trải và giàu kinh  <br /> nghiệm.<br /> Thứ hai, ở sự thông minh linh hoạt, dũng cảm  như một viên tướng tài ba, như một <br /> nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác sông Đà. Cuộc sống của người lái đò sông Đà là một  <br /> cuộc chiến đấu hằng ngày. Và ngày nào cũng phải giành   những cái sống từ  tay nhưng <br /> con thác. Vẻ đẹp này được ngòi bút NT thể hiện qua hình ảnh ông lái đò vượt thác: Vẻ <br /> đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò là sự tài ba dũng mãnh của một vị thuyền trưởng dày  <br /> dạn kinh nghiệm thủy chiến. Chất tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò là ở bản lĩnh chiến đấu  <br /> và tinh thần dũng cảm phi thường. Cảnh vượt thác của ông lái đò đã thể hiện rõ vẻ  đẹp <br /> và cốt cách  ấy.  Ở  trùng vây thứ  nhất, ông lái đò xung trận với khí thế  nghênh chiến <br /> quyết thắng: “Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới”. Cảnh hỗn chiến ác <br /> liệt diễn ra. Những hòn đá “bệ vệ oai phong lẫm liệt” được nước thác “reo hò làm thanh  <br /> viện” chúng liều mạng xông vào mà “đá trái” mà “ thúc gối vào bụng và hông thuyền…  <br /> Có lúc chúng đội cả thuyền lên”. Nguy hiểm là vậy nhưng ông lái đò vẫn bình tĩnh “hai  <br /> tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”. Ngay cả lúc bị con thủy quái này đánh miếng  <br /> đòn hiểm nhất “bóp chặt lấy hạ bộ” đau điếng nhưng vị  thuyền trưởng vẫn “ hai chân <br /> vẫn kẹp lấy cuống lái” dù mặt méo bệch vì đau đớn nhưng tiếng chỉ  huy của ông vẫn  <br /> sắc lạnh, tỉnh táo, đưa con thuyền thoát khỏi nguy hiểm.<br /> Thật   là   một   cảnh   tượng   xưa   nay   chưa   từng   có!   Cao   cường   biết   bao   !<br /> Trùng vây thứ  hai lại vô cùng hiểm trở, bố  trí nhiều cửa tử  hơn: “Dòng thác hùm beo <br /> đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Ông lái đò bắt đầu cuộc tấn công bằng cách “nắm  <br /> chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi” ông cho con thuyền “phóng nhanh vào cửa sinh <br /> mà lái miết một đường chéo về  phía cửa đá  ấy”. Bọn tướng đá, đứa thì “ông tránh mà  <br /> rảo bơi chèo lên”, đứa thì bị  “ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để  mở  đường tiến”. Cuối  <br /> cùng ông thắng còn bọn đá tướng thất bại thảm hại đưa cái mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất  <br /> vọng”.<br /> Trùng vây thứ  ba, bên phải bên trái đều là “luồng chết cả”. Đã vậy, còn bố  trí “bọn đá <br /> hậu vệ” canh cửa hòng “bắt chết” cái thuyền. Ông lái đò mưu trí “phóng thẳng con  <br /> thuyền”, “chọc thủng” trùng vây rồi “vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”. Chiếc thuyền  <br /> như một mũi tên tre “vút, vút” xuyên nhanh qua hơi nước. Thế là hết thác. Sông nước lại  <br /> thanh   bình.<br /> Qua đó, ta thấy ông lái đò oai phong lẫm liệt như một vị danh tướng, trí dũng song toàn, <br /> quyết đoán và quyết thắng. Đó là vẻ  đẹp tài hoa nghệ  sĩ của ông lái đò được Nguyễn <br /> Tuân khám phá và ca ngợi. Những  ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được tác giả  sử  dụng sáng  <br /> tạo gợi lên cảm giác mãnh liệt đầy  ấn tượng. Cảnh vượt thác là bài ca chiến trận hào  <br /> hùng. Nguyễn Tuân đã tung ra một đội quân ngôn ngữ  thật hùng hậu, đa dạng, biến  ảo <br /> thần kì với liên tục những phép tu từ  vô cùng sinh động : so sánh ngầm , nhân hóa ,  <br /> cường điệu … Câu chữ  tuôn chảy ào  ạt , điệp điệp trùng trùng tạo ra   một bức tranh <br /> hòanh tráng . Nhà văn đã dụng tâm diễn tả cuộc chiến giữa ông lái đò với dòng sông theo  <br /> hướng thọat đầu tưởng như  không cân sức. Nhưng cuối cùng phần thắng đã thuộc về <br /> con người nhờ  sự thông minh và dũng cảm. Cuộc vượt thác thật ngoạn mục, ông lái đò <br /> thực sự là một người nghệ sĩ tài hoa.<br /> Thứ  ba,  ở  sự  khiêm nhường, bình dị, phong thái ung dung mang cốt cách nghệ  sĩ.<br /> Đối với người lái đò, hiểm nguy trên dòng sông cũng chính là một phần trong cuộc sống  <br /> của ông . Khi vượt qua gian nguy , sóng nước lại tan xèo xèo trong trí nhớ “sông nước lại  <br /> thanh bình . Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá , nướng ống cơm lam , và tòan bàn tán  <br /> về  cá anh vũ , cá dầm xanh … Cũng chẳng thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến  <br /> thắng vừa qua ” . Nhà văn như muốn nghỉ ngơi sau chặng đường dài cùng nhân vật của  <br /> mình đua tranh tài trí với thiên nhiên hung dữ  . So
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2